Sankt-Peterburg

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
(đổi hướng từ St Petersburg)
Bước tới: menu, tìm kiếm


Sankt-Peterburg
Санкт-Петербург (tiếng Nga)
—  Thành phố liên bang  —
Chiều kim đồng hồ từ phía trên bên trái: Nhà thờ Saint Isaac, Peter và Pháo đài Paul trên đảo Zayachy, Quảng trường Cung điện với cột trụ Alexander, Cung điện Mùa đông, Cung điện Petergof và Nevsky Prospekt.

Cờ

Phù hiệu
Tọa độ: 59°57′B 30°18′Đ / 59,95°B 30,3°Đ / 59.950; 30.300Tọa độ: 59°57′B 30°18′Đ / 59,95°B 30,3°Đ / 59.950; 30.300
Địa vị chính trị
Quốc gia Liên bang Nga
Vùng liên bang Tây bắc[1]
Vùng kinh tế Tây Bắc[2]
Thành lập 27 tháng 5, 1703[3]
Thành phố liên bang Ngày lễ 27 tháng 5[4]
Chính quyền (tại thời điểm tháng 3 năm 2010)
 - Thống đốc Georgy Poltavchenko
 - Cơ quan lập pháp Cơ quan lập pháp
Thống kê
Diện tích [5]
 - Tổng cộng 1.439 km2 (555,6 sq mi)
Thứ tự toàn Nga 82nd
Dân số (điều tra 2010)
 - Tổng cộng 4.879.566
 - Hạng 4th
 - Mật độ[6] 3.390,94 /km2 (8.782,5 /sq mi)[Chuyển đổi: Số không hợp lệ]
 - Đô thị 100%
 - Nông thôn 0%
Dân số (2013 est.) 5.028.000 người[7]
Múi giờ
ISO 3166-2 RU-SPE
Biển số xe 78, 98, 178
Ngôn ngữ chính thức tiếng Nga[8]

Sankt-Peterburg (tiếng Nga: Санкт-Петербург; đọc là Xanh Pê-téc-bua, tức là "Thành phố Thánh Phêrô") là một thành phố liên bang của Nga. Nó thành phố lớn thứ hai và cố đô của nước Nga, nằm trên châu thổ sông Neva và trên một hòn đảo cận kề; thông với Vịnh Phần Lan. Từ năm 1924 đến 1991 thành phố mang tên là Leningrad (tiếng Nga: Ленинград).

Dân số theo thống kê của năm 2005 là 4,7 triệu người, còn diện tích là trên 670 kilômét vuông (diện tích tổng thể còn lớn hơn nhiều và là 1.439 kilômét vuông, với gần 5 triệu 550 ngàn dân).

Trải qua nhiều thế kỉ tên của thành phố cũng bị thay đổi nhiều lần, thí dụ Sankt-Peterburg và Sankt Peterburh. Sau khi nổ ra Đệ nhất thế chiến, vào năm 1914 người ta đã đổi tên thành phố thành Petrograd để tránh tên gốc Đức (vì Nga đang giao chiến với Đức). Mười năm sau Petrograd lại đổi thành Leningrad, để tưởng niệm Vladimir Ilyich Lenin – vị lãnh tụ đã mất của nước Nga Xô Viết. Sau khi Liên Xô sụp đổ, thành phố được trả lại tên ban đầu sau một cuộc trưng cầu dân ý.

Đối với người Việt vào đầu thế kỷ 20 thì Sankt-Peterburg được phiên âm là Thành Bỉ Đắc như trong bài "Á Tế Á ca" của Phan Bội Châu.

Lịch sử thành phố[sửa | sửa mã nguồn]

Vấn đề danh dự của Sa hoàng Nga từ các triều đại Romanov là phải tạo đường thủy liên kết với Biển Baltic. Trong vòng hơn 100 năm liên tiếp mà tất cả các đời Sa hoàng đều không đạt được mục tiêu như ý muốn. Phải đến thời Pyotr Đại Đế (Pyotr I) người Nga mới tới được biển Baltic. Nhờ có cuộc chiến tranh phương Bắc, chống lại Thụy Điển trong những năm 17011721 và nhờ chiến thắng trong trận Poltava vào năm 1710, cũng như những thỏa ước hòa bình có lợi tại Nystad, Sa hoàng Pyotr I đã có thể khai thác các miền ven biển.

