Thành viên:Tunguyentr/Nháp-Ebbsfleet United F.C.

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới điều hướng Bước tới tìm kiếm
Tranmere Rovers
Tập tin:Tranmere Rovers FC logo.svg
Tên đầy đủCâu lạc bộ bóng đá Tranmere Rovers
Biệt danhSuper White Army, The Rovers, The Whites,
Tên ngắn gọnRovers
Thành lập1884; 137 năm trước (1884) với tên gọi Belmont FC
SânPrenton Park
Sức chứa16.567[1]
Chủ tịch điều hànhMark Palios
Người quản lýMike Jackson[2]
Giải đấuLeague Two
2019-20League One, thứ 21 trên 23 (xuống hạng)
Trang webTrang web của câu lạc bộ
Mùa giải hiện nay

Câu lạc bộ bóng đá Tranmere Rovers là một câu lạc bộ bóng đá đến từ Birkenhead, Merseyside, Anh. Được thành lập vào năm 1884 với tên Câu lạc bộ bóng đá Belmont, đội lấy tên hiện tại vào năm 1885. Họ là thành viên sáng lập của Division Three North vào năm 1921, và là thành viên của Football League cho đến năm 2015, khi bị xuống hạng đến National League, cấp độ 5 của bóng đá Anh. Họ đã trở lại Football League năm 2018 và thăng hạng lên EFL League One năm 2019.

Trong suốt những năm 1980, họ bị bủa vây bởi các vấn đề tài chính và vào năm 1987, đội bắt đầu vào tình trạng bị giám sát. Tuy nhiên, đây là khúc dạo đầu cho thời kỳ thành công nhất trong lịch sử của Tranmere; dưới thời huấn luyện viên John King, đội đã lọt vào vòng play-off để thăng hạng lên Premier League trong ba mùa giải liên tiếp. Dưới sự kế vị của King, John Aldridge, Tranmere đã trải qua một số chuỗi trận cúp, đáng chú ý nhất là lọt vào Chung kết Football League Cup 2000. Các giải cúp khác bao gồm lọt vào tứ kết Cúp FA vào các năm 2000, 2001 và 2004.

Trang phục thông thường của Tranmere là một dải toàn màu trắng với viền màu xanh lam, màu chủ đạo của đội từ năm 1962. Câu lạc bộ chuyển đến sân nhà hiện tại, Prenton Park, vào năm 1912. Năm 1995, sân đã được tái phát triển lớn theo Báo cáo của Taylor. Hiện nó có 16.567 chỗ ngồi trong bốn khán đài: Khán đài chính, the Kop, Khán đài Johnny King và the Cowshed.

Lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

Những năm thành lập[sửa | sửa mã nguồn]

football kit: orange/maroon shirt, blue shorts, blue socks
Trang phục 1889-1904 [3]

Ban đầu, Tranmere Rovers được thành lập với tên gọi Câu lạc bộ bóng đá Belmont khi đội bóng của hai câu lạc bộ cricket - Lyndhurst Wanderers và Belmont - hợp tác vào năm 1884.[4][5] Vào ngày 15 tháng 11 năm 1884, họ thắng trận đầu tiên 4-0 trước Brunswick Rovers. Đây là một trận đấu giao hữu, vì không có giải đấu nào cho đến năm 1888.[5] Dưới sự chủ trì của James McGaul, đội đã có một mùa giải khai mạc thành công, chỉ thua một trong số mười lăm trận đấu của họ. Một đội bóng không liên quan, đã tan rã đã chơi dưới tên "Câu lạc bộ Cricket Tranmere Rovers (phần bóng đá của Hiệp hội)" vào năm 1881-82. Vào ngày 16 tháng 9 năm 1885, trước khi mùa thứ hai của họ bắt đầu, Belmont F.C. lấy tên này là Tranmere Rovers.[4]

Tranmere chơi các trận đầu tiên tại Steeles Field ở Birkenhead.[4] Năm 1887, họ mua Ravenshaws Field từ Tranmere Rugby Club. Năm 1895, sân được đổi tên thành Prenton Park, mặc dù phải 25 năm sau, đội mới chuyển đến sân vận động cùng tên hiện tại.[5] Tranmere mặc áo xanh, quần trắng và tất xanh. Năm 1889, họ sử dụng áo màu cam và hạt dẻ, nhưng đến năm 1904 thì quay lại trang phục cũ.[3]

Năm 1886, Tranmere tham gia giải đấu đầu tiên: Liverpool và District Challenge Cup; năm 1889, họ gia nhậpWest Lancashire League. Họ tham gia Combination, một giải đấu mạnh hơn nhiều, vào năm 1897, và giành chức vô địch năm 1908.[6] Năm 1910, tiếp tục di chuyển qua các giải đấu, đội gia nhập Lancashire Combination và năm 1912, họ thể hiện tham vọng của mình bằng cách chuyển đến địa điểm Prenton Park hiện nay, với khán đài 800 chỗ ngồi.[5] Tranmere vô địch Lancashire Combination Championship năm 1914[7]Stan Rowlands trở thành cầu thủ Tranmere đầu tiên được khoác áo tuyển quốc tế khi được chọn thi đấu cho Wales.[5][8]

Rovers tiếp tục chơi trong suốt Thế chiến thứ nhất, mặc dù các cầu thủ của họ bị chỉ trích vì trốn tránh nghĩa vụ quân sự, bất chấp được làm việc trong các nhà máy đóng tàu địa phương.[5]

Những năm trong chiến tranh[sửa | sửa mã nguồn]

First Football League match in 1921
Trận đấu đầu tiên tại Football League năm 1921[9]
football kit: blue shirt, white shorts, blue socks
Trang phục 1921-37 [3]

Following the expulsion of Leeds City Reserves in 1919, Tranmere were able to enter the Central League. Their timing was excellent as the following season, four Central League clubs - including Tranmere - were invited to join the new Division Three North. On 27 August 1921, as founder members of the division,[10] they won their first Football League match 4-1 against Crewe Alexandra at Prenton Park.[4] At this time the team were managed by Bert Cooke, who did so for 23 years in total, the club record for longest serving manager.[11]

In 1924, local youngster Dixie Dean made his debut aged 16 years 355 days. He played 30 games for Rovers, scoring 27 goals, before being transferred to Everton for £3.000.[4] In the 1927-28 season, Dean scored a record 60 League goals for Everton.[12] After Dean's departure, a string of talented youngsters also left for Division One clubs, leading to Cooke's reputation as a shrewd businessman.[9] Among those sold was Pongo Waring who - having scored six goals in the 11-1 victory over Durham City - went to Aston Villa for £4,700. Waring retains the record of scoring most goals for Villa in a single season.[5]

In 1934, an FA Cup tie between Rovers and Liverpool was watched at Anfield by 61,036 fans, then a record crowd for a game involving Rovers.[4] One year later, Bunny Bell netted 57 goals during the 1933-34 season, and nine goals in the 13-4 Boxing Day 1935 victory over Oldham Athletic.[13] As of 2011, the aggregate of 17 goals in one game remains a league record.[12]

During this same period, Tranmere made several appearances in the Welsh Cup, reaching the Final on two occasions. In 1934, they lost 3-0 to Bristol City in a replay, after a 1-1 draw. The following season, they went one better by beating local rivals Chester 1-0 to win their first silverware since joining the Football League.

Rovers won their first championship in the Football League in 1938 with victory in Division Three North and, hence, promotion to Division Two for the first time.[4][14] It is still Rovers' only championship in the Football League. However, they were relegated the next season winning six matches - the record for the worst performance of any team in Division Two.[15]

Creation of the Superwhites[sửa | sửa mã nguồn]

football kit: white shirt, white shorts, white socks
Trang phục 1962-63 [3]

Prenton Park emerged from the Second World War largely unscathed. Tranmere rejoined the peacetime Football League in Division Three North and stayed there until the 1958 restructuring of the football league's lower divisions. Manager Peter Farrell[11] led Tranmere to finish 11th trong trận chung kết season of the Northern Section, securing a place in the new national Division Three where they were, again, founder members.[16] The final match against Wrexham, also fighting for a place in the higher league, attracted a crowd of 19,615, which remains the highest ever attendance at a Prenton Park league match.[5]

In 1961, Tranmere's inspirational captain Harold Bell left the club. Bell had been picked in the first game after the Second World War in the 1946 season and did not miss a match until he was dropped on 30 August 1955, a total of 459 consecutive appearances for a British team, a record which held until 2011.[17] Rovers certainly missed their captain, and were relegated to Division Four for the first time in 1961.[18]

Biểu đồ thứ hạng hàng năm của Tranmere Rovers ở Football League.

