Ban nhạc nam

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm
Nhóm nhạc nam
Nguồn gốc từ loại nhạc
Khởi nguồn từ văn hóa Đầu những năm 1960 ở Hoa Kỳ, với tiền đề trở về khoảng giữa những năm 1950 và cuối những năm 1970 ở Vương quốc Anh.
Nhạc cụ điển hình Phối nhạc trong phòng thu: Giọng hát (thường là trong hòa âm), sự hỗ trợ của điện tử, sampler, bộ sắp xếp nhạc. Phối nhạc sống (live) thông thường: synthesizer, guitar điện, guitar bass, dàn trống, piano (dương cầm), cùng với kèn cor tùy chọn: không kèn saxophone độc tấu thì dàn nhạc kèn cor.
Chủ đề liên quan

Nhóm nhạc nam hay boy band được định nghĩa là một nhóm nhạc bao gồm các nam ca sĩ trẻ, thường ở độ tuổi thanh thiếu niên hoặc độ tuổi 20 lúc nhóm nhạc được thành lập.[1] Họ hát những bản tình ca hướng tới phụ nữ trẻ. Vì là một nhóm nhạc ca hát nên hầu hết các thành viên nhóm nhạc nam không chơi nhạc cụ trong buổi thu âm hay trên sân khấu, tạo nên thuật ngữ một vài thứ dùng từ sai. Tuy nhiên là thực sự vẫn tồn tại những ngoại lệ. Nhiều nhóm nhạc nam còn nhảy và ca hát, cũng như thường đem tới những màn trình diễn vũ đạo đẹp mắt.

Một số nhóm nhạc kiểu này tự họ thành lập. Họ có thể khai triển từ đội hợp xướng nhà thờ (ban hát nhà nguyện) hoặc các ca đoàn nhạc Phúc âm, nhưng thường là do các nhà quản lý nghệ sĩ hay nhà sản xuất âm nhạc tạo ra thông qua việc tổ chức các buổi thử giọng.

Lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

Thập niên 1990: Boyz II Men, Take That, Backstreet Boys, NSYNC và Westlife[sửa | sửa mã nguồn]

Thập niên 2000: Backstreet Boys, NSYNC, Westlife, Jonas Brothers, F4 và Phi Luân Hải[sửa | sửa mã nguồn]

Thập niên 2010: One Direction và sự nổi lên của K-pop[sửa | sửa mã nguồn]

Các nhóm nhạc nam được ưa thích nhất thế giới[sửa | sửa mã nguồn]

Dưới đây là danh sách các nhóm nhạc nam được ưa thích nhất thế giới, dựa trên số liệu số liệu doanh thu đã xác nhận của hơn 40 triệu bản thu âm:

Xếp thứ Tên nhóm Quốc tịch Số thành viên Năm hoạt động Thể loại nhạc Số album phòng thu Doanh số đã xác nhận
1 Backstreet Boys Hoa Kỳ 5 → 4 → 5 1993–nay (24 năm) Pop 9 130 triệu[2][3]
2 The Jackson 5 Hoa Kỳ 5 → 6 → 4 1964–1990, 2001, 2012–2013 (29 năm) Pop/R&B 18 100 triệu[4]
3 New Kids on the Block Hoa Kỳ 5 → 4 → 5 1984–1994, 2008–nay (19 năm) Pop 6 80 triệu[5]
4 The Osmonds Hoa Kỳ 5 1958–1980 (22 năm) Pop 22 77 triệu[6]
5 Bay City Rollers Vương quốc Anh 5 1966–1981 (15 năm) Pop 16 70 triệu[7]
6 *NSYNC Hoa Kỳ 5 1995–2002 (7 năm) Pop 4 70 triệu[8]
7 Menudo Puerto Rico 5 1977–1997, 2007-2009 (22 năm) Nhạc pop tiếng Latinh (Latin pop) 44 60 triệu[9]
8 Boyz II Men Hoa Kỳ 5 → 4 → 3 1988–nay (29 năm) R&B 11 60 triệu[10]
9 One Direction Vương quốc Anh/Ireland 5 → 4 2010–2016 (6 năm; đang tạm ngừng hoạt động) Pop 5 50 triệu[11]
10 Take That Vương quốc Anh 5 → 4 → 5 → 3 1990-1996, 2005-nay (18 năm) Pop 8 45 triệu[12][13]
11 Westlife Ireland 5 → 4 1998–2012 (14 năm) Pop 10 40 triệu[14]

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Walt Hickey (ngày 4 tháng 6 năm 2014). “Boy Bands: More Like Man Bands”. Trang web FiveThirtyEight. Truy cập ngày 7 tháng 6 năm 2014. 
  2. ^ Lỗi chú thích: Thẻ <ref> sai; không có nội dung trong thẻ ref có tên garcia1
  3. ^ Lỗi chú thích: Thẻ <ref> sai; không có nội dung trong thẻ ref có tên bsb
  4. ^ “Jackson 5 'ABC': Black Music Month Album Spotlight #19”. Yahoo!. Bản gốc lưu trữ ngày 5 tháng 10 năm 2012. Truy cập ngày 25 tháng 6 năm 2012. 
  5. ^ “Interview: New Kids on the Block's Jordan Knight pictures life as a teenage boy band in 2012”. Báo Luận đàn Chicago. Ngày 26 tháng 1 năm 2012. Bản gốc lưu trữ ngày 6 tháng 6 năm 2014. Truy cập ngày 29 tháng 6 năm 2012. 
  6. ^ “An Osmond Family Tribute”. Oprah.com. Truy cập ngày 9 tháng 3 năm 2018. 
  7. ^ Justine Picardie (ngày 26 tháng 3 năm 1995). 'In the Rollers, I'd just say: I want that house. Then I'd move in'. Nhật báo The Independent. Truy cập ngày 9 tháng 3 năm 2018. 
  8. ^ Melinda Newman (ngày 14 tháng 11 năm 2017). “*NSYNC And Epic Rights Join Together For Merchandise Line to Celebrate Band's 20th Anniversary: Exclusive”. Tạp chí Billboard. Truy cập ngày 9 tháng 3 năm 2018. 
  9. ^ Tammy Tibbetts (ngày 17 tháng 12 năm 2007). “History of Menudo (Lịch sử nhóm nhạc Menudo)”. Tạp chí Seventeen. Truy cập ngày 25 tháng 6 năm 2017. 
  10. ^ Libby Hill (ngày 6 tháng 1 năm 2016). “Boyz II Men to play teen angels in Fox's 'Grease: Live'. Thời báo Los Angeles. Truy cập ngày 25 tháng 6 năm 2017. 
  11. ^ “One Direction Band's Louis Tomlinson Arrested In Airport Tussle”. Hãng thông tấn AFP. Ngày 9 tháng 3 năm 2018. Truy cập ngày 5 tháng 3 năm 2017. 
  12. ^ “The X Factor's 5 biggest selling acts ever - Little Mix and One Direction battle for chart supremacy”. Trang web Digital Spy. Ngày 25 tháng 9 năm 2015. Truy cập ngày 27 tháng 6 năm 2017. 
  13. ^ “One Direction: The rise of the inescapable pop boy band”. ABC Australia. Ngày 26 tháng 3 năm 2015. Truy cập ngày 27 tháng 6 năm 2017. 
  14. ^ Gordon Barr (ngày 29 tháng 2 năm 2008). “Westlife breaking records”. Nhật báo Evening Chronicle. Bản gốc lưu trữ ngày 24 tháng 5 năm 2010.  Đã bỏ qua tham số không rõ |df= (trợ giúp)

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]