Giấc mơ lớn nhất của Sa hoàng là xây dựng một thành phố thật qui củ để qua đó chứng tỏ sự hùng hậu của nước Nga. Dự án của công trình này được bắt đầu ngay từ năm 1703 trên Hòn đảo con thỏ giành được từ tay người Thụy Điển (người Viking). Công trình được xây dựng đầu tiên trên đảo là pháo đài SanktPiterburh, ngày nay gọi là Pháo đài Petro-Pavlov, thực hiện theo lệnh của Sa hoàng ngày 16 tháng 5, năm 1703 (là ngày 27 tháng 5 tính theo lịch Gregory). Ngày này được công nhận là "ngày khai sinh" của thành phố. Trên phiến đá kỉ niệm dịp này người ta đã khắc dòng chữ như sau: "Ngày 16 tháng 5, năm 1703, thành phố Sankt-Peterburg đã được Sa hoàng và Hoàng tử Aleksei Petrovich xếp đặt".

Vào năm 1917, thành phố được đổi tên thành Petrograd. Lúc này, triều đại Sa hoàng cuối cùng, Nikolai II, là triều đại rối ren. Chiến tranh với Nhật Bản không được ủng hộ. Chính sự thất bại đã châm ngòi cho những cuộc biểu tình phản đối trên đất nước. Ngày chủ nhật 22/1/1905, quân đội đã nã súng vào đoàn người biểu tình trước Cung điện Mùa đông ở Sankt Peterburg. Khoảng 1000 người biểu tình đã thiệt mạng. Trong đó có cả phụ nữ và trẻ em đã chết. Sự kiện Ngày Chủ nhật đẫm máu đã bị nhân dân toàn thế giới lên án. Các cuộc nổi dậy của nông dân, bãi công, biểu tình, ám sát và binh biến diễn ra liên tiếp, cho đến khi Sa hoàng Nikolai miễn cưỡng chấp nhận yêu sách của những người phản đối. Tháng 10 năm 1905, Sa hoàng Nikolai đã ký một văn kiện hứa đảm bảo quyền tự do ngôn luận và thành lập một hạ viện thông qua bầu cử - viện Duma.

Tình hình vẫn không giảm sau năm 1916, giá thức ăn tăng gấp 4 lần. Đoàn người chờ bánh mì trước Cung điện Mùa đông bắt đầu gây náo loạn. Trong khi đó, quân lính không theo lệnh vua, đứng ra lãnh đạo đoàn người biểu tình. Dân chúng luôn yêu cầu Sa hoàng phải thoái vị. Sau sự kiện Ngày Chủ nhật đẫm máu, không một quốc gia châu Âu nào đồng ý tiếp nhận vị Sa hoàng bị trục xuất này.

Cách mạng tháng Hai đã lật đổ Sa hoàng và chế độ phong kiến, lập nên thể chế dân chủ (tư sản), Chính phủ lâm thời thành lập do Kerensky đứng đầu. Nhưng những người Bolshevik đứng đầu là Vladimir Ilyich Lenin và Lev Trotsky tiếp tục đấu tranh, tổ chức những cuộc nổi dậy lan rộng trên đất nước. Đến ngày 7/11/1917 (theo lịch Julius là tháng 10), cuộc Cách mạng tháng Mười Nga đã thành công, lật đổ Chính phủ Lâm thời và lập ra nhà nước công nông đầu tiên.

Tháng 9 năm 1941, quân Đức bao vây Leningrad (Sankt Peterburg ngày nay). Cuộc chiến kéo dài 872 ngày. Gần một triệu người đã chết vì bom đạn, đói khát và bệnh tật. Khi quân Đức tiến vào thành phố, nhiều người đã trốn thoát. Tuy nhiên gần ba triệu người đã bị bắt.