The club brought in Dave Russell as manager who made some revolutionary changes.[11] Tranmere had worn a kit of blue shirts, white shorts and blue socks since 1904 - the same colours as local rivals, Division One club Everton. Russell introduced an all-white strip to set the teams apart; these have been Tranmere's usual colours since.[3] Russell also developed a successful youth policy which included England international Roy McFarland among its graduates.[4] Russell guided Rovers back to Division Three in 1967,[19] a year before a new 4.000-seater main stand was opened, and Rovers reached the Vòng Năm of the FA Cup for the first time.[20] Three years later the club's Kỉ lục số khán giả at Prenton Park was established as 24,424 supporters witnessed Rovers draw 2-2 with Stoke City in the FA Cup.[4]

In 1972, Ron Yeats was installed as player/manager.[11] He strengthened Tranmere's connections with local rivals Liverpool by recruiting several former teammates such as Ian St John, and bringing in Bill Shankly in a consultancy role.[5] This team saw one of the most memorable Rovers results of all time when, in a League Cup tie in 1973, Tranmere beat First Division Arsenal 1-0 at their former Highbury home.[21] However, Tranmere returned to the Fourth Division in 1975.[22] The following decade was among the bleakest times in the club's history, with the team usually in the lower reaches of the Fourth Division, beset by financial problems, and attaining crowds of less than 2.000.[5]

In 1979, Steve Mungall joined Tranmere from Motherwell. He went on to make more than 500 league appearances for Rovers in a 17-year period. This spell saw Rovers rise up the league and make several appearances at Wembley. He remained with the club on the coaching staff before leaving in tháng 10 năm 2000 to pursue business interests.[23]

1980s[sửa | sửa mã nguồn]

football kit: blue shirt, white shorts, blue socks
Trang phục 1981-82 [3]

Another relegation to Division Four in 1979[24] put the club in financial difficulties. Debts mounted throughout the 1980s, with insolvency forestalled through a series of friendly fixtures, contributions from fans and a £200.000 loan from Wirral Council. This partnership proved an enduring one, as Wirral's logo still appeared on the shirts until 2011.[25] In July 1984 the club was sold to a Californian attorney, making Tranmere one of the first English clubs bought by a foreign owner.[26] Nonetheless, in 1987 the club went into administration, with local businessman Peter Johnson taking over control and ownership.[4] This proved to be a turning point in Tranmere's history, the club under his ownership enjoying by far the most successful period in its history, in which manager John King took the team from the bottom of Division Four to the brink of English football's top league.[11] King's first task was to avoid the team finishing bottom of Division Four, which would have resulted in their relegation from the football league. Safety was guaranteed on the last game of the season with a 1-0 home win over Exeter City.[5]

The first full season (1987-88) of King's second managerial spell in charge saw Tranmere make their first appearance at Wembley stadium when a good mid-season run of form saw them qualify for the Football League Centenary Tournament. Tranmere were the surprise stars of the event, beating Division One WimbledonNewcastle United before losing on penalties to eventual winners Nottingham Forest.[27] The following season, King guided Tranmere to promotion as Division Four runners-up.[28] Their final game played to clinch promotion was against Crewe Alexandra, and was notable for the fact that both teams needed a point to gain promotion. The first half was contested as usual, but the second half, with the score at 1-1, both teams failed to attack each other's goals, leading to combined celebrations at the final whistle.

In the same season, they achieved a string of cup successes including beating Division One Middlesbrough.[21] Promotion was almost achieved in their first season in Division Three, losing 2-0 in the Play-off Final to Notts County.,[29] a week after Tranmere's 2-1 victory over Bristol Rovers at Wembley in the final of the Leyland DAF Trophy had clinched the club's first trophy.[30] A key element in Tranmere's success during this period was the form of striker Ian Muir. He joined the club in 1985 and scored 180 goals in eleven seasons. He is the club's record scorer, and the first inductee to their hall of fame.[31] Fellow hall of fame member John Morrissey joined the club in 1986. The winger spent 14 seasons at the club, making 585 appearances.[32]

Wembley years[sửa | sửa mã nguồn]

football kit: white shirt with dark blue stripes, dark blue shorts, white socks
Trang phục 1999-2000 [3]

In the 1990-91 season, Tranmere won promotion to Division Two for the first time since the 1930s, with a 1-0 play-off win over local rivals Bolton Wanderers.[33] Once again, Rovers made an appearance in the Leyland DAF Trophy final, this time losing 3-2 to Birmingham City.[30] This made the play-off victory over Bolton Tranmere's fourth appearance in a Wembley final in just over a year.

Former Liverpool player John Aldridge joined the club in summer of 1991, signing from Spain's Real Sociedad for £250.000; he would remain on the club's payroll for the next 10 years, scoring 170 times to put him behind only Ian Muir in the all-time scoring charts.[4] Aldridge also received 30 caps for the Republic of Ireland, and was the first Tranmere player to score at a World Cup.[34] In 1993, Scotland international Pat Nevin joined the team, forming a four-man attack alongside Aldridge, Malkin and Morrissey.[35] Tranmere reached the play-offs in three successive seasons missing out on promotion to the newly formed Premier League through defeat to Swindon Town in 1993,[36] Leicester City in 1994,[37] and Reading in 1995.[38] 1994 also saw Tranmere progress to the League Cup semi-final, where they faced Aston Villa over two legs. The home leg was won 3-1 by Tranmere, with Villa scoring their only goal in the 94th minute. The away leg was 2-1 to Villa until the 88th minute with Villa finally winning 3-1, so the match went to extra time and penalties. Tranmere were one kick away from the final but Liam O'Brien's sudden death penalty was saved by Mark Bosnich and they eventually lost 5-4. A reconstructed Prenton Park was opened in March 1995, with the all seater stadium now holding just under 17.000 supporters. One year later, John Aldridge was appointed player/manager and held that position for five years;[11] he retired from playing in 1999.

2000 and beyond[sửa | sửa mã nguồn]

football kit: white shirt, shorts and socks, all with a blue trim
Trang phục 2011-2012 [3]

In the 1999-2000 season, despite severe financial constraints, victories over a succession of Premiership sides led not only to a place in the sixth round of the FA Cup[20] but a place in the 2000 Football League Cup Final against Leicester City - the first time Rovers had ever reached a major final. Matt Elliott scored Leicester's opening goal, before Tranmere's Clint Hill was sent off for a second bookable offence. Despite being reduced to ten men, David Kelly equalised; but Elliot soon netted Leicester's second goal and Tranmere lost the match 2-1.[39] It was the last League Cup game to be played at the original Wembley stadium.[5]

In 2000, the all-white kit was reintroduced and is still used in 2014.[3] That season they enjoyed yet another run in Cup competitions beating local Premier League rivals Everton 3-0 at Goodison Park,[40] then Southampton 4-3 (after being 0-3 down),[41] before finally bowing out to Liverpool.[42] They nevertheless struggled in League matches; Aldridge quit before Tranmere's relegation to Division Two ended a spell of ten years in Division One.[43]

Tranmere Rovers v Sheffield United in the 2012-13 season.

