Đào (họ)

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm

Họ Đào (chữ Hán:陶, bính âm: tao) là một trong những họ của người Việt Nam, Triều TiênTrung Quốc.

Việt Nam[sửa | sửa mã nguồn]

Nguồn gốc[sửa | sửa mã nguồn]

Có thể nói rằng có rất ít tài liệu nào cho thấy gốc tích của dòng họ Đào ở Việt Nam, kể các trong các gia phả của các chi họ Đào lớn như ở Tĩnh Gia - Thanh Hóa, Đông Anh - Hà Nội, Thường Tín - Hà Tây, Hương SơnĐức Thọ - Hà Tĩnh, Giao Thủy - Nam Định, Khoái Châu - Hưng Yên... Mối quan hệ của dòng họ Đào ở Việt Nam với dòng họ Đào ở Trung Quốc cũng chưa được làm sáng tỏ. Theo một số tài liệu thì họ Đào được phát tích từ thời Hùng vương thứ 6, hiện nay thần phả, thần tích cũng như bia đá tại đền Thượng khu di tích đền Hùng vẫn còn ghi công tổ tiên họ Đào đã từng là Đại tướng quân đánh giặc Ân. Trải qua hàng nghìn năm lịch sử, dòng họ Đào sản sinh ra có hàng trăm danh nhân tướng sĩ có công lao với nước được ghi vào sử sách và được người dân tôn thờ là Thành hoàng trong các làng quê Việt Nam.[1]

Các dòng họ Đào ở Việt Nam[sửa | sửa mã nguồn]

Các chi họ Đào Việt Nam có số người không nhiều.[2]

  • Dòng họ Đào tại thôn Thụ ích - Xã Liên Châu - Huyện Yên Lạc - Tỉnh Vĩnh Phúc là một dòng họ có truyền thống lâu đời gắn liền với tên tuổi Tiến sĩ Đào Sùng Nhạc, người đã được vinh danh trong văn bia Quốc Tử Giám, điểm đặc biệt nơi đây đó là gần như cả thôn đều mang họ Đào, đã có nhiều thành viên trong họ thành đạt và có địa vị ngoài xã hội.
  • Dòng họ Đào Bá xuất hiện ở thôn Tế Sơn, xã Đồng Lạc, huyện Chí Linh, tỉnh Hải Dương cách đây trên 300 năm. Biểu tượng của dòng họ là ngôi nhà thờ khá khang trang được xây dựng từ năm 1938, uy nghi toạ lạc trên khu đết đến gần 3.000 mét vuông ở giữa làng. Trong nhà thờ lưu giữ gia phả của dòng họ. Trong đó có nhiều thông tin quý giá về nguồn gốc, lịch sử phát triển...theo thứ tự và niên biểu của từng Ngành, từng Chi trong dòng họ để lưu truyền cho cảc thế hệ sau. Do những biến động của lịch sử và xã hội, cộng với sự kém cỏi về nhận thức và thiếu tinh thần trách niệm của một số con cháu trong thời điểm những năm 60 ở thế kỷ trước nên nhà thờ và gia phả của dòng họ ̣Đào Bá đã bị hủy hoại. Tuy nhiên, người trong họ vẫn giữ lại được hai tấm bia đá do tổ tiên để lại. Bia 1 được khắc vào năm Đinh sửu, đời vua Tự Đức (tức năm 1877 dương lịch). Ở đó các Cụ đã khắc ghi tóm lược gia phả của dòng họ từ đời thứ nhất đến đời thứ 7. Đến năm Bảo Đại thứ 2 (tức tức năm 1926 Dương lịch) lại cho khắc tấm bia 2, bổ xung tóm tắt gia phả từ đời thứ 7 đến đời thứ 10.[cần dẫn nguồn]
  • Dòng họ Đào ở huyện Thường Tín, Hà Nội
  • Dòng họ Đào ở Ô Mễ, Tân Phong, huyện Vũ Thư - Thái Bình.
  • Dòng họ Đào ở xã Đồng Minh, huyện Vĩnh Bảo - Hải Phòng.
  • Dòng họ Đào Bá ở xã Thuận Thiên huyện Kiến Thụy- Hải Phòng(đến nay đã có khoảng 300 năm với khoảng 16 đời)
  • Dòng họ Đào ở Cổ Am, huyện Vĩnh Bảo - Hải Phòng.
  • Dòng họ Đào ở thôn Đại Nỗ, xã Hùng Tiến, huyện Vĩnh Bảo - Hải Phòng.
  • Dòng họ Đào Duy ở Cổ-Loa, Đông Anh - Hà Nội xuất xứ từ vùng Phong Châu (Văn Lang cũ) sau di chuyển về Cổ Loa dưới thời Âu Lạc (An Dương Vương - TK thứ 3 trước CN) [cần dẫn nguồn].
  • Dòng họ Đào Duy ở Tĩnh Gia -Thanh Hóa (một nhánh của họ Đào Duy Phong-Châu)[cần dẫn nguồn] gắn liền với tên tuổi của danh nhân Đào Duy Từ, nhà quân sự và chính trị kiệt xuất của Việt Nam thời kì Trịnh - Nguyễn phân tranh.
  • Dòng họ Đào ở Hưng Yên (về sau nhiều gia đình họ Đào ở đây có chuyển lên Hà nội, Gia Lâm, Bắc Ninh)(nguồn: Đào Đăng Vỹ - tác giả cuốn Pháp Việt từ điển).