Không có chất đốt để sưởi ấm và nước để uống, thức ăn không đủ. Trong tình trạng thiếu thốn đó, thịt của động vật nuôi, chuột và chim được sử dụng để nuôi con người. Chỉ tính riêng trong tháng Giêng và tháng Hai, đã có tới 200 nghìn người phải bỏ mạng. Cuối cùng, cuộc phong toả chấm dứt vào ngày 27/1/1944.

Trải qua các thời kỳ Lenin, Stalin, cuối cùng, Liên Xô tan rã thành 15 nước khác nhau. Tên thành phố từ Leningrad đổi thành cái tên ban đầu, là Sankt Peterburg. Nền kinh tế bắt đầu khôi phục lại. Tự do ngôn luận đã tạo một môi trường sôi động cho đời sống xã hội. Các hoạt động tôn giáo và nghệ thuật được phát triển. Du lịch trở thành nền kinh tế chính của thành phố. Các điểm đến du lịch hấp dẫn, như Cung điện mùa đông, Cung điện mùa hè...đẹp tuyệt vời sáng chói giữa phương Bắc lạnh giá của Nga khiến cho thành phố này như một Venice của phương Bắc.

Địa lý[sửa | sửa mã nguồn]

Trung tâm thành phố Saint Petersburg có diện tích 605,8 kilômét vuông (233,9 sq mi). Nếu tính là chủ thể liêng bang thì diện tich của thành phố là 1.439 kilômét vuông (556 sq mi), bao gồm trung tâm Saint Petersburg, 9 thị trấn (Kolpino, Krasnoye Selo, Kronstadt, Lomonosov, Pavlovsk, Petergof, Pushkin, Sestroretsk, Zelenogorsk) – và 21 đô thị khác.

Petersburg nằm trên vùng đất thấp taiga dọc theo bờ biển của vịnh Neva thuộc Vịnh Phần Lan, và các đảo của đồng bằng châu thổ. Đảo Vasilyevsky là đảo lớn nhất (bên cạnh các đảo nhân tạo giữa kênh đào Obvodny và Fontanka, và Kotlin trong vịnh Neva), Petrogradsky, Dekabristov và Krestovsky. Krestovsky cùng với Yelaginđảo Kamenny hầu hết được chuyển thành các công viên. Karelian Isthmus, ở phía bắc thành phố, là khu nghỉ dưỡng đông đúc. Ở phóa nam Saint Petersburg băng qua Baltic-Ladoga Klint và đến cao nguyên Izhora.

Cao độ của Saint Petersburg từ mực nước biển đến điểm cao nhất là 175,9 mét (577 ft) trên đồi Orekhovaya thuộc Duderhof Heights ở phía nam. Phần đất ở phía tây của Liteyny Prospekt không cao hơn 4 mét (13 ft) so với mực nước biển, và thường xuyên bị ngập. Ngập lụt ở Saint Petersburg chủ yếu từ sóng dài của biển Baltic, do chịu sự ảnh hưởng của các điều kiện khí tượng, gió và độ nông của vịnh Neva. Bốn trận lụt lịch sử diễn ra vào năm 1824 (cao 421 xentimét hoặc 166 inch, trong đợt lụt này hơn 300 nhà bị phá hủy[9]), 1924 380 xentimét hoặc 150 inch, 1777 321 xentimét hoặc 126 inch, 1955 293 xentimét hoặc 115 inch, và 1975 281 xentimét hoặc 111 inch. Người ta xây đập Saint Petersburg để ngăn lụt.[10]

Từ thế kỷ 18 địa hình của thành phố được nâng lên do các yếu tố nhân tạo, ở những nơi có độ cao trên 4 mét (13 ft), làm sáp nhập một số đảo, và thay đổi chế độ thủy văn của thành phố. Bên cạnh sông Neva và các phụ lưu của nó, các sông quan trọng khác gồm Sestra, OkhtaIzhora. Hồ lớn nhất là Sestroretsky Razliv nằm ở phía bắc, theo sau là Lakhtinsky Razliv, Suzdal và các hồ nhỏ khác.