Brian Little was appointed as manager in 2003.[11][44] He took Rovers to a play-off semi final in 2004-05 and a best ever 6th round replay in the 2004 FA Cup where they lost to eventual finalists, Millwall. At the end of the 2005-06 season, Little left the club and was replaced by former player Ronnie Moore.[11][45] In Moore's three seasons in charge, the club finished 9th, 11th and 7th, just missing out the play-offs trong trận chung kết season.[46] Despite this, he was sacked in 2009 and replaced by former England winger John Barnes, whose only previous domestic managerial experience was with Celtic 10 years earlier.[11][47] It was whilst Barnes was manager that long serving Kitman, Mark Trevor, ended his 12-year 'Labour of Love' washing the kit of his local team. Having been at the club since 1997, he washed his last kit in tháng 8 năm 2009 ready for the home game with Charlton Athletic.[48] Barnes' reign lasted considerably less, it was a mere five months before long-serving club physiotherapist Les Parry was given temporary charge.[11][49] Rovers finished the season in 19th place in League One, avoiding relegation on the final day of the season thanks to a brace from Paul Campion in a 3-0 victory at Stockport County.[50] In tháng 6 năm 2010, Parry was given the manager's job on a permanent basis.[51] He was sacked on 4 tháng 3 năm 2012, after a 1-0 defeat by Chesterfield left them only one point above the relegation zone,[52] and replaced by Ronnie Moore for the remainder of the season.[53] Moore won six of his thirteen games in charge at the end of the season, guiding Tranmere to a comfortable mid-table position, as they finished the season in the top half for the first time in several years.[54] Moore then signed a new one-year deal with Tranmere, keeping him at the club until the end of the 2012-13 season.[55]

Towards the end of the 2013-14 season, Moore admitted breaking the Football Association's betting rules, and was sacked by Tranmere when the club were just outside the relegation zone.[56] Assistant John McMahon took over as caretaker manager, but Tranmere were relegated to League Two on the final game of the season.[57] Rob Edwards was subsequently appointed as new manager.[58]

On 11 tháng 8 năm 2014, it was announced that former player and Football Association chief executive Mark Palios and his wife Nicola were taking a controlling interest in the club from outgoing chairman Peter Johnson. Mark Palios would become Executive Chairman of the club, with Johnson becoming Honorary President.[59][60]

After a poor start to the season, the home loss to Plymouth Argyle on 11 tháng 10 năm 2014 saw Tranmere in last place in the Football League for the first time since 27 August 1987 after they had lost their first two matches of that season.[61] Edwards was sacked as manager on 13 October.[62] Mickey Adams took over a week later, with the aim of saving the club from relegation to the Conference. However, on 25 tháng 4 năm 2015 Tranmere were relegated from the Football League after another defeat to Plymouth Argyle in the reverse fixture, ending their 94-year stay in the leagues.[63]

Non-league years[sửa | sửa mã nguồn]

Gary Brabin was appointed as manager on 5 tháng 5 năm 2015.[64] It was a season of ups and downs, with home form suffering while away form was much more successful. It took a while for Rovers to adjust to life in the non-league, with erratic form during the season.[65] Tranmere finished sixth, one place outside the play-off zone, in Gary Brabin's first season.

Tranmere started the 2016-17 season brightly, ranking at the top of the table at the end of August, gaining Gary Brabin the manager of the month.[66] Form later dipped which resulted in one goal scored in the next four games, with the 1-0 defeat to Sutton United on BT Sport resulting in Brabin being sacked on 18 tháng 9 năm 2016.[67] Assistant manager, ex-Southport boss Paul Carden took the reins on an interim basis. On 6 tháng 10 năm 2016, former Tranmere player Micky Mellon was appointed permanent manager.[68] His first game in charge was against cross-border rivals Wrexham AFC, and a 2-0 victory for Tranmere.[69] Despite a 2nd-place finish and a club record 95 point haul, this still was not enough to gain automatic promotion back to the league.[70] Tranmere faced Aldershot Town in the playoffs. A goal from James Norwood and a brace from Cole Stockton in the first leg away at the Recreation Ground saw Rovers take a 3-0 lead back to Prenton Park for the second leg, which ended in a 2-2 draw, Norwood and Stockton once again on the scoresheet. This gave Tranmere a 5-2 aggregate win and their first Wembley appearance in 17 years.[71][72] On 14 tháng 5 năm 2017, Tranmere suffered a 3-1 defeat in the National League play-off final at the hands of Forest Green, Connor Jennings with Rovers first goal at Wembley since the 2000 League Cup Final.[73][74]

Tranmere's 2017-18 season got off to a poor start, with 3 wins from the first 12 games. Tranmere slipped to 18th in the league, their lowest ever league position.[75] A spectacular winter turnaround saw Tranmere move into the play-offs, where they would find themselves for the remainder of the season. This turnaround included a record breaking run of 9 consecutive home league wins. This record breaking stint was ended in February by a 4-1 defeat at the hands of eventual title winners Macclesfield Town.[76] Tranmere responded to this defeat by winning 8 out of their next 9 games, finishing the season as National League runners up for the second time in as many years.[cần dẫn nguồn]

A new play-off system was in place for the 2017-18 season, which meant that Tranmere faced a one-legged play-off home semi-final against either 5th or 6th place.[77] It was 6th place Ebbsfleet United that found themselves travelling up to Prenton Park after beating Aldershot Town on penalties.[78] In the semi-final, Tranmere came from behind twice to take the game to extra time, the full-time score being 2-2, James Norwood with the first goal and Burnley loannee Josh Ginnelly with the second. An extra time free kick from James Norwood, followed by a goal from Larnell Cole saw Tranmere run out 4-2 victors after extra time, sending Tranmere to Wembley for the National League play-off final.[79] Boreham Wood stood between Tranmere and a return to the Football League. On 12 tháng 5 năm 2018, a crowd of 16,306 were at Wembley for the final. Tranmere were 2-1 victors, their first trophy in 27 years, and were promoted back to the Football League.[80]

Return to the Football League[sửa | sửa mã nguồn]

Under the chairmanship of Mark Palios and the management of Micky Mellon, Tranmere played in League Two for the 2018-19 season and finished 6th, thereby reaching the playoffs. On 25 tháng 5 năm 2019, Tranmere secured back-to-back promotions, beating Newport County 1-0 at Wembley, with a goal from Connor Jennings in the 119th minute, thus securing their spot in League One for the 2019-20 season.[81]

By tháng 3 năm 2020, the team were within the relegation zone, but with a game in hand on their nearest rivals and on a run of three successive victories. The cancellation of fixtures due to the COVID-19 pandemic meant that the season could not be completed, and a vote was taken by League One clubs on 9 June to resolve promotion and relegation issues on a points per game (PPG) basis. This meant that Tranmere would be relegated to League Two for the 2020/21 season. Club chairman Mark Palios said that the decision was unfair and that he was considering legal action as a result. He also announced that 20 members of staff would have to be made redundant.[82][83]

Colours and crest[sửa | sửa mã nguồn]

Belmont F.C., the forerunners of today's Rovers, wore blue shirts and white shorts, as did the early Rovers, until a radical change in 1889, when a combination of maroon and orange shirts and navy blue shorts was introduced to "dazzle" their opponents in the West Lancashire League.[84] These were abandoned in 1904 in favour of the earlier blue and white colours which have, in some form or other, remained until the present day.[3][84] In 1962, Dave Russell introduced a white strip with blue trim, saying "Tranmere Rovers should have a specific identity of its own, so on Merseyside there's now Liverpool's Red, Everton's blue and Tranmere's white".[84] Since then, the team have worn varying combinations of blue and white, moving back towards a more predominantly white kit in 2000.[3][85] The team's colours are reflected in their nickname of the "Superwhites".[86]

Tranmere first introduced a badge on their shirt in 1962, wearing the coat of arms of the borough of Birkenhead, along with adopting their motto "Ubi fides ibi lux et robur", meaning "Where there is faith there is light and strength".[85][87] The crest was replaced in 1972 by a monogram, and in 1981 by a simplified blue and white shield. In 1987, a complicated and confusing[3] crest was introduced, adapting the Birkenhead crest through the inclusion of a football and a TRFC logo. Today's simpler badge was adopted in 1997,[3] and modified slightly in 2009 to mark the club's 125-year anniversary.[88] The blue and white crest now used incorporates simplified elements of the Birkenhead civic coat of arms: the crosier and lion originally formed part of the Birkenhead Priory seal; the oak tree was a symbol of the Tranmere Local Board; the star or starfish represents Bebington; the two lions represent Oxton; and the crescents may represent the Laird family.[89]