Ở xã Đại Hưng (Đại Quan) - huyện Khoái Châu đặc biệt nhất ở Hưng Yên khi hầu như cả xã toàn là dòng họ Đào, các dòng họ khác rất ít. Đông nhất là các dòng họ Đào Văn, Đào Duy, Đào Quang, Đào Đắc,...Các dòng họ Đào ở đây vẫn duy trì được những phong tục, tập quán truyền thống của dòng họ, việc họp họ luôn được thành viên trong họ quan tâm. Mùng 4 hoặc mồng 6 Tết Nguyên Đán hàng năm là ngày quan trọng của các dòng họ khi đây là thời gian các con cháu của dòng họ Đào trở về đoàn tụ.

  • Họ Đào (Đào Văn, Đào Đức, Đào Đình) ở Bắc Ninh: 1. Thôn Cổ Miếu - xã Phật tích - huyện Tiên Du - Bắc Ninh; 2.....
  • Tại Cửu cao - Văn giang - Hưng Yên có dòng họ Đào có nguồn gốc lâu đời (Dòng họ Đào Quang...)
  • Dòng họ Đào (dòng họ Đào Văn...) ở Đức Dũng - Đức Thọ - Hà Tĩnh sống ở đây đã nhiều đời nhưng không rõ nguồn gốc xuất xứ từ đâu ?
  • Dòng họ Đào Hữu, Đào Duy ở xã Sơn Bằng, huyện Hương Sơn, tỉnh Hà Tĩnh.
  • Dòng họ Đào Duy ở Tân Lập-Vũ Thư-Thái Bình
  • Ở tại làng Thủ Lệ, Ngọc Khánh, Ba Đình hiện nay vẫn còn một ngôi từ đường thờ Thuỷ tổ của dòng họ Đào. Theo những người già trong họ, họ Đào làng Thủ Lệ cũng là một nhánh của họ Đào Thanh Hoá.
  • Ở xã Cao viên-Thanh Oai - Hà Nội họ Đào có đã từ lâu đời gồm ba chi có phả hệ 17 đời (Đào Duy,...Đào Công..Đào Huy..., Đào Văn...). Dòng họ Đào ở xã Cao viên - Thanh Oai - Hà Nội là con cháu của Đương Quận Công Đào Quang Nhiêu (1601-1672)
  • Dòng họ Đào Bá ở xóm nam, thôn Lưu Khuê, Liên Hòa, Yên Hưng, Quảng Ninh với ông tổ là Đào Bá Lệ [3] là thành hoàng làng và được thờ trong đình làng Lưu Khuê
  • Hiện nay tại phường Đồng mai, Hà Đông, Hà Nội họ ĐÀO đã có từ nhiều đời nay có 4 chi lớn của Đào Huy.
  • Dòng Họ Đào Tự tại Thượng Mạo - Phú Lương, Hà Đông, Hà Nội là một họ khá nổi tiếng học giỏi (Đào Tự Qúy) và có truyền thống hiếu học.