Do nằm ở vĩ độ khoảng 60°Bắc, nên độ dài ban ngày ở Petersburg thay đổi theo mùa, từ 5:53 đến 18:50. Trong khoảng thời gian từ giữa tháng 5 đến giữa tháng 7, hoàng hôn có thể kéo dài cả đêm nên được gọi là "đêm trắng".

Khí hậu[sửa | sửa mã nguồn]

Theo phân loại khí hậu của Köppen, Saint Petersburg được xếp vào nhóm khí hậu lục địa ẩm. Chịu sự ảnh hưởng vừa phải của các xoáy từ biển Baltic nên thành phố có khí hậu ấm, ẩm và mùa hè ngắn, mùa đông ẩm ướt, kéo dài.

NHiệt độ trung bình lớn nhất vào tháng 7 là 23 °C (73 °F); nhiệt độ cực điểm là 37,1 °C (98,8 °F) xuất hiện vào mùa hè năm 2010. Nhiệt độ thấp nhất vào mùa đông là −35,9 °C (−32,6 °F) được ghi nhận vào năm 1883. Nhiệt độ trung bình năm là 5,8 °C (42,4 °F). Sông Neva chảy qua thành phố thường bị đóng băng vào tháng 11-12 và tan băng vào tháng 4. Từ tháng 12 đến tháng 3, trung bình có 118 ngày bị phủ tuyết, với bề dày trung bình đạt 19 cm (7,5 in) vào tháng 2.[11] Thời gian không đóng băng trong thành phố kéo dài trung bình 135 ngày. Trung tâm thành phố hơi ấm hơn vùng ngoại ô. Các điều kiện khí hậu khá thay đổi trong cả năm.[12][13]

Lượng giáng thủy trung bình thay đổi tùy nơi trong thành phố, trung bình 660 milimét (26 in)/năm và cao nhất vào cuối hè. Độ âm đất hầu như luôn cao vì độ bốc hơi thấp của khí hậu mát. Độ ẩm tương đối của không khí trung bình 78%, và trung bình có 165 ngày có nhiều mây.



Dân số[sửa | sửa mã nguồn]

Biểu đồ dân số của St. Peterburg

Năm 1976, thành phố bùng nổ với số dân là trên 5 triệu. Năm 2004, St. Peterburg có số dân là khoảng 4 triệu người, giảm đi một triệu. Đa số là người Nga. Dự kiến sẽ giảm trong các năm tới.

Saint Petersburg là thành phố lớn thứ 2 ở Nga. Theo thống kê năm 2010, dân số toàn thành phố là 4.879.566 chiếm 3,4% dân số Nga;[15] với thông kê năm 2002 là 4.661.219 (3,2%)[16] và giảm so với thời kỳ Liên Xô ghi nhận 5.023.506 năm 1989.[17]

Thống kê năm 2010 về thành phần dân cư gồm:[15] người Nga 80,1%, Ukraina 1,3%, Belarus 0,8%, Tatar 0,6%, Armeni 0,6%, Do Thái 0,5%, Uzbek 0,4%, Tajik 0,3%, Azeri 0,3%, Cruzia 0,2%, Moldova 0,2%, Finns 0,1%, nhóm khác – 1,3%. Nhóm chiếm 13,4% còn lại không xác định được.

Kinh tế[sửa | sửa mã nguồn]

Saint Petersburg là trung tâm thương mại, tài chính và công nghiệp của Nga, đặc biệt là thương mại dầu khí, cơ sở đóng tàu, công nghệ vũ trụ, radio và điện tử, phần mềm và máy tính; chế tạo máy, máy móc hạng nặng và giao thông, bao gồm xe tăng và khí tài quân sự, khai thác mỏ, chế tạo thiết bị, luyện kim (sản xuất các hợp kim nhôm), hóa chât, dược phẩm, trang thiết bị y tế, in ấn và xuất bản, thực phẩm, dệt và may mặc, và nhiều ngành thương mại khác. Thành phố cũng là trụ sở chính của Lessner, một trong hai nhà chết tạo ô tô tiên phong của Nga (cùng với Russo-Baltic).[18]

10% tuốc bin điện trên thế giới được sản xuất ở LMZ, nhà máy này sản xuất hơn 2000 tuốc bin cho các nhà máy điện trên khắp thế giới. Các cơ sở công nghiệp lớn gồm Admiralty Shipyard, Baltic Shipyard, LOMO, Kirov Plant, Elektrosila, Izhorskiye Zavody; có trụ sở đặt tại Saint Petersburg là Sovkomflot, Petersburg Fuel CompanySIBUR trong số những công ty lớn khác của Nga và công ty quốc tế khác.