Sân vận động[sửa | sửa mã nguồn]

Prenton Park năm 1986

Rovers played their first matches at Steeles Field in Birkenhead but, in 1887, they bought a new site from Tranmere Rugby Club.[4] The ground was variously referred to as the "Borough Road Enclosure", "Ravenshaw's Field" and "South Road".[90] The name "Prenton Park" was adopted in 1895 as a result of a suggestion in the letters page of the Football Echo.[90] Because the land was required for housing and a school, Tranmere were forced to move and the name went with them. The present Prenton Park was opened on 9 March 1912.[90][91] There were stands (also known as bleachers) on both sides of the pitch, a paddock and three open terraces, the general format which remained until 1994.[92]

Many improvements to the ground were driven by changes in legislation. The biggest change of all took place during 1994 and 1995. The Taylor Report suggested that all stadia in the top two divisions of English football should no longer permit standing. The club's response was to redevelop three sides of the ground with entirely new all-seater stands created - the Borough Road Stand (now the Johnny King Stand), the Cowshed and the new Kop, in addition to the existing Main Stand.[92] Capacity in the ground thus increased from 14.200[90] to the 16,567 of today.[92] On 11 March 1995, the new ground was officially opened at a cost of £3.1 million.[5]

Attendances at the ground have fluctuated over its hundred-year history. Around 8.000 visitors watched the first game at the stadium, as Tranmere beat Lancaster Town 8-0.[93] Prenton Park's largest-ever crowd was 24,424 for a 1972 Cúp FA match between Tranmere and Stoke City.[94] In 2010, an average of 5.000 fans attended each home game.[93]

Cổ động viên và mối kình địch[sửa | sửa mã nguồn]

Tranmere Rovers had an average home attendance of 6,552 during the 2018-19 season, making them the 4th best supported club in League Two and 42nd in The Football League as a whole. The club has a number of supporters' groups, including the Tranmere Rovers Supporters Trust; in 2010, the trust raised £12,500 for the club to sign Andy Robinson on loan.[95] In 2011, they raised £200.000 and plan to purchase a controlling interest in Tranmere.[96] TSB (Tranmere Stanley Boys) is the hooligan firm associated with the club.[97] The club has been the subject of an independent supporters' fanzine Give Us an R since the 1990s.[98]

Despite being geographically closest to EvertonLiverpool, Tranmere's time in the lower leagues has meant that they have rarely met either club and have built up traditional rivalries with near neighbours Chester, WrexhamSouthport, all of whom are now non-league clubs.[99] According to a survey entitled 'The League of Love and Hate' conducted in tháng 8 năm 2019, Tranmere fans listed the more distant Bolton WanderersOldham Athletic as their biggest rivals, followed by Everton, LiverpoolCrewe Alexandra, although the results are debatable as the census does not contain non-league clubs. [100] Tranmere also had a fierce rivalry with Wallasey-based near neighbours New Brighton until the latter club failed to be re-elected to the Football League in 1951.[101]

As of the end of the 2018-19 season, Tranmere had met the following teams most times in the Football League:[102]

Statistics, to end of 2018-19 season
Opponents P W D L W%
Crewe Alexandra &0000000000000118000000118 &000000000000005200000052 &000000000000002600000026 &000000000000004000000040 0&000000000000004410000044,1
Hartlepool United &0000000000000114000000114 &000000000000005100000051 &000000000000002600000026 &000000000000003700000037 0&000000000000004470000044,7
Rochdale &0000000000000108000000108 &000000000000005300000053 &000000000000002100000021 &000000000000003400000034 0&000000000000004910000049,1
Stockport County &0000000000000106000000106 &000000000000004000000040 &000000000000003000000030 &000000000000003600000036 0&000000000000003770000037,7
Halifax Town &0000000000000104000000104 &000000000000004200000042 &000000000000002800000028 &000000000000003400000034 0&000000000000004039999940,4
Wrexham &0000000000000102000000102 &000000000000003800000038 &000000000000002500000025 &000000000000003900000039 0&000000000000003729999937,3
Chesterfield &000000000000009400000094 &000000000000003100000031 &000000000000001900000019 &000000000000004400000044 0&000000000000003300000033,0
Darlington &000000000000008200000082 &000000000000003800000038 &000000000000001300000013 &000000000000003100000031 0&000000000000004629999946,3
Bradford City &000000000000008000000080 &000000000000003400000034 &000000000000001900000019 &000000000000002700000027 0&000000000000004250000042,5
Southport &000000000000008000000080 &000000000000003800000038 &000000000000002200000022 &000000000000002000000020 0&000000000000004750000047,5

Tranmere Rovers Ladies[sửa | sửa mã nguồn]

Tranmere Rovers Ladies Football Club were founded in 1990.[103] Based in the Wirral, they are affiliated with the men's team,[103] and play home games at Villa Park, the home of Ashville F.C. in Wallasey.[104] Between 1996 and 2004 they competed in the FA Premier League National Division,[103][105] then the top tier of the English women's football pyramid. Since 2011, they have played in the North West Regional League, Premier Division.[106] As of the start of the 2011-12 season, they have won the Cheshire Cup a record 11 times.[107]

Cầu thủ[sửa | sửa mã nguồn]

First team squad[sửa | sửa mã nguồn]

Tính đến 11 tháng 6 năm 2020[108]

Ghi chú: Quốc kỳ chỉ đội tuyển quốc gia được xác định rõ trong điều lệ tư cách FIFA. Các cầu thủ có thể giữ hơn một quốc tịch ngoài FIFA.

Số VT Quốc gia Cầu thủ
1 TM Anh Scott Davies (captain)
2 HV Cộng hòa Ireland Lee O'Connor (mượn từ Celtic)
3 HV Anh Liam Ridehalgh
4 HV Anh Sid Nelson
5 HV Anh Mark Ellis
6 HV Cameroon Manny Monthé
7 TV Anh Kieron Morris
8 TV Anh Jay Spearing
9 Anh James Vaughan
10 Anh Morgan Ferrier
11 TV Anh Corey Blackett-Taylor
13 TM Cộng hòa Ireland Joe Murphy
17 TV Anh Otis Khan
Số VT Quốc gia Cầu thủ
18 HV Scotland Calum Macdonald (mượn từ Blackpool)
20 Anh Danny Walker-Rice
21 HV Wales George Ray
22 TV Anh Paul Lewis
23 Anh Stefan Payne
24 HV Anh Kyle Hayde
25 TV Anh George Nugent
26 HV Anh Peter Clarke
27 Anh Jake Burton
28 TV Anh Ollie Banks
39 HV Anh Harrison Musuamba
40 HV Anh Lewis Sinnot
-- TM Anh Ben Jones

Cho mượn[sửa | sửa mã nguồn]

Ghi chú: Quốc kỳ chỉ đội tuyển quốc gia được xác định rõ trong điều lệ tư cách FIFA. Các cầu thủ có thể giữ hơn một quốc tịch ngoài FIFA.

