Ezequiel Lavezzi

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm
Ezequiel Lavezzi
Ezequiel Lavezzi.jpg
Thông tin cá nhân
Tên đầy đủ Ezequiel Iván Lavezzi
Ngày sinh 3 tháng 5, 1985 (34 tuổi)
Nơi sinh Rosario, Argentina
Chiều cao 1,73 m (5 ft 8 in)
Vị trí Tiền vệ cánh/Tiền đạo
Sự nghiệp cầu thủ trẻ
1995–2003 Boca Juniors
Sự nghiệp cầu thủ chuyên nghiệp*
Năm Đội ST (BT)
2003–2004 Estudiantes 39 (17)
2004–2005 Genoa 0 (0)
2004-2005San Lorenzo (loan) 18 (8)
2005–2007 San Lorenzo 66 (17)
2007–2012 Napoli 156 (38)
2012–2016 Paris Saint-Germain 107 (22)
2016–2019 Hà Bắc Trung Cơ 74 (35)
Đội tuyển quốc gia
2005 U-20 Argentina 7 (1)
2008 U-23 Argentina 10 (6)
2007–2016 Argentina 51 (9)
* Chỉ tính số trận và số bàn thắng ghi được ở giải vô địch quốc gia và được cập nhật tính đến ngày 27 tháng 11 năm 2019
‡ Số lần khoác áo và số bàn thắng tại ĐTQG được cập nhật tính đến ngày 21 tháng 6 năm 2016

Ezequiel Iván Lavezzi (sinh ngày 3 tháng 5 năm 1985), biệt danh El Pocho, là cựu cầu thủ bóng đá người Argentina, từng chơi cho câu lạc bộ Hà Bắc Trung Cơ ở giải Chinese Super LeagueĐội tuyển bóng đá quốc gia Argentina.

Sự nghiệp[sửa | sửa mã nguồn]

Khởi nghiệp[sửa | sửa mã nguồn]

Các phương tiện truyền thông có xu hướng để ý tới những cầu thủ trẻ đầy triển vọng người Argentina xuất hiện tại Italia đã nhanh chóng gọi Lavezzi là "Maradona mới". Chính Lavezzi phủ nhận điều này, thay vào đó, anh so sánh mình với một cầu thủ Argentina trẻ khác là Carlos Tévez. Mặc dù vậy, phong cách chơi bóng của anh khá giống với phong cách Argentine Football Creole, phong cách bóng đá đã trở nên nổi tiếng nhờ Maradona. Khi còn là một đứa trẻ, Lavezzi đã có sự quan tâm đặc biệt tới bóng đá và có được sự hỗ trợ từ Trung tâm Rosario, nơi anh sinh sống. Từ khi còn rất trẻ, tài năng bóng đá của Lavezzi đã được công nhận, anh chơi cho đội trẻ của Boca Junior từ năm 10 tuổi đến năm 17 tuổi. Sau đó, anh chuyển đến chơi cho đội trẻ của Estudiantes de Buenos Aires, tại đây, anh đã ra sân 39 lần và có 17 bàn thắng.

Genoa[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 2004, anh đến Genoa của Ý với giá 1 triêu Euro, nhưng dã ngay lập tức chuyển đến San Lorenzo (Argentina) dưới dạng cho mượn. Tại đây, ở tuổi 19, anh đã thi đấu giải Apertura năm 2004 và ghi được 6 bàn thắng. Đóng góp đáng chú ý nhất của anh là trong trận đấu với River Plate tại El Monumental. Anh ghi bàn vào phút 69 để giúp San Lorenzo giành chiến thắng và đe doạ tham vọng giành danh hiệu của River. Chính điều này đã khiến các phương tiện truyền thông gọi anh bằng biệt danh The Beast. Mặc dù đã lên kế hoạch để Lavezzi trở lại Genoa sau một mùa giải cho mượn, nhưng vẫn có những rắc rối. Trong khi Lavezzi đang thi đấu ở Argentina, Genoa đã tham gia một trận đấu được cho là đã có dàn xếp, điều này khiến họ rợi xuống chơi ở Serie C1, giải hạng Ba của Ý. Do có khó khăn về tài chính, tiền đạo này đã được bán cho San Lorenzo với giá 1.2 triệu Euro.

San Lorenzo[sửa | sửa mã nguồn]

Trong lần trở về San Lorenzo của mình vào năm 2005, anh đã giúp CLB đứng ở nửa trên của Bảng xếp hạng, với tám bàn thắng ghi được, anh kết thúc mùa giải với vị trí thứ 4 trong danh sách ghi bàn. Đóng góp cuối cùng của anh cho San Lorenzo là giúp đội bóng giành danh hiệu Clausura 2007, bỏ cách Boca Junior 6 điểm.