Saint Petersburg có 3 cảng hàng hóa lớn vùng Baltic: cảng Bolshoi-Saint Petersburg, Kronstadt, và Lomonosov. Các công ty tàu-phà quốc tế phục vụ hành khách ở Morskoy Vokzal phía tây nam của đảo Vasilyevsky.

Thành phố có rất nhiều nhà máu chưng cất rượu, sản xuất các loại rượu vodka. Nhà máy lâu đời nhất là LIVIZ (được thành lập năm 1897). Trong số các nhà máy trẻ nhất là Russian Standard Vodka được thành lập ở Moscow năm 1998, và ở St. Petersburg năm 2006 với vốn đầu tư $60 million (trên diện tích 30.000 m2, sản xuất 22.500 chai/giờ). Năm 2007 loại rượu này đã xuất khẩu sang hơn 70 quốc gia.[19]

Năm 2006, ngân sách thành phố là 179,9 tỉ rubles (tương đương 6,651 tỉ UDS tỷ giá năm 2006).[20] Tổng sản phẩm khu vực của chủ thể liên bang năm 2005 là 667,905 tỷ ruble (khoảng 23,611 tỷ USD theo tỷ giá 2005), xếp hạng thứ 4 ở Nga sau Moscow, Tyumen, và tỉnh Moscow,[21] hay 145.503,3 ruble/người (khoảng 5.143,6 USD theo tỉ giá 2005), xếp hạng thứ 12 trong các chủ thể liên bang của Nga,[22] chủ yếu thu từ các nguồn buôn bán, bán lẻ và dịch vụ sửa chữa (24,7%) cũng như công nghiệp chế biến (20,9%) và giao thông, thông tin truyền thông (15,1%).[23]

Thu ngân sách của thành phố năm 2009 là 294,3 tỉ ruble (khoảng 10,044 tỉ USD theo tỉ giá 2009), chi – 336,3 tỉ ruble (khoảng 11,477 tỉ USD theo tỉ giá 2009). Thâm hụt ngân sách lên đến 42 tỉ ruble.[24] (khoảng 1,433 tỉ USD năm 2009)

Giáo dục[sửa | sửa mã nguồn]

Tính đến năm 2006/2007, thành phố có 1024 nhà trẻ, 716 trường công và 80 trường nghề.[25] Trường đại học lớn nhất là Đại học Saint Petersburg, số sinh viên bậc đại học khoảng 32.000; và cơ sở đào tạo đại học tư lớn nhất là Viện quan hệ quốc tế, Kinh tế và Luật St. Petersburg. Các trường đại học nổi tiếng khác gồm Đại học Bách khoa Saint Petersburg, Đại học HerzenĐại học Công nghệ quân sự Saint Petersburg. Tuy nhiên, các trường đại học công lập đều trực thuộc chính thể liêng bang chứ không phải của thành phố.

Chính quyền[sửa | sửa mã nguồn]

Saint Petersburg là một chính thể liêng bang của Nga.[26] Chính trị của Saint Petersburg được quy định tại Charter of Saint Petersburg đã được cơ quan lập pháp của thành phố thông qua năm 1998.[27] Cơ quan điều hành cao là Saint Petersburg City Administration, đứng đầu là thống đốc thành phố (trước năm 1996 là thị trưởng). Saint Petersburg có một cơ quan lập pháp single-chamber, quốc hội lập pháp Saint Petersburg, Quốc hội khu vực.