  • Dòng Họ Đào tại Vũ Đông,TP.Thái Bình, Tỉnh Thài Bình. Ngày trước có tên là làng Đông Trì, Vũ Đông, Kiến Xương, Thái Bình.Tại đây có giữ 1 số Tài Liệu liên quan về dòng Họ Đào khu vực sông hồng và Miền Bắc.
  • Dòng họ Đào tại xã Hợp Thành, xã An Sơn,huyện Thủy Nguyên, Hải Phòng.
  • Dòng họ Đào tại làng Cao Mại Đoài, Quang Trung, Kiến Xương Thái Bình là một dòng họ có đến 70 đời.
  • Dòng họ Đào Đức tại thôn Đan Loan, xã Nhân Quyền, huyện Bình Giang, tỉnh Hải Dương. Dòng họ Đào Đức hiện nay có nhà thờ tổ của dòng họ tại quê nhà. Nghề tổ của dòng họ là nghề nhuộm, hiện nay còn đền thờ tổ nghề tại phố Hàng Đào, Hoàn Kiếm, Hà Nội.
  • Dòng họ Đào tại Huyện Hải Hậu tỉnh Nam Định, theo gia phả của dòng họ thì nhánh họ Đào Xuân tại Hải Hậu có nhánh từ con cháu cụ Đào Sư Tích.
  • Dòng họ Đào (Công, Quang,Duy, Ngọc) tại xã Cẩm Đình, Huyện Phúc Thọ - Hà Nội, dòng họ Đào ở đây đã tồn tại được khoảng 18 đời, hàng năm họp họ vào ngày 20 tháng 12 âm lịch.Dòng họ Đào (Công, Quang, Ngọc, Duy)di cư từ Thanh hóa ra Ha Nội từ rất lâu. Họ gốc chính là Đào Duy tại Tĩnh Gia Thanh Hóa.
  • Dòng họ Đào Khả tại Dân Lý - Triệu Sơn - Thanh Hóa.
  • Dòng họ Đào tại Đông Hưng - Thái Bình.
  • Dòng họ Đào tại xã Trung Thành - Huyện Vụ Bản - Tỉnh Nam Định
  • Dòng họ Đào (Khắc) tại xã Nguyễn Huệ - Huyện Đông Triều - Tỉnh Quảng Ninh đã tồn tại được khoảng 11 đời, hàng năm họp họ vào ngày 14 tháng 7 (Âm lịch) Cụ tổ dòng họ là cụ Đào Khắc Nghĩa, hiện chưa rõ di cư từ vùng nào về.
  • Dòng họ Đào Công - Thờ Cụ Đào Công Soạn - Thôn Diệt Pháp, Xã Thiện Phiến, Huyện Tiên Lữ, Tỉnh Hưng Yên
  • Dòng họ Đào Viết tại Thạch Đồng - TP Hà Tĩnh - Hà Tĩnh - Thờ cụ Đào Viết Sở

Người họ Đào Việt Nam nổi bật[sửa | sửa mã nguồn]