Số VT Quốc gia Cầu thủ

Cựu cầu thủ[sửa | sửa mã nguồn]

As part of the club's 125-year anniversary celebrations in 2010, a hall of fame was announced, initially honouring seven Cựu cầu thủ and managers: Ian Muir, John Aldridge, John King, Ray Mathias, Steve Mungall, John MorrisseyPat Nevin.[109] Harold Bell holds the record for the most consecutive league appearances for a British team. He was picked for the first game after the Second World War in the 1946-47 season and did not miss a match until 30 August 1955, a total of 401 consecutive matches in the Third Division North.[110]

Officials[sửa | sửa mã nguồn]

Ban huấn luyện hiện tại[sửa | sửa mã nguồn]

List of staff
Position Name
Manager Mike Jackson
Trợ lý huấn luyện viên Ian Dawes
Huấn luyện viên thủ môn Iain Turner
Academy Manager Shaun Garnett
Physiotherapist David Spendiff

Managers[sửa | sửa mã nguồn]

As of the start of the 2020-21 season, the club has had 30 managers.[11] The first man to hold this position was Bert Cooke, appointed in 1912.[11] He oversaw the club's entry into the Football League[10] and remained in charge for 23 years, the longest spell of any manager at the club.[11] Major changes were not seen until businessman Dave Russell took over in 1961. His introductions included the team's current all-white kit[3] and regularly arranged floodlit home fixtures on Friday evenings rather than the usual Saturday afternoon.[111] Rock band and Tranmere fans Half Man Half Biscuit described the practice in their song "Friday Night And The Gates Are Low".[112][113]

Tranmere's most successful period came at the end of the twentieth century. John King returned for his third spell at the club in 1987, having previously both played and managed the team.[11] He led them to a victory in the League Trophy,[30] and from the bottom of the Fourth Division to reach the play-offs for promotion to the Premier League on three occasions.[36][37][38] Success continued under King's replacement, John Aldridge, including an appearance in the 2000 Football League Cup Final.[39] From 2009, they were managed by former club physiotherapist, Les Parry,[49] until he was sacked on 4 tháng 3 năm 2012,[52] and replaced by Ronnie Moore.[53] In tháng 2 năm 2014 it was reported that Moore was under investigation by The Football Association, for breaching its rules against betting on competitions in which his club were involved.[114] Three days later, he was suspended,[115] and after admitting the FA's charges he was sacked on 9 tháng 4 năm 2014.[116]

On 27 tháng 5 năm 2014, the club announced that Rob Edwards had been appointed as their new manager.[117] He was sacked on 13 tháng 10 năm 2014.[62] Moving quickly to arrest the decline which had seen Tranmere slump to the bottom of League Two, former Port Vale manager Micky Adams' appointment was announced on 16 tháng 10 năm 2014.[118] He left the club by mutual consent on 19 tháng 4 năm 2015, when the club were bottom of the league with two matches remaining.[119] He was replaced by Gary Brabin, whose contract was in turn ended in tháng 9 năm 2016.[67] Micky Mellon was appointed manager the following month, going on to lead the team to two consecutive play-off final victories in the 2017-18 and 2018-19 seasons and a return to League One. [120] After four years at Tranmere, Mellon moved to Dundee United F.C. on 6 tháng 7 năm 2020.[121]

Recent managers have had varied levels of success:

Managerial statistics, to 16 tháng 6 năm 2020
Manager From To P W D L W% Reference
King, JohnJohn King Lỗi trong Bản mẫu:Dts: months must be an integer between 1 and 12 Lỗi trong Bản mẫu:Dts: months must be an integer between 1 and 12 &0000000000000488000000488 &0000000000000211000000211 &0000000000000129000000129 &0000000000000148000000148 0&000000000000004320000043,2 [122]
Aldridge, JohnJohn Aldridge Lỗi trong Bản mẫu:Dts: months must be an integer between 1 and 12 Lỗi trong Bản mẫu:Dts: months must be an integer between 1 and 12 &0000000000000269000000269 &000000000000009300000093 &000000000000007800000078 &000000000000009800000098 0&000000000000003460000034,6 [123]
Watson, DaveDave Watson Lỗi trong Bản mẫu:Dts: months must be an integer between 1 and 12 Lỗi trong Bản mẫu:Dts: months must be an integer between 1 and 12 &000000000000005500000055 &000000000000002200000022 &000000000000001500000015 &000000000000001800000018 0&000000000000004000000040,0 [124]
Mathias, RayRay Mathias Lỗi trong Bản mẫu:Dts: months must be an integer between 1 and 12 Lỗi trong Bản mẫu:Dts: months must be an integer between 1 and 12 &000000000000006600000066 &000000000000002900000029 &000000000000001800000018 &000000000000001900000019 0&000000000000004389999943,9 [125]
Little, BrianBrian Little Lỗi trong Bản mẫu:Dts: months must be an integer between 1 and 12 Lỗi trong Bản mẫu:Dts: months must be an integer between 1 and 12 &0000000000000147000000147 &000000000000006100000061 &000000000000004300000043 &000000000000004300000043 0&000000000000004150000041,5 [126]
Moore, RonnieRonnie Moore Lỗi trong Bản mẫu:Dts: months must be an integer between 1 and 12 Lỗi trong Bản mẫu:Dts: months must be an integer between 1 and 12 &0000000000000171000000171 &000000000000007100000071 &000000000000004200000042 &000000000000005800000058 0&000000000000004150000041,5 [127]
Barnes, JohnJohn Barnes Lỗi trong Bản mẫu:Dts: months must be an integer between 1 and 12 Lỗi trong Bản mẫu:Dts: months must be an integer between 1 and 12 &000000000000001400000014 &00000000000000030000003 &00000000000000010000001 &000000000000001000000010 0&000000000000002139999921,4 [128]
Parry, LesLes Parry Lỗi trong Bản mẫu:Dts: months must be an integer between 1 and 12 Lỗi trong Bản mẫu:Dts: months must be an integer between 1 and 12 &0000000000000131000000131 &000000000000004000000040 &000000000000003400000034 &000000000000005700000057 0&000000000000003050000030,5 [129]
Moore, RonnieRonnie Moore Lỗi trong Bản mẫu:Dts: months must be an integer between 1 and 12 Lỗi trong Bản mẫu:Dts: months must be an integer between 1 and 12 &0000000000000111000000111 &000000000000004100000041 &000000000000002500000025 &000000000000004500000045 0&000000000000003689999936,9 [127]
Edwards, RobRob Edwards Lỗi trong Bản mẫu:Dts: months must be an integer between 1 and 12 Lỗi trong Bản mẫu:Dts: months must be an integer between 1 and 12 &000000000000001400000014 &00000000000000020000002 &00000000000000040000004 &00000000000000080000008 0&000000000000001430000014,3 [130]
Adams, MickyMicky Adams Lỗi trong Bản mẫu:Dts: months must be an integer between 1 and 12 Lỗi trong Bản mẫu:Dts: months must be an integer between 1 and 12 &000000000000003800000038 &000000000000001000000010 &000000000000001100000011 &000000000000001700000017 0&000000000000002630000026,3 [131]
Brabin, GaryGary Brabin Lỗi trong Bản mẫu:Dts: months must be an integer between 1 and 12 Lỗi trong Bản mẫu:Dts: months must be an integer between 1 and 12 &000000000000006000000060 &000000000000002800000028 &000000000000001500000015 &000000000000001700000017 0&000000000000004670000046,7
Mellon, MickyMicky Mellon Lỗi trong Bản mẫu:Dts: months must be an integer between 1 and 12 Lỗi trong Bản mẫu:Dts: months must be an integer between 1 and 12 &0000000000000198000000198 &000000000000009100000091 &000000000000004500000045 &000000000000006200000062 0&000000000000004600000046,0 [132]

Danh hiệu[sửa | sửa mã nguồn]

Source:[133]

League[sửa | sửa mã nguồn]

Football League First Division (cấp độ 2)

Football League Third Division / Second Division / League One (cấp độ 3)

Football League Third Division North (cấp độ 3)

Football League Fourth Division / League Two (cấp độ 4)

National League (cấp độ 5)

Lancashire Combination

The Combination

Cup[sửa | sửa mã nguồn]

Cúp FA

Welsh Cup

  • Vô địch: 1934-35
  • Á quân: 1933-34

League Cup

League Trophy

Kỉ lục[sửa | sửa mã nguồn]

  • Scoreline:
  • Attendance: 74,313, against Leicester City on 27 tháng 2 năm 2000, in the League Cup final at Wembley Stadium.[133]
  • Home attendance: 24,424, for an FA Cup tie against Stoke City on 5 February 1972.[133]
  • Goals (total): 180, by Ian Muir.[133]
  • Goals (season): 40, by both Bunny Bell (1934-35) and John Aldridge (1991-92).[133]
  • Appearances: 637, by Ray Mathias.[136]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

