Đồng(II) cacbonat

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm
Đồng(II) cacbonat
Danh pháp IUPAC

Đồng(II) cacbonat

Tên khác

Cupric carbonate, neutral copper carbonate

Nhận dạng
Số CAS

1184-64-1(?)

PubChem

14452

Ảnh Jmol-3D

ảnh

SMILES
Thuộc tính
Công thức phân tử

CuCO3

Khối lượng mol

123.5549

Bề ngoài

bột màu xám[1]

Điểm nóng chảy

Điểm sôi

Độ hòa tan trong nước

phản ứng với nước ở điều kiện bình thường

Cấu trúc
Nhóm không gian

Pa-C2s (7) [1]

Hằng số mạng

a = 6.092 Å, b = 4.493 Å, c = 7.030 Å

Tọa độ

5 [1]

Nhiệt hóa học
Các nguy hiểm
Điểm bắt lửa Không bắt lửa
Các hợp chất liên quan
Anion khác

Đồng(II) sulfat

Cation khác

Niken(II) cacbonat
Kẽm cacbonat

Đồng(II) cacbonat hoặc đồng cacbonat là một hợp chất hóa học với công thức CuCO3. Ở nhiệt độ môi trường, là một ion rắn (một muối) bao gồm đồng(II) cation Cu2+đá ion âm CO2−3.

Đây là hợp chất hiếm khi gặp phải bởi vì nó rất khó để điều chế và dễ dàng phản ứng với nước độ ẩm trong không khí. Các điều khoản "đồng đá", "đồng(I) cacbon", và "trung quốc nhà cung đá" hầu như luôn luôn đề cập (ngay cả ở văn hóa học) đến một đồng cacbonat cơ bản như Cu2(OH)2CO3 (mà xảy ra một cách tự nhiên như những khoáng chất malachit) hoặc Cu3(OH)2(CO3)2 (azurit). Vì lý do này, các vòng loại trung lập có thể được sử dụng thay "cơ bản" để tham khảo đặc biệt CuCO3.

Điều chế[sửa | sửa mã nguồn]

Phản ứng có thể sẽ tạo ra CuCO3, như trộn dung dịch của đồng(II) sunfat CuSO4natri cacbonat Na2CO3 trong điều kiện môi trường, năng thay vì một cacbonat cơ bản và CO2, do các mối quan hệ tuyệt vời của các Cu2+ ion cho hiđrôxít HO.[2] Sự phân hủy nhiệt của cacbonat cơ bản ở áp suất không khí tạo ra đồng(II) oxit CuO chứ không phải cacbonat.

Năm 1960, C. W. F. T. Pistorius tuyên bố tổng hợp bằng cách làm nóng đồng cacbonat đồng ở 180 °C trong một áp suất khí quyển của cacbon dioxit CO2 (450 atm) và nước (50 atm) cho 36 giờ. Phần lớn các sản phẩm được  tinh thể malachit, Cu2CO3(OH)2, nhưng một sản lượng nhỏ của một chất hình thoi mà cũng thu được là CuCO3[3]. Tuy nhiên, tổng hợp này rõ ràng là không được thực hiện lại..[4]

Sự tổng hợp đáng tin cậy của đồng (II) cacbonat thật sự đã được Hartmut Ehrhardt và những người khác báo cáo lần đầu tiên vào năm 1973. Hợp chất này thu được dưới dạng một bột màu xám, bằng cách làm nóng đồng cacbonat  trong áp suất khí quyển (tạo ra bởi sự phân huỷ của bạc oxalat  (Ag2C2O4) tại 500 °C và 2 GPa (20,000 atm). Các hợp chất đã được xác định là có năm cấu trúc.

Tính chất hóa học và vật lý[sửa | sửa mã nguồn]

Sự ổn định của CuCO3 khô phụ thuộc vào các phần áp lực của cacbon dioxit (pCO2). Nó ổn định trong nhiều tháng trời trong không khí khô, nhưng phân hủy từ từ thành CuO và CO2 nếu pCO2 là ít hơn 0.11 atm.

Sự hiện diện của nước hay không khí ẩm ở 25 độ C, CuCO3 là ổn định chỉ cho pCO2 trên 4.57 atm và pH giữa khoảng 4 và 8. Dưới áp lực, nó phản ứng với nước để tạo thành một cacbonat cơ bản(azurite, Cu3(CO3)2(OH)2).Trong các giải pháp cơ bản nhất, anion phức Cu(CO3)22− được thành lập để thay thế.

Sản phẩm hòa tan của đồng(II) cacbonat thực được đo bằng Reiterer và các sản phẩm khác như pKso = - 11 giờ 45 ± 0.10 ở 25 °C.

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ a ă â H. Seidel, H. Ehrhardt, K. Viswanathan, W. Johannes (1974): "Darstellung, Struktur und Eigenschaften von Kupfer(II)-Carbonat". Z. anorg. allg. Chem., volume 410, pages 138-148. doi:10.1002/zaac.19744100207
  2. ^ Ahmad, Zaki (2006). Principles of Corrosion Engineering and Corrosion Control. Oxford: Butterworth-Heinemann. tr. 120–270. ISBN 9780750659246. 
  3. ^ C. W. F. T. Pistorius (1960): "Synthesis at High Pressure and Lattice Constants of Normal Cupric Carbonate". Experientia, volume XVI, page 447-448. doi:10.1007/BF02171142
  4. ^ Rolf Grauer (1999) "Solubility Products of M(II) Carbonates". Technical Report NTB-99-03, NAGRA - National Cooperative for the Disposal of Radioactive Waste; pages 8, 14, and 17. Translated by U. Berner.