Hành chính[sửa | sửa mã nguồn]

Thành phố Sankt-Peterburg hiện (2012) được phân chia thành 18 quận (район):

Phân chia hành chính Sankt-Peterburg
  1. Admiralteysky
  2. Frunzensky
  3. Kalininsky
  4. Kirovsky
  5. Kolpinsky
  6. Krasnogvardeysky
  7. Krasnoselsky
  8. Kronshtadtsky
  9. Kurortny
  10. Moskovsky
  11. Nevsky
  12. Petrodvortsovy
  13. Petrogradsky
  14. Primorsky
  15. Pushkinsky
  16. Tsentralny
  17. Vasileostrovsky
  18. Vyborgsky

Du lịch[sửa | sửa mã nguồn]

Trung tâm lịch sử của thành phố Sankt-Peterburg
Welterbe.svg Di sản thế giới UNESCO
Sankt Petersburg Auferstehungskirche 2005 a.jpg
Quốc gia Flag of Russia.svg Nga
Kiểu Văn hóa
Hạng mục i, ii, iv, vi
Tham khảo 540
Vùng UNESCO Europe and North America
Lịch sử công nhận
Công nhận 1990 (kì thứ 14)

Sankt-Peterburg là một trung tâm lớn thứ nhì sau Moskva về kinh tế, văn hóa và khoa học của Nga, nhưng nếu nói về phương diện tham quan du lịch thì nó còn hơn cả Moskva cổ kính. Thành phố còn được gọi là thủ đô phía Bắc của Nga, đã được tổ chức UNESCO thừa nhận là thành phố du lịch hấp dẫn thứ 8 của thế giới. Vào năm 2004 Sankt-Peterburg đã đón nhận 3,4 triệu du khách từ khắp thế giới. Số du khách đến thăm thành phố trong những năm gần đây tăng liên tục. Do thành phố có một hệ thống kênh đào chằng chịt với vô số những chiếc cầu cổ kính ở bên trên nên nó cũng được mệnh danh là Venice của phương Bắc.

Nhờ có vị trí địa lí thuận lợi (59,93 độ vĩ bắc và 30,32 độ kinh đông), thành phố có các ngành công nghiệp phát triển như: đóng tàu (với xưởng đóng tàu nổi tiếng mang tên Baltic); cơ khí (với các xưởng Electrosila, xưởng Kirov); điện kĩ thuật và điện tử; luyện kim và kim loại màu; hóa chất, và nhất là cao su; dệt vải, may mặc; giày da; in ấn; gỗ, giấy; vật liệu xây dựng và thực phẩm.

Pháo đài Petro-Pavlov. Ở giữa là tháp mạ vàng của Tu viện Petro-Pavlov
Sông Neva được gọi là "phố chính" của Sankt-Peterburg.

Sankt-Peterburg còn là một đầu mối giao thông lớn về đường sắt và đường bộ và là một trong những cảng biển lớn nhất của Nga. Đây cũng là căn cứ chính của hải quân Nga (Hạm đội Baltic). Cảng sông được các tuyến đường thủy nối liền với các biển Bạch Hải, biển Azov, biển Caspibiển Đen. Thành phố cũng có một phi trường quốc tế: Sân bay Pulkovo

Do thành phố này nằm ở vị trí rất xa về phương Bắc nên nó còn nổi tiếng với hiện tượng các đêm trắng, là các đêm sáng như trăng rằm mà không hề có trăng. Do sự khúc xạ ánh sáng Mặt Trời từ phía bên kia Địa cầu đang là "ban ngày", vượt qua miền Cực Bắc để tỏa sáng xuống thành phố. Đôi khi cũng có thể trông thấy hiện tượng cực quang.

Thành phố có 41 trường đại học, trong đó có trường tổng hợp, trên 170 viện nghiên cứu khoa học, trên 2.000 thư viện (trong đó có Thư viện mang tên Mikhain Jevgraphovic Saltikov-Shchedrin), đài quan sát thiên văn Pulkovo, Nhà hát Maria, trong những năm 19201992 là Nhà hát Nhạc kịch Opera và Ballet mang tên Sergey Kirov. Ở đây cũng có phòng hòa nhạc vốn nổi tiếng trên thế giới, được thành lập từ năm 1862. Sankt-Petersburg cũng là một trong những trung tâm bảo tàng trọng yếu của châu Âu, tài nguyên này thuộc về Bảo tàng Ermitage và Bảo tàng Nga. Kề liền với thành phố có những địa danh du lịch – tĩnh dưỡng như khu Pushkin, Petrostation, Pavlovsk, Zielonogorsk, Siestrorieck hoặc là Gatchina.