General
  • Bishop, Peter (1990). The A-Z of Tranmere Rovers. Ellesmere Port: Chester IV Graphics. ASIN B0011SRSOG.
  • Upton, Gilbert (tháng 12 năm 1991). Tranmere Rovers, 1881-1921: A New History. ISBN 978-0-9518648-0-7.
  • Upton, Gilbert; Wilson, Steve (tháng 11 năm 1997). Tranmere Rovers 1921-1997: A Complete Record. ISBN 978-0-9518648-2-1.
  • Bishop, Peter (1 tháng 11 năm 1998). Câu lạc bộ bóng đá Tranmere Rovers. Images of England. Stroud: Tempus. ISBN 978-0-7524-1505-5.
  • Upton, Gilbert; Wilson, Steve; Bishop, Peter (24 tháng 7 năm 2009). Tranmere Rovers: The Complete Record. Breedon. ISBN 978-1-85983-711-5.
Specific
  1. ^ “A Guide to Prenton Park”. Tranmere Rovers. 10 tháng 7 năm 2012. Bản gốc lưu trữ 26 tháng 3 năm 2016. Truy cập 5 tháng 5 năm 2017.
  2. ^ "Mike Jackson appointed first team manager", Tranmere Rovers, 18 tháng 7 năm 2020. Retrieved 18 tháng 7 năm 2020
  3. ^ a ă â b c d đ e ê g h i k l Moor, Dave. “Tranmere Rovers - Historical Football Kits”. Historical Football Kits. Truy cập 7 tháng 12 năm 2011.
  4. ^ a ă â b c d đ e ê g h i “Club History”. Tranmere Rovers F.C. 1 tháng 5 năm 2012. Truy cập 13 tháng 8 năm 2012.
  5. ^ a ă â b c d đ e ê g h i k Bishop, Peter (19 tháng 8 năm 2010). “History”. The Cowsheds. Bản gốc lưu trữ 10 tháng 2 năm 2011. Truy cập 7 tháng 12 năm 2011.
  6. ^ Abbink, Dinant (23 tháng 7 năm 2006). “England - The Combination”. Rec.Sport.Soccer Statistics Foundation. Truy cập 7 tháng 12 năm 2011.
  7. ^ Abbink, Dinant (2 tháng 5 năm 2007). “England - Lancashire Combination”. Rec.Sport.Soccer Statistics Foundation. Truy cập 7 tháng 12 năm 2011.
  8. ^ “Wales 0-2 England”. Welsh Football Data Archive. Truy cập 7 tháng 12 năm 2011.
  9. ^ a ă Bishop (1998).
  10. ^ a ă Felton, Paul; Spencer, Barry (14 tháng 6 năm 2000). “England 1921-22”. Rec.Sport.Soccer Statistics Foundation. Truy cập 7 tháng 12 năm 2011.
  11. ^ a ă â b c d đ e ê g h i k l “Tranmere Rovers Managers Since 1912”. Tranmere Rovers F.C. 1 tháng 4 năm 2012. Truy cập 13 tháng 8 năm 2012.
  12. ^ a ă â “Goals”. The Football League. 3 tháng 8 năm 2008. Bản gốc lưu trữ 29 tháng 9 năm 2012. Truy cập 7 tháng 12 năm 2011.
  13. ^ a ă Tongue, Steve (26 tháng 12 năm 1998). “Football: Festive feats and feasts of goals”. The Independent. Truy cập 7 tháng 12 năm 2011.
  14. ^ Felton, Paul; Edwards, Gareth (8 tháng 10 năm 2000). “England 1937-38”. Rec.Sport.Soccer Statistics Foundation. Truy cập 7 tháng 12 năm 2011.
  15. ^ Felton, Paul; Edwards, Gareth (8 tháng 10 năm 2000). “England 1938-39”. Rec.Sport.Soccer Statistics Foundation. Truy cập 7 tháng 12 năm 2011.
  16. ^ Felton, Paul (22 tháng 7 năm 2001). “England 1957-58”. Rec.Sport.Soccer Statistics Foundation. Truy cập 7 tháng 12 năm 2011.
  17. ^ “Record breaker”. BBC Sport. 6 tháng 12 năm 2005. Truy cập 7 tháng 12 năm 2011.
  18. ^ Felton, Paul. “Season 1960-61”. Rec.Sport.Soccer Statistics Foundation. Truy cập 7 tháng 12 năm 2011.
  19. ^ Felton, Paul. “Season 1966-67”. Rec.Sport.Soccer Statistics Foundation. Truy cập 7 tháng 12 năm 2011.
  20. ^ a ă “The FA Cup Archive”. TheFA.com. Truy cập 13 tháng 8 năm 2012.
  21. ^ a ă Abbink, Dinant (28 tháng 3 năm 2008). “England League Cup Full Results 1960-1996”. Rec.Sport.Soccer Statistics Foundation. Truy cập 7 tháng 12 năm 2011.
  22. ^ Felton, Paul. “Season 1974-75”. Rec.Sport.Soccer Statistics Foundation. Truy cập 7 tháng 12 năm 2011.
  23. ^ “Mungall ends era at Tranmere”. BBC Sport. 26 tháng 10 năm 2000. Truy cập 7 tháng 12 năm 2011.
  24. ^ Felton, Paul. “Season 1978-79”. Rec.Sport.Soccer Statistics Foundation. Truy cập 7 tháng 12 năm 2011.
  25. ^ “Wirral Council renews sponsorship deal with Tranmere Rovers FC”. Wirral Borough Council. 3 tháng 6 năm 2011. Truy cập 7 tháng 12 năm 2011.
  26. ^ Trenholm, Richard. “How a soccer-mad Californian kicked off today's megarich global sports machine”. CNET (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 6 tháng 8 năm 2019.
  27. ^ Isherwood, Glen (18 tháng 9 năm 2006). Wembley: The Complete Record 1923-2000. Sportsbooks. ISBN 978-1-899807-42-0.
  28. ^ Felton, Paul. “Season 1988-89”. Rec.Sport.Soccer Statistics Foundation. Truy cập 7 tháng 12 năm 2011.
  29. ^ Felton, Paul. “Season 1989-90”. Rec.Sport.Soccer Statistics Foundation. Truy cập 7 tháng 12 năm 2011.
  30. ^ a ă â Hicks, Jeremy; Ross, James (15 tháng 4 năm 2010). “The Football League Trophy”. Rec.Sport.Soccer Statistics Foundation. Truy cập 7 tháng 12 năm 2011.
  31. ^ “Ian Muir”. Tranmere Rovers F.C. 1 tháng 5 năm 2012. Truy cập 13 tháng 8 năm 2012.
  32. ^ “John Morrissey”. Tranmere Rovers F.C. 1 tháng 5 năm 2012. Truy cập 13 tháng 8 năm 2012.
  33. ^ Felton, Paul. “Season 1990-91”. Rec.Sport.Soccer Statistics Foundation. Truy cập 7 tháng 12 năm 2011.
  34. ^ “John Aldridge”. Tranmere Rovers F.C. 30 tháng 4 năm 2012. Truy cập 13 tháng 8 năm 2012.
  35. ^ “Pat Nevin”. Tranmere Rovers F.C. 30 tháng 4 năm 2012. Truy cập 13 tháng 8 năm 2012.
  36. ^ a ă Felton, Paul. “Season 1992-93”. Rec.Sport.Soccer Statistics Foundation. Truy cập 7 tháng 12 năm 2011.
  37. ^ a ă Felton, Paul. “Season 1993-94”. Rec.Sport.Soccer Statistics Foundation. Truy cập 7 tháng 12 năm 2011.
  38. ^ a ă Felton, Paul. “Season 1994-95”. Rec.Sport.Soccer Statistics Foundation. Truy cập 7 tháng 12 năm 2011.
  39. ^ a ă Exenberger, Andreas (27 tháng 2 năm 2000). “England League Cup 1999/2000”. Rec.Sport.Soccer Statistics Foundation. Truy cập 7 tháng 12 năm 2011.
