Thảo luận:Nguyễn

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm
Dự án Họ
姓-120x116.PNG Trang này được thực hiện với sự phối hợp của các thành viên thuộc dự án Họ, một dự án hợp tác giữa các thành viên nhằm nâng cao chất lượng các bài viết về Họ. Nếu bạn muốn tham gia, xin hãy đến thăm trang của dự án! Bạn cũng có thể ghé qua trang thảo luận để trao đổi hoặc đề xuất ý kiến.
CBài viết đạt chất lượng C.
CaoBài viết được đánh giá rất quan trọng.

Họ Nguyễn xuất hiện ở Việt Nam[sửa mã nguồn]

Họ Nguyễn xuất hiện từ khi nào trong lịch sử Việt Nam? Newone 03:26, ngày 5 tháng 3 năm 2007 (UTC)

Sử ghi: khi Nguyễn Phu nhà Tấn vào Giao châu (thế kỷ 4).--Trungda (thảo luận) 17:44, ngày 30 tháng 7 năm 2008 (UTC)

Người nổi tiếng[sửa mã nguồn]

Danh sách có vẻ hơi ngắn, vì số người họ Nguyễn nổi tiếng bên danh sách Wikipedia tiếng Anh dài đằng dặt, mong ai có thời gian viết thêm. xvη=2*10 16:20, ngày 30 tháng 7 năm 2008 (UTC)

Mời Xvn xem qua Wikipedia:Biểu quyết phục hồi bài#Thể loại Họ ABC. Còn về số người mang họ Nguyễn ở wiki tiếng Việt thì phải có chừng

Tướng Nguyễn Sơn không phải người họ Nguyễn, ông tên tên thật là Vũ Nguyên Bác người Gia Lâm, Hà Nội. 500 người, lập danh sách là không hợp lý. RBD (thảo luận) 16:27, ngày 30 tháng 7 năm 2008 (UTC)

Hợp Nhất Nguyễn Đình[sửa mã nguồn]

Thành viên nào hợp nhất bài Nguyễn Đình vào bài Họ Nguyễn giúp.

  • Hội họ Nguyễn cho rằng viễn tổ dòng họ Nguyễn Việt Nam chính là các vua Hùng (Vua Hùng Vương là họ Nguyễn).
  • Dòng họ Nguyễn Đình chúng ta thờ ngài Nguyễn Hợp, ông nội Đức tổ : Đại Vương Nguyễn Xí làm Thủy tổ. Gia phổ dòng họ cho biết cụ là một nhà sư bán thế xuất gia, vừa tu hành như một nhà sư, bụt hiệu là Pháp Đăng, vừa lập gia đình, có vợ con và làm nghề nấu muối ở làng Cương Gián, huyện Nghi Xuân, nay thuộc tỉnh Hà Tĩnh.
  • Tôi đã có dịp trò chuyện cùng cụ Nguyễn Đình Triển, năm nay đã 99 tuổi, nguyên Trưởng ban lịch sử - tộc phả họ Nguyễn Đình. Có thể nói cụ là người am hiểu nhất về lịch sử Dòng họ. Với câu hỏi: “Cụ có hiểu biết gì thêm về vị Thủy tổ Nguyễn Hợp, như gốc gác, hành trạng hay không”, Cụ Triển trả lời, chỉ biết cụ Thủy tổ là người làng Cương Gián, có 2 con trai, làm nghề nấu muối, con cả là cụ
  • khởi Tổ : Nguyễn Khai sống tại làng này, người con thứ
  • Khải Tổ : THÁI BẢO ĐÌNH QUẬN CÔNG NGUYỄN HỘI di cư sang Thượng Xá. Ngoài ra, cụ Triển không biết gì hơn.
  • Trong sách “Nguyễn tộc gia phả phổ ký” của tác giả Nguyễn Đình Ưu, có câu mở đầu (xin đọc sách Cương quốc công Nguyễn Xí, trang...):
  • "Lạch Lò, rú Cấm, đất chứa khí thiêng,

Rú Kiếm, rú Cờ, cảnh phô vẽ đẹp. Đất anh linh, sinh người hào kiệt, Xem Nam thiên, mới biết tông đồ”...