  • Đào Cam Mộc, sinh năm 942, mất năm 1015 ở làng Lang Thôn, xã Định Tiến, huyện Yên Định, tỉnh Thanh Hoá. Qua những tài liệu tìm được cho thấy, Thái sư Á Vương Đào Cam Mộc là người có công trong việc tôn Lý Công Uẩn lên ngôi vua, là người đặt viên gạch đầu tiên xây dựng triều Lý - một triều đại thái bình thịnh trị trong lịch sử dân tộc. Ông cũng là người có những đóng góp cho cuộc dời đô lịch sử từ Hoa Lư ra Thăng Long. Ông được Lý Công Uẩn tặng đôi câu đối "Lý triều định đô vương tứ phúc/Đào trạng văn quan Quốc ân thân" để ghi nhận công lao của Ông một người họ Đào giúp vua, giúp nước.
  • Đào Tiêu đỗ Trạng nguyên khoa tháng hai, Ất Hợi, năm Bảo Phù thứ 3 (1275), đời Trần Thánh Tông.
  • Đào Sư Tích Người làng Cổ Lễ, huyện Nam Chân, sau đổi là huyện Nam Trực, phủ Thiên Trường (nay thuộc huyện Nam Ninh, Hà Nam Ninh). Đỗ trạng nguyên khoa Giáp Dần niên hiệu Long Khánh thứ 2 (1374), đời Trần Duệ Tông. Làm quan Tả tư lang trung, Nhập nội Hà khiển Hành khiển. Vua sai ông chép sách "Bảo hoà điện dư bút". Thời Hồ Quý Ly, bị giáng xuống Trung tư thị lang, Tri thẩm hình viện sự. Sau khi qua đời dân làng Cổ Lễ thờ ông làm Thành hoàng, được nhiều triều đại vua chúa ban sắc cho làm Thượng đẳng thàn.
  • Đào Thúc Người xã Phủ Lý, huyện Đông Sơn (nay thuộc tỉnh Thanh Hoá). Đỗ Trạng nguyên khoa Ất Hợi, niên hiệu Bảo Phù thứ 3 (1275), đời Trần Thánh Tông. Không rõ ông làm quan đến chức gì. Chỉ biết sau khi chết ông được phong Phúc thần tại địa phương.
  • Đào Công Soạn: (tự: Tân Khanh; 1379 - 1466), danh thần, nhà ngoại giao, nhà thơ đời Lê. Quê: làng Thiện Phiến, huyện Tiên Lữ (Hưng Yên). Đỗ đầu khoa thi ở Đông Đô năm 1429, làm chánh sứ sang Minh cầu phong. Đã được thăng các chức tham tri đông đạo, sứ Thẩm hình viện. Kiêm thượng thư Bộ Lễ năm 1436 và 1444; 2 lần đi sứ sang Minh. Năm 1440, làm nhập nội đại hành khiển. Đầu 1456, tuổi đã già; vua Lê coi ông là cựu thần, sai lên biên giới phía bắc khám định. Có một số bài thơ chép trong "Toàn Việt thi lục" của Lê Quý Đôn. Ý thơ dồi dào, thanh thoát.
  • Nhu Thuận hoàng hậu, tên thật Đào Thị Ngọc Liễu, hoàng thái hậu nhà Hậu Lê.
  • Đào Quang Nhiêu (1601-1672) là một danh tướng của 3 đời chúa Trịnh (Trịnh Tráng, Trịnh Tạc, Trịnh Căn). Ông tham gia trong cuộc chiến tranh giữa chúa Trịnh và chúa Nguyễn giữa thế kỷ 17.
  • Đào Duy Từ Làm quan chúa Nguyễn, chúa Nguyễn phong cho Duy Từ làm Nha úy Nội Tán, tước Lộc Khuê Hầu, trông coi việc quân cơ ở trong và ở ngoài, tham lý quốc chính.
  • Đào Vũ Thường Sinh ngày 07 tháng 2 năm Ất Dậu (1705) Tại Xã Yên Lũ, Huyện Thanh Lan Nay là thôn Hưng Đạo, xã Đông Quan, Huyện Đông Hưng, Tỉnh Thái Bình. Cụ học vấn thông minh, Năm 19 tuổi đỗ Hương cống khoa Quý Mão 1723 được bổ chức Huấn đạo thanh lan, môn sinh theo học đông được nhân gian truyền tụng.