  40. ^ “Tranmere shame Everton”. BBC Sport. 27 tháng 1 năm 2001. Truy cập 7 tháng 12 năm 2011.
  41. ^ “Tranmere comeback stuns Saints”. BBC Sport. 20 tháng 2 năm 2001. Truy cập 7 tháng 12 năm 2011.
  42. ^ “Liverpool cling on to beat Tranmere”. BBC Sport. 11 tháng 3 năm 2001. Truy cập 7 tháng 12 năm 2011.
  43. ^ “Aldridge walks out on Rovers”. BBC Sport. 17 tháng 3 năm 2001. Truy cập 7 tháng 12 năm 2011.
  44. ^ “Tranmere appoint Little”. BBC Sport. 12 tháng 10 năm 2003. Truy cập 7 tháng 12 năm 2011.
  45. ^ “Moore appointed as Tranmere boss”. BBC Sport. 9 tháng 6 năm 2006. Truy cập 7 tháng 12 năm 2011.
  46. ^ “League Tables”. The Football League. Truy cập 7 tháng 12 năm 2011.
  47. ^ “Barnes confirmed as Tranmere boss”. BBC Sport. 15 tháng 6 năm 2009. Truy cập 7 tháng 12 năm 2011.
  48. ^ “Trevors final wash and go”. Liverpool Echo. 29 tháng 8 năm 2009. Truy cập 26 tháng 11 năm 2014.
  49. ^ a ă “Tranmere sack Barnes and McAteer”. BBC Sport. 9 tháng 10 năm 2009. Truy cập 7 tháng 12 năm 2011.
  50. ^ “Stockport 0 - 3 Tranmere”. BBC Sport. 8 tháng 5 năm 2010. Truy cập 7 tháng 12 năm 2011.
  51. ^ “One-year deal for Tranmere Rovers boss Les Parry”. BBC Sport. 25 tháng 6 năm 2010. Truy cập 14 tháng 8 năm 2012.
  52. ^ a ă “Tranmere Rovers sack manager Les Parry”. BBC Sport. 4 tháng 3 năm 2012. Truy cập 4 tháng 3 năm 2012.
  53. ^ a ă “Tranmere Rovers reappoint Ronnie Moore as manager”. BBC Sport. 5 tháng 3 năm 2012. Truy cập 14 tháng 8 năm 2012.
  54. ^ “League Tables”. The Football League. Bản gốc lưu trữ 30 tháng 9 năm 2012. Truy cập 19 tháng 8 năm 2012.
  55. ^ “Tranmere boss Ronnie Moore signs new one-year contract”. BBC Sport. 23 tháng 4 năm 2012. Truy cập 21 tháng 5 năm 2012.
  56. ^ “Ronnie Moore: Tranmere Rovers sack manager after betting breach”. BBC Sport. 9 tháng 4 năm 2014. Truy cập 27 tháng 5 năm 2014.
  57. ^ “Tranmere Rovers 1-2 Bradford City”. BBC Sport. 3 tháng 5 năm 2014. Truy cập 27 tháng 5 năm 2014.
  58. ^ “Tranmere Rovers: Rob Edwards appointed as new manager”. BBC Sport. 27 tháng 5 năm 2014. Truy cập 27 tháng 5 năm 2014.
  59. ^ "Mark Palios: Tranmere taken over by ex-FA chief and wife", BBC News, 11 tháng 8 năm 2014. retrieved 11 tháng 8 năm 2014
  60. ^ "Câu lạc bộ bóng đá Tranmere Rovers Delighted To Announce New Owners", TRFC, 11 tháng 8 năm 2014. Retrieved 11 tháng 8 năm 2014
  61. ^ "Football League Division Four /1987/88 /points table", ESPN.co.uk . retrieved 18 tháng 10 năm 2014
  62. ^ a ă “Rob Edwards: Tranmere Rovers sack manager after five months”. BBC Sport. 13 tháng 10 năm 2014. Truy cập 29 tháng 12 năm 2016.
  63. ^ "Plymouth 3-2 Tranmere", BBC Sport, 25 tháng 4 năm 2015. Retrieved 25 tháng 4 năm 2015
  64. ^ "Gary Brabin: Tranmere Rovers appoint new manager", BBC Sport, 5 tháng 5 năm 2015. Retrieved 6 tháng 5 năm 2015
  65. ^ “Tranmere Rovers FC Fixture List”. Truy cập 29 tháng 12 năm 2016.
  66. ^ “Gary Brabin Named Manager Of The Month”. Truy cập 29 tháng 12 năm 2016.
  67. ^ a ă “Club Statement”. Truy cập 29 tháng 12 năm 2016.
  68. ^ "Micky Mellon named Tranmere Rovers manager after Shrewsbury Town departure", BBC Sport, 7 tháng 10 năm 2016. Retrieved 23 tháng 11 năm 2017
  69. ^ "Tranmere Rovers 2-0 Wrexham", BBC Sport, 8 tháng 10 năm 2016. Retrieved 23 tháng 11 năm 2017
  70. ^ "Vanarama National League 2016/17 Standings", Flash Scores, 29 tháng 4 năm 2017. Retrieved 23 tháng 11 năm 2017
  71. ^ "Tranmere Rovers 2-2 Aldershot Town (agg: 5-2)", BBC Sport, 6 tháng 5 năm 2017. Retrieved 23 tháng 11 năm 2017
  72. ^ "Aldershot Town 0-3 Tranmere Rovers", BBC Sport, 3 tháng 5 năm 2017. Retrieved 23 tháng 11 năm 2017
  73. ^ "Tranmere Rovers 1-3 Forest Green Rovers", BBC Sport, 14 tháng 5 năm 2017. Retrieved 23 tháng 11 năm 2017
  74. ^ "GOAL! Connor Jennings With A Superb Strike At Wembley", YouTube, 17 tháng 5 năm 2017. Retrieved 23 tháng 11 năm 2017
  75. ^ “Tranmere Rovers 0-1 Wrexham”. BBC Sport (bằng tiếng Anh). 23 tháng 9 năm 2017. Truy cập 14 tháng 5 năm 2018.
  76. ^ “Tranmere Rovers 1-4 Macclesfield Town”. BBC Sport (bằng tiếng Anh). 20 tháng 2 năm 2018. Truy cập 14 tháng 5 năm 2018.
  77. ^ “National League clubs vote in favour of six-team play-offs at AGM”. BBC Sport (bằng tiếng Anh). 10 tháng 6 năm 2017. Truy cập 14 tháng 5 năm 2018.
  78. ^ “Aldershot Town 1-1 Ebbsfleet United (4-5 pens)”. BBC Sport (bằng tiếng Anh). 2 tháng 5 năm 2018. Truy cập 14 tháng 5 năm 2018.
  79. ^ “Tranmere Rovers 4-2 Ebbsfleet United (aet)”. BBC Sport (bằng tiếng Anh). 5 tháng 5 năm 2018. Truy cập 14 tháng 5 năm 2018.
  80. ^ “Boreham Wood 1-2 Tranmere Rovers”. BBC Sport (bằng tiếng Anh). 12 tháng 5 năm 2018. Truy cập 14 tháng 5 năm 2018.
  81. ^ League Two Playoff Final: Newport 0, Tranmere 1, BBC Sport, 25 tháng 5 năm 2019. Retrieved 25 tháng 5 năm 2019
  82. ^ Mike McGrath and James Ducker, "Tranmere consider legal action against EFL after relegation results in 20 redundancies", Telegraph, 10 tháng 6 năm 2020. Retrieved 12 tháng 6 năm 2020
  83. ^ Josh Fordham, "Tranmere owner Mark Palios ‘white hot with anger’ as League One season ends in relegation, questions why Charlton can fight for survival but they can’t", TalkSport, 10 tháng 6 năm 2020. Retrieved 12 tháng 6 năm 2020
  84. ^ a ă â Bishop (1990). “Colours”. The A-Z of Tranmere Rovers. tr. 10.
  85. ^ a ă “Tranmere Rovers”. The Beautiful History. 2 tháng 6 năm 2011. Truy cập 8 tháng 12 năm 2011.