Giao thông[sửa | sửa mã nguồn]

Saint Petersburg là một trung tâm giao thông chính. Tuyến đường sắt đầu tiên của Nga được xây dựng ở đây vào năm 1837, và kể từ đó cơ sở hạ tầng giao thông của thành phố đã tiếp tục phát triển và bắt kịp với sự phát triển của thành phố. Petersburg có một hệ thống rộng lớn của các đường địa phương và các dịch vụ đường sắt, duy trì hệ thống giao thông công cộng lớn bao gồm các đường xe điện ở Saint PetersburgSaint Petersburg Metro, và là nơi có một số dịch vụ ven sông chuyển tải hành khách xung quanh thành phố một cách hiệu quả và tương đối thoải mái.

Thành phố được kết nối với phần còn lại của Nga và thế giới bởi một số đường cao tốc liên bang và tuyến đường sắt quốc gia và quốc tế. Sân bay Pulkovo phục vụ phần lớn các hành khách hàng không khởi hành từ hoặc tới thành phố.

Hình ảnh[sửa | sửa mã nguồn]

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Президент Российской Федерации. Указ №849 от 13 мая 2000 г. «О полномочном представителе Президента Российской Федерации в федеральном округе». Вступил в силу 13 мая 2000 г. Опубликован: "Собрание законодательства РФ", №20, ст. 2112, 15 мая 2000 г. (President of the Russian Federation. Sắc lệnh #849 of 13-5-2000 Về đại diện toàn quyền của Tổng thống Liên bang Nga tại Vùng liên bang. Có hiệu lực từ  13-5-2000.).
  2. ^ Госстандарт Российской Федерации. №ОК 024-95 27 декабря 1995 г. «Общероссийский классификатор экономических регионов. 2. Экономические районы», в ред. Изменения №5/2001 ОКЭР. (Gosstandart của Liên bang Nga. #OK 024-95 27-12-1995 Phân loại toàn Nga về các vùng kinh tế. 2. Các vùng kinh tế, as amended by the Sửa đổi #5/2001 OKER. ).
  3. ^ Official website of St. Petersburg. St. Petersburg in Figures
  4. ^ Законодательное Собрание Санкт-Петербурга. Закон №555-75 от 26 октября 2005 г. «О праздниках и памятных датах в Санкт-Петербурге», в ред. Закона №541-112 от 6 ноября 2008 г. (Legislative Assembly of Saint Petersburg. Law #555-75 of October 26, 2005 On Holidays and Memorial Dates in Saint Petersburg. ).
  5. ^ Official website of St. Petersburg. Петербург в цифрах (St. Petersburg in Figures) (tiếng Nga)
  6. ^ Giá trị mật độ được tính bằng cách chia dân số theo điều tra năm 2010 cho diện tích chỉ ra trong mục "Diện tích". Lưu ý rằng giá trị này có thể không chính xác do diện tích ghi tại đây không nhất thiết phải được diều tra cùng một năm với điều tra dân số.
  7. ^ Rosstat. Оценка численности постоянного населения на 1 января 2013 г. (tiếng Nga)
  8. ^ Ngôn ngữ chính thức trên toàn lãnh thổ Nga theo Điều 68.1 Hiến pháp Nga.
  9. ^ The level of flooding is measured near Saint Petersburg Mining Institute, which is normally 11 xentimét (4,3 in) a.s.l.
  10. ^ Нежиховский Р. А. Река Нева и Невская губа, Leningrad: Гидрометеоиздат, 1981.
  11. ^ a ă “Pogoda.ru.net” (bằng Russian). Weather and Climate (Погода и климат). Truy cập ngày 29 tháng 3 năm 2013. 
  12. ^ “Climate St. Peterburg - Historical weather records”. Tutiempo.net. Truy cập ngày 16 tháng 11 năm 2012. 