Napoli[sửa | sửa mã nguồn]

Napoli mới đây đã giành quyền trở lại chơi ở Serie A, sau khi dành Á quân tại Serie B. Để tăng cường lực lượng cho mùa giải mới, Napoli đã ký bản hợp đồng 5 năm với Lavezzi vào 5-7-2007. Thoả thuận chuyển nhượng trị giá khoảng 6 triệu Euro, anh đã được giới thiệu trước người hâm mộ và được trao áo số 7 cho mùa giải đầu tiên của mình tại đây. Anh sớm có đóng góp cho đội bóng bằng 1 hat-trick trong chiến thắng 3-1 trước Pisa tại Coppa Italia trên sân San Paolo, đây là hat-trick đầu tiên của một cầu thủ Napoli trong vòng 14 năm. Bàn thắng đầu tiên Lavezzi ghi đưược cho Napoli trong khuôn khổ Serie A là trong chiến thắng 5-0 trước Udinese vào 2-9-2007. Sau trận dấu, giới truyền thông tuyên bố "Napoli's Star is born". Napoli đã không có một chiến thắng lớn như thế từ năm 1988, khi Diego Maradona vẫn còn thi đấu cho Câu lạc bộ. Anh kết thúc mùa bóng 2007-2008 với 8 bàn thắng sau 35 trận đấu. Anh nhanh chóng chiệm được tình cảm của người hâm mộ. Mua bóng 2008-2009, anh ghi được 7 bàn thắng sau 30 trận.

Thống kê sự nghiệp[sửa | sửa mã nguồn]

Câu lạc bộ[sửa | sửa mã nguồn]

Tính đến 27 tháng 11 năm 2019.[1][2]
Câu lạc bộ Mùa giải Vô địch quốc gia Cúp quốc gia Cúp liên đoàn Cúp châu lục Khác Tổng cộng
Hạng đấu Số trận Số bàn Số trận Số bàn Số trận Số bàn Số trận Số bàn Số trận Số bàn Số trận Số bàn
Estudiantes (BA) 2003–04 Primera B 39 17 39 17
Tổng cộng 39 17 39 17
San Lorenzo 2004–05 Primera División 29 9 9 0 37 9
2005–06 22 9 22 9
2006–07 33 7 5 1 38 8
Tổng cộng 84 25 14 1 97 26
Napoli 2007–08 Serie A 35 8 5 3 40 11
2008–09 30 7 1 0 3 1 34 8
2009–10 30 8 1 1 31 9
2010–11 31 6 1 1 9 2 41 9
2011–12 30 9 4 0 8 2 42 11
Tổng cộng 156 38 12 5 20 5 188 48
Paris Saint-Germain 2012–13 Ligue 1 28 3 4 3 1 0 9 5 42 11
2013–14 32 9 1 1 4 0 10 2 1[a] 0 48 12
2014–15 31 8 5 1 3 0 8 0 0 0 45 9
2015–16 16 2 1 0 3 1 4 0 0 0 24 3
Tổng cộng 107 22 11 5 11 1 31 7 1 0 161 35
Hebei China Fortune 2016 Super League 10 0 0 0 10 0
2017 27 20 0 0 27 20
2018 26 12 1 0 27 12
2019 11 3 0 0 11 3
Tổng cộng 74 35 1 0 75 35
Tổng cộng sự nghiệp 460 137 24 10 11 1 65 13 1 0 560 161

Đội tuyển quốc gia[sửa | sửa mã nguồn]

Tính đến ngày 21 tháng 6 năm 2016.[3]
Đội tuyển quốc gia Năm Số lần ra sân Số bàn thắng
Argentina 2007 2 0
2008 1 0
2009 3 0
2010 3 0
2011 7 2
2012 4 0
2013 8 2
2014 9 0
2015 11 3
2016 3 2
Tổng cộng 51 9

Bàn thắng quốc tế[sửa | sửa mã nguồn]

# Ngày Địa điểm Đối thủ Bàn thắng Kết quả Giải đấu
1. 20 tháng 6 năm 2011 Sân vận động Monumental, Buenos Aires, Argentina  Albania 1–0 4–0 Giao hữu
2. 11 tháng 11 năm 2011 Sân vận động Monumental, Buenos Aires, Argentina  Bolivia 1–1 1–1 Vòng loại World Cup 2014
3. 11 tháng 10 năm 2013 Sân vận động Monumental, Buenos Aires, Argentina  Peru 1–1 align=center|3–1 Vòng loại World Cup 2014
4. 2–1
5. 4 tháng 9 năm 2015 Sân vận động BBVA Compass, Houston, Hoa Kỳ  Bolivia 1–0 align=center|7–0 Giao hữu
6. 3–0
7. 13 tháng 11 năm 2015 Sân vận động Monumental, Buenos Aires, Argentina  Brasil 1–1 1–1 Vòng loại World Cup 2018
8. 14 tháng 6 năm 2016 CenturyLink Field, Seattle, Hoa Kỳ  Bolivia 2–0 3–0 Copa América Centenario
9. 21 tháng 6 năm 2016 Sân vận động NRG, Houston, Hoa Kỳ  Hoa Kỳ 2–0 4–0 Copa América Centenario

Giải thưởng[sửa | sửa mã nguồn]

Câu lạc bộ[sửa | sửa mã nguồn]

San Lorenzo[4]

Napoli[4]

Paris Saint-Germain[4]

Quốc tế[sửa | sửa mã nguồn]

Argentina

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ “Ezequiel Lavezzi”. national-football-teams.com. National Football Teams. 
  2. ^ “Ezequiel Lavezzi » Club matches”. worldfootball.net. Worldfootball. 
  3. ^ “Ezequiel Lavezzi”. National Football Teams. Benjamin Strack-Zimmerman. Truy cập ngày 6 tháng 2 năm 2013. 
  4. ^ a ă â “E. Lavezzi”. Soccerway. Truy cập ngày 1 tháng 6 năm 2016. 
  5. ^ “Chile 0–0 Argentina (Chile win 4–1 on penalties)”. BBC Sport. 5 tháng 7 năm 2010. Truy cập ngày 5 tháng 7 năm 2015. 

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]