  • Nhưng ai mới là người "Xem Nam thiên, chọn đất anh linh để sinh người hào kiệt", vẽ nên Tông đồ nghìn năm cho Dòng họ Nguyễn?
  • Ở đây tôi xin hầu chuyện các ông, các bác, các anh chị trong dòng họ Nguyễn Đình một số suy luận, nhận định về Thủy tổ Nguyễn Hợp qua các sử liệu từ Gia phổ dòng họ cũng như sử sách cũ. Hy vọng, trong thời đại thông tin rộng rãi hiện nay, sẽ có người phát hiện mới, giúp con cháu chúng ta biết rõ hơn về dòng dõi tổ tiên mình. Cũng xin trước với các bác rằng đây chỉ là suy luận mang tính cá nhân, xin các cao nhân chỉ bảo, góp ý xây dựng, không ném đá.
  • Tôi đã đến làng Cương Gián, huyện Nghi Xuân và có suy nghĩ rằng cụ Nguyễn Hội không phải là người gốc ở đây. Làng Cương Gián hiện nay nằm trên 1 vùng cát trắng hẹp, trải dài theo bờ biển, trước mặt là biển đông bao la, sau lưng là dãy núi Ngàn Hống cao sững sững, xuyên qua làng là 1 con đường nhỏ ven biển, gọi là đường quốc phòng. Ngày nay, Làng này còn heo hút như thế thì thời Hậu Trần, thời điểm mà ngài Nguyễn Hợp sinh sống ở đây. Cương Gián là làng “khỉ ho, cò gáy, hổ gầm, vượn hú”, chắc cả làng chỉ có vài người sinh sống, Làng này chỉ phù hợp với những người cố tình đi ở ẩn, lẩn trốn sự truy bức của quan binh triều đình.
  • Lập luận này là hợp lý vì chúng ta biết sau đó, khi tình hình loạn lạc nhà Hồ tạm yên (Hồ Quý Ly truy tìm, giết hại các công thần nhà Trần như Nguyễn Đa Phương, Trần Khát Chân, Đặng Tất, Nguyễn Cảnh Chân)... Cụ Nguyễn Hợp đã cưới vợ cho người con thứ 2 của Cụ, tức khải tổ Nguyễn Hội, lấy bà Vũ Thị Hạch, người làng Dũng Quyết (Phường Trung Đô, thành phố Vinh ngày nay) và đưa vợ chồng con trai, 2 cháu nội ra sống tại vùng Thượng Xá, dưới chân dãy núi Cấm Sơn, bên hữu ngạn sông Cấm. Mảnh đất mà theo con mắt của các thầy địa lý khi xưa, là đất bình an, nhiều sinh khí (vì có dãy núi cấm hùng vĩ che chắn, bảo vệ ở mạn Bắc, lại có hạ lưu sông Cấm và biển Đông bao bọc mạn Đông Bắc và Đông, hội tụ sinh khí).
  • Việc cụ Nguyễn Hợp chọn con dâu là bà Vũ Thị Hạch (ngày xưa lấy vợ là do cha mẹ chọn), người làng Dũng Quyết cũng là điều đặc biệt. Khi mà sau đó, La sơn phu tử Nguyễn Thiếp đã cố vấn cho vua Quang Trung rằng, "Dũng Quyết là đất thiêng, là đất đế đô, đầy đủ tứ linh" (long, ly, quy, phượng).
  • Và, theo quan niệm người xưa, “Đức hiền tại mẫu”, rõ ràng cụ bà Vũ Thị Hạch, người mẹ của hai người con trai anh hùng
  • Bá Tổ : Phiêu Kỵ Đại Tướng Quân Nguyễn Biện
  • Đức Tổ : Trung Trinh Đại Vương Nguyễn Xí , không thể là người thường được. Điều đó cũng cho thấy cụ Nguyễn Hợp là người có tầm nhìn rất xa.