  13. ^ “Архив погоды в Санкт-Петербурге, Санкт-Петербург”. Rp5.ru. Truy cập ngày 16 tháng 11 năm 2012. 
  14. ^ “Climatological Information for St.Petersburg, Russia”. Hong Kong Observatory. Truy cập ngày 29 tháng 3 năm 2013. 
  15. ^ a ă Федеральная служба государственной статистики (Cục Thống kê quốc gia Liên bang Nga) (2011). Предварительные итоги Всероссийской переписи населения 2010 года (Kết quả sơ bộ Điều tra dân số toàn Nga năm 2010)”. Всероссийская перепись населения 2010 года (Điều tra dân số toàn Nga năm 2010) (bằng tiếng Nga). Cục Thống kê quốc gia Liên bang Nga. Truy cập 250-042011. 
  16. ^ Федеральная служба государственной статистики (Cục Thống kê quốc gia Liên bang Nga) (21 tháng 5 năm 2004). Численность населения России, субъектов Российской Федерации в составе федеральных округов, районов, городских поселений, сельских населённых пунктов – районных центров и сельских населённых пунктов с населением 3 тысячи и более человек (Dân số Nga, các chủ thể Liên bang Nga trong thành phần các vùng liên bang, các huyện, các điểm dân cư đô thị, các điểm dân cư nông thôn—các trung tâm huyện và các điểm dân cư nông thôn với dân số từ 3 nghìn người trở lên)”. Всероссийская перепись населения 2002 года (Điều tra dân số toàn Nga năm 2002) (bằng tiếng Nga). Cục Thống kê quốc gia Liên bang Nga. Truy cập ngày 23 tháng 3 năm 2010. 
  17. ^ Всесоюзная перепись населения 1989 г. Численность наличного населения союзных и автономных республик, автономных областей и округов, краёв, областей, районов, городских поселений и сёл-райцентров. (Điều tra dân số toàn liên bang năm 1989. Dân số hiện tại của liên bang và các cộng hòa tự trị, tỉnh và vùng tự trị, krai, tỉnh, huyện, các điểm dân cư đô thị, và các làng trung tâm huyện.)”. Всесоюзная перепись населения 1989 года (Điều tra dân số toàn liên bang năm 1989) (bằng tiếng Nga). Demoscope Weekly (website của Viện Nhân khẩu học Đại học Quốc gia—Trường Kinh tế. 1989. Truy cập ngày 23 tháng 3 năm 2010. 
  18. ^ G.N. Georgano Cars: Early and Vintage, 1886–1930. (London: Grange-Universal, 1985)
  19. ^ Russian Standard Vodka Ranked 4th Fastest Growing Premium Spirits Brand Worldwide Impact, 2007.
  20. ^ “Budget of Saint Petersburg (Russian document)”. City of Saint Petersburg. 
  21. ^ “Валовой региональный продукт по субъектам Российской Федерации в 1998–2005гг. (в текущих основных ценах; млн.рублей)”. Gks.ru. Truy cập ngày 22 tháng 10 năm 2009. 
  22. ^ “Валовой региональный продукт на душу населения (в текущих основных ценах; рублей)”. Gks.ru. Truy cập ngày 22 tháng 10 năm 2009. 
  23. ^ “Отраслевая структура ВРП по видам экономической деятельности (по ОКВЭД) за 2005 год”. Gks.ru. Truy cập ngày 22 tháng 10 năm 2009. 
  24. ^ Data of the Government of Saint-Petersburg
  25. ^ “ОТЧЕТ за 2006/2007 учебный год”. Truy cập ngày 1 tháng 1 năm 2009. 
  26. ^ “The Constitution of the Russian federation”. Constitution.ru. Truy cập ngày 22 tháng 10 năm 2009. 
  27. ^ “Russian source: Charter of Saint Petersburg City”. Gov.spb.ru. Truy cập ngày 22 tháng 10 năm 2009. 

Đọc thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]