Năm Bính Dần 1746 niên hiệu Cảnh hưng thứ 7 vượt sức 2000 cống sĩ Cụ đỗ tiến sỹ được vua Lê Hiển Tông ban áo, mũ, lộc điền vinh quy bái tổ. Cụ được lưu danh trong văn miếu Quốc Tử Giám Hà Nội số bia 70No 01366 dựng ngày 16 tháng 9 năm 1747. Cụ mất ngày 23 tháng 7 năm 1754 Hưởng thọ 50 tuổi Cụ được sắc phong qua các chức "Công khoa cấp sự trung". " Nghệ An thanh hình hiến sát sứ" " Ngự sử kinh bắc". Khi vua cử tiếp sứ thần nhà Thanh và viếng đền thờ Hai Bà Trưng Cụ có những vần thơ ca ngợi Hai Bà Trưng làm cho sứ thần nhà Thanh phải giật mình kính phục: "Anh hùng trí khí kém chi nam KHí thiêng muôn thuở mãi luận bàn". Hoặc: "Dẫu thua chớ trách người thơ yếu. Rằng được thêm dơ kẻ tướng già". Từ đường tiến sĩ Đào Vũ Thường tại xã Đông Quan, Huyện Đông Hưng,Tỉnh Thái Bình được công nhận là "Di Tích lịch sử văn hóa" theo Quyết định số 2015 - VH/QĐ ngày 16 tháng 12 năm 1993.

Trung Quốc[sửa | sửa mã nguồn]

Dòng họ Đào ở Trung Quốc là một dòng họ lớn. Nhiều nhà văn, nhà viết kịch, nhà sáng tác đã đưa dòng họ này vào tác phẩm của mình là một điều minh chứng ảnh hưởng của dòng họ Đào trong đời sống xã hội Trung Quốc. Có một chi tiết thú vị trong lịch sử thời Chiến Quốc là: sau khi giúp Việt vương Câu Tiễn đánh bại nước Ngô, giết chết Phù Sai, quân sư Phạm Lãi đã treo ấn từ quan, để không rơi vào cảnh: "chim đã hết thì cung bỏ xó, thỏ đã hết thì chó săn cũng không còn chỗ dung thân". Phạm Lãi vượt biển, đến vùng nước Tề sống ẩn dật đổi tên thành Đào Chu Công. Sau khi lập gia thất, ông sinh được 03 người con trai đều đặt tên cho con theo họ Đào. Gia đình ông kinh doanh và sau này trở thành một phú thương. Hiện tại còn lưu trữ nhiều câu chuyện của Đào Chu Công trong đối nhân xử thế.

Danh nhân[sửa | sửa mã nguồn]

Ghi chú[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ [1]
  2. ^ [2] Họ Đào Việt Nam, Nhà xuất bản Hội Nhà văn - Tuổi trẻ Online, Thứ Bảy, 16/02/2008, 05:15 (GMT+7).
  3. ^ [3]
  4. ^ Đại Nam thực lục-tập 7-Đệ tứ kỉ-các quyển từ XIII đến XLII-các trang 387, 393, 419, 466, 467, 468, 474, 496, 508, 537, 553, 567, 577, 582, 602, 634, 639, 669, 724, 747, 757, 761, 773, 775, 779, 785, 791, 800, 802, 810, 845, 867, 933, 984, 1014, 1018, 1065, 1081, 1087, 1093, 1095, 1100, 1103, 1107, 1118, 1121, 1138, 1147, 1175, 1176, 1182, 1183, 1197, 1198, 1199, 1200, 1201, 1202, 1203, 1204, 1206, 1212, 1213, 1219, 1221, 1229
  5. ^ http://www.bulletin.vnu.edu.vn/btdhqghn/Vietnamese/C1177/C1415/2007/05/N16096/?1

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]

  • Tìm nguồn gốc họ Đào - Website Phả hệ.VN. [4]