  86. ^ “Family Football”. Tranmere Rovers F.C. 16 tháng 2 năm 2012. Truy cập 13 tháng 8 năm 2012.
  87. ^ “Cheshire (Pre 1974)”. Civic Heraldry of England and Wales. Truy cập 8 tháng 12 năm 2011.
  88. ^ “New Home Kit Revealed”. Tranmere Rovers F.C. 4 tháng 7 năm 2009. Truy cập 10 tháng 9 năm 2012.
  89. ^ Civic Heraldry: Birkenhead County Borough Council. Retrieved 23 tháng 9 năm 2016
  90. ^ a ă â b Bishop (1990). “Prenton Park”. The A-Z of Tranmere Rovers. tr. 33–34.
  91. ^ Inglis, Simon (6 tháng 4 năm 1987). The Football Grounds of Great Britain (ấn bản 2). London: HarperCollinsWillow. tr. 216–218. ISBN 978-0-00-218249-2.
  92. ^ a ă â “A Guide to Prenton Park”. Tranmere Rovers F.C. 10 tháng 7 năm 2012. Truy cập 13 tháng 8 năm 2012.
  93. ^ a ă Ashton, Stuart (6 tháng 8 năm 2011), “A-Z of Prenton Park: Attendances”, Rovers Review: 54–55
  94. ^ “Prenton Park, Tranmere Rovers FC”. Football Ground Guide. 1 tháng 7 năm 2011. Bản gốc lưu trữ 3 tháng 10 năm 2011. Truy cập 7 tháng 12 năm 2011.
  95. ^ “Les Aid”. Tranmere Rovers Trust. 21 tháng 3 năm 2011. Truy cập 13 tháng 8 năm 2012.
  96. ^ “The Tranmere Rovers Supporters Trust have moved another step forward in their ambitions to take the Wirral club into community ownership”. Liverpool Echo. 27 tháng 10 năm 2011. Truy cập 9 tháng 12 năm 2011.
  97. ^ “Ave-it.net”. Hooligan Firms. Bản gốc lưu trữ 21 tháng 9 năm 2010. Truy cập 9 tháng 12 năm 2011.
  98. ^ “Half pay the Cup price”. The Independent. 4 tháng 2 năm 1996. Truy cập 7 tháng 12 năm 2011.
  99. ^ “2012-13 Football Rivalry Survey Results”. 28 tháng 8 năm 2012. Truy cập 27 tháng 4 năm 2015.
  100. ^ https://www.givemesport.com/1500300-the-top-five-rivals-of-english-footballs-top-92-clubs-revealed
  101. ^ “A History of The Wirral Derby: Tranmere v New Brighton”. planetprentonia.com. 10 tháng 11 năm 2016.
  102. ^ Upton; Wilson; Bishop (2009). “Results Against Other Clubs”. Tranmere Rovers: The Complete Record. tr. 499–501.
  103. ^ a ă â “Ladies History”. Tranmere Rovers Ladies & Girls FC. Bản gốc lưu trữ 25 tháng 4 năm 2012. Truy cập 7 tháng 12 năm 2011.
  104. ^ “The Ground - Ashville F.C.”. Tranmere Rovers Ladies & Girls FC. Truy cập 7 tháng 12 năm 2011.
  105. ^ “FA Women's Premier League - 2003/2004 - National Division”. TheFA.com. 2 tháng 3 năm 2004. Truy cập 7 tháng 12 năm 2011.
  106. ^ “North West Womens Regional League - 2011-2012”. TheFA.com. Truy cập 7 tháng 12 năm 2011.
  107. ^ “Ladies Lift Cheshire Cup”. Tranmere Rovers F.C. 9 tháng 5 năm 2011. Truy cập 10 tháng 9 năm 2012.
  108. ^ “First Team Profiles”. Tranmere Rovers F.C.
  109. ^ “Hall of Fame”. Tranmere Rovers F.C. Truy cập 13 tháng 8 năm 2012.
  110. ^ Sinnott, John (6 tháng 12 năm 2005). “Record breaker”. BBC Sport. Truy cập 7 tháng 12 năm 2011.
  111. ^ Sturgeon, Karl (tháng 12 năm 2009). “Tranmere Rovers 1994”. When Saturday Comes. Truy cập 13 tháng 8 năm 2012.
  112. ^ Bateman, Anthony; Bale, John biên tập (13 tháng 10 năm 2008). Sporting Sounds: Relationships Between Sport and Music (ấn bản 1). Routledge. tr. 187. ISBN 978-0-415-44367-8.
  113. ^ Buckley, Jonathan (30 tháng 10 năm 2003). The Rough Guide to Rock (ấn bản 3). Rough Guides. tr. 461. ISBN 978-1-84353-105-0.
  114. ^ “Ronnie Moore: Tranmere boss under FA betting investigation”. BBC Sport. 14 tháng 2 năm 2014.
  115. ^ Kay, Dan (17 tháng 2 năm 2014). “Tranmere Rovers FC suspend manager Ronnie Moore over alleged betting rule breach”. Liverpool Echo.
  116. ^ “Tranmere sack Ronnie Moore for breaching contract”. The Guardian. 9 tháng 4 năm 2014.
  117. ^ BBC Sport, "Tranmere Rovers appoint Rob Edwards as new manager", 27 tháng 5 năm 2014. Retrieved 27 tháng 5 năm 2014
  118. ^ “Micky Adams: Tranmere Rovers appoint ex-Port Vale manager”. BBC Sport. 16 tháng 10 năm 2014. Truy cập 29 tháng 12 năm 2016.
  119. ^ "Micky Adams leaves Tranmere Rovers by mutual consent". tranmererovers.co.uk
  120. ^ Beesley, Chris (6 tháng 10 năm 2016). 'Exciting project' took me back to Tranmere says new manager Mellon”. Truy cập 29 tháng 12 năm 2016.
  121. ^ "Dundee United: Micky Mellon appointed as manager", BBC News, 6 tháng 7 năm 2020. Retrieved 6 tháng 7 năm 2020
  122. ^ “John King”. Soccerbase. Truy cập 7 tháng 12 năm 2011.
  123. ^ “John Aldridge”. Soccerbase. Truy cập 7 tháng 12 năm 2011.
  124. ^ “Dave Watson”. Soccerbase. Truy cập 7 tháng 12 năm 2011.
  125. ^ “Ray Mathias”. Soccerbase. Truy cập 7 tháng 12 năm 2011.
  126. ^ “Brian Little”. Soccerbase. Truy cập 7 tháng 12 năm 2011.
  127. ^ a ă “Ronnie Moore”. Soccerbase. Truy cập 9 tháng 4 năm 2014.
  128. ^ “John Barnes”. Soccerbase. Truy cập 7 tháng 12 năm 2011.
  129. ^ “Les Parry”. Soccerbase. Truy cập 7 tháng 12 năm 2011.
  130. ^ “Rob Edwards”. Soccerbase. Truy cập 29 tháng 10 năm 2014.
  131. ^ “Micky Adams”. Soccerbase. Truy cập 25 tháng 7 năm 2015.
  132. ^ “Micky Mellon”. Soccerbase. Truy cập 16 tháng 6 năm 2020.
  133. ^ a ă â b c “Honours & Records”. The Cowsheds. 19 tháng 8 năm 2010. Bản gốc lưu trữ 14 tháng 3 năm 2012. Truy cập 7 tháng 12 năm 2011.
  134. ^ “Report: Tranmere Rovers 9-0 Solihull Moors”. Tranmere Rovers FC. Truy cập 8 tháng 4 năm 2017.
  135. ^ Tranmere Rovers club records
  136. ^ Upton, Gilbert; Wilson, Steve (tháng 11 năm 1997). “Players' Data”. Tranmere Rovers 1921-1997: A Complete Record. tr. 101–108. ISBN 978-0-9518648-2-1.

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]

Bản mẫu:Tranmere Rovers F.C. Bản mẫu:Mùa giải Tranmere Rovers F.C.