  • Là một người làm nghề nấu muối và bán muối. Nhưng từ rất sớm, cụ Nguyễn Hợp đã biết và kết thân với hào trưởng Lê Khoáng ngoài tận Lam Sơn, Thanh Hóa. Nên năm 1406, khi cụ Nguyễn Hội bị hổ vồ chết, rồi cụ bà Vũ Thị Hạch cũng vì đau buồn mà qua đời. Cụ Nguyễn Hợp khi đó đang sinh sống tại Cương Gián cùng người con trai cả là Nguyễn Khai, đã ra Thượng Xá và đưa hai người cháu nội là Nguyễn Biện (13 tuổi) Nguyễn Xí (9 tuổi) ra đất Lam Sơn, Thanh Hóa gửi gắm cụ Lê Khoáng.
  • Sử sách cũ ghi cha con cụ Nguyễn Hội và Nguyễn Biện, Nguyễn Xí thường gánh muối ra bán ở vùng Lam Sơn. Nhưng chuyện này rất khó tin, trừ khi đi bán muối là vỏ bọc để hoạt động cách mạng. Chẳng có ai gánh muối đi đường rừng hơn 200km, từ Cửa Lò ra tận Lam Sơn đi bán, lại đưa thêm con nhỏ 13 tuổi và 9 tuổi đi (xin nhớ thời đó, người ta đi đường rừng dọc theo các khe núi, gọi là đường thượng đạo, dọc đường còn có hổ báo nữa), trong khi biển Thanh Hóa cũng đầy muối.
  • Những tính toán và việc làm đầy dứt khoát đó của cụ Nguyễn Hợp cho thấy cụ đã dự đoán trước được vận mệnh Đất nước, cũng như dự đoán được tiền đồ của gia tộc hào trưởng Lê Khoáng (là cha đẻ vua Lê Lợi sau này).
  • Có như vậy, Cụ mới lặn lội mấy trăm cây số đường rừng, mang 2 cháu nội còn nhỏ tuổi mà cụ tin tưởng là bảo vật của gia đình mình ra để gửi gắm một người bạn sống trên núi rừng heo hút xứ Lam Sơn!
  • Điều này cũng cho thấy mức độ thân thiết và tin tưởng lẫn nhau giữa cụ Lê Khoáng và cụ Nguyễn Hợp. Bạn thử nghĩ mà xem, nếu không hiểu biết, tin tưởng nhau, sao vị hào trưởng Lê Khoáng, tức là 1 vị quan, lại dễ dàng nhận nuôi hai đứa trẻ con, cháu một người làm muối nào đó ở trong xứ Cương Gián heo hút nào đó…
  • Thời Lý Trần, do ảnh hưởng của Tam giáo (Phật, Lão, Nho), những bậc cao nhân Đại Việt như Trần Nguyên Đán, Chu Văn An…luôn có quan niệm “tiến vi quan, thoái vi sư”, hay “Thượng y y quốc, trung y y nhân”, nghĩa là: “Gặp thời ra làm quan giúp dân, thất thế rút lui về ở ân làm Thầy” hay “gặp thời thì làm thượng y chữa bệnh cho Nước, lỡ thời về làm lương y chữa bệnh cho dân”. Một khi đã quyết định rút lui về ở ẩn, các vị sẽ chọn phương châm sống tu nhân tích đức và tìm đất lành cho con cháu mai hậu, theo phương châm sống “Tiên tích Đức, hậu tầm Long”.
  • Theo dã sử, mộ của cụ Khải tổ Nguyễn Hội là mộ hổ táng, tức là ông hổ được Cụ nuôi, sau khi vồ nhầm chết chủ mình, đã mang xác chủ ra chôn tại cát địa Đồng Lầm. Nhờ ngôi mộ linh thiêng của Cụ, mà người con là cụ Nguyễn Xí làm quan đến chức Tể tướng.
  • Tuy nhiên, theo thiển ý của tôi, huyệt mộ cát địa đó không do ai khác ngoài cụ Nguyễn Hợp đặt. Vì chính Cụ đã chọn đất Thượng Xá, đưa con trai từ Cương Gián, cách 40km đường biển, ra Nghi Hợp để định cư, lập chùa Kim Tự cho làng Thượng Xá tu hành và chính con trai Cụ là Nguyễn Hội, pháp danh Hoài Nam Thiền sư làm trụ trì Chùa này, thì không có lý do gì để Cụ lại không chọn huyệt mộ cát địa cho con trai và con dâu của mình!
  • Sau này, Đại thi hào Nguyễn Du, một hậu duệ của Cụ, đã viết:

“Cho hay Phúc họa đạo trời, Cội nguồn cũng bời lòng người mà ra. Có trời mà cũng có ta, Tu là cội phúc, tình là dây oan”…

  Truyện Kiều - Nguyễn Du
  • Các phân tích dựa trên các sử liệu ít ỏi còn lại về Thủy tổ Nguyễn Hợp ở trên đủ chứng tỏ cụ Nguyễn Hợp là 1 cao nhân ẩn sỹ, là 1 nhà tiên tri chiến lược tầm cỡ Quốc gia, là người sắp đặt tiền đồ cho Tiên Tổ Nguyễn Xí, cũng như sắp đặt tiền đồ nghìn năm cho DÒNG HỌ NGUYỄN ĐÌNH chúng ta.

Đức Tổ[sửa mã nguồn]

  • Nguyễn Xí (1397-1465).Hay lê Xí Tên thụy Nghĩa Vũ Thường Gọi Hoàng Mười sinh ra ở Làng Thượng Xá, huyện Chân Phúc, Phủ Đức Quang (nay là xã Nghi Hợp, huyện Nghi Lộc, tỉnh Nghệ An).
ĐỨC THÁNH TỔ
NGUYỄN XÍ (阮熾)
Đại Vương Việt Nam (chi tiết...)
Nguyễn xí.jpg
Tượng Chân dung phổ biến nguyễn Xí .
Hữu Tướng Quốc
Tại vịSáng lập Triều Đại Lê Sơ
Nhập nội kiểm hiệu thái phó Bình chương quân quốc trọng sự Á quận hầu .
Thái sư Cương Quốc Công
Tại vị14641465
Tiền nhiệm
HIỂN UY CHÍNH NGHỊ ANH KIỆT TRUNG TRINH ĐẠI VƯƠNG Vua hoặc hoàng đế
Tại vị14642019
Tiền nhiệm
Thông tin chung
Thê thiếp
Lê Thi Ngoc Lan
Ngô Thị Hoa
Trịnh Thị Hà
Hậu duệNguyễn Sư Hồi

Thái Úy , Phò Mã Đô Úy .


Nguyễn Bá Sương Phò Mã Đô Úy...


Nguyễn Đình Huyền Quan Nhà Hậu Lê.


Nguyễn Bá Kiệt Quan Nhà Hậu Lê.


Nguyễn Kế Sài Quan Nhà Hậu Lê.


Nguyễn Phùng Thì Quan Nhà Hậu Lê.


Nguyễn Thúc Nga Quan Nhà Hậu Lê.


Nguyễn Tôn Cao Quan Nhà Hậu Lê.


Nguyễn Cảnh Thanh Quan Nhà Hậu Lê.


Nguyễn Trọng Đạt Quan Nhà Hậu Lê.


Nguyễn Phúc Đà Quan Nhà Hậu Lê.


Nguyễn Hữu Lượng Quan Nhà Hậu Lê.


Nguyễn Đồng Dân Quan Nhà Hậu Lê.


Nguyễn Nhân Thực Quan Nhà Hậu Lê.


Nguyễn Văn Chinh Quan Nhà Hậu Lê.


Nguyễn Duy Tân Quan Nhà Hậu Lê.


Nguyễn Ngọc Hỷ Hoàng Tôn Nhà Hậu Lê.


Nguyễn Ngọc Lễ. Hoàng Tôn Nhà Hậu Lê.


Nguyễn Ngọc Minh. Hoàng Tôn Nhà Hậu Lê.


Nguyễn Ngọc Liên. Hoàng Tôn Nhà Hậu Lê.


Nguyễn Ngọc Thái Hoàng Tôn Nhà Hậu Lê.


Nguyễn Ngọc Biên Hoàng Tôn Nhà Hậu Lê.


Nguyễn Ngọc Bình Hoàng Tôn Nhà Hậu Lê.


Nguyễn Ngọc Quỳnh (Kinh)

Hoàng Tôn Nhà Hậu Lê.
Tên húy
Lê Xí ( 阮熾 )
Thụy hiệu
Năm Hồng Đức thứ 15 (1484), tặng làm Cương quốc công, sau phong Thượng đẳng phúc thần, Trung Trinh Đại vương.
Miếu hiệu
Cương Cuốc Công
Tước hiệu
  • Thái úy , Sái Quận Công.
  • Thái Sư _ Cương Cuốc Công.
  • Trung Trinh Đại Vương
Gia tộcHọ Nguyễn
Thân phụNguyễn Hội
Sinh1397
Mất1465 (1395 – 1396 tuổi)
  • Ông là người có công lao to lớn trong việc tham gia khởi nghĩa Lam Sơn, đánh đuổi giặc Minh, giành lại độc lập cho dân tộc. Nguyễn Xí còn là đại thần trong bốn triều vua Lê, là người có vai trò quan trong cuộc phản đảo chính, lật đổ Lê Nghi Dân đưa Lê Tư Thành lên ngôi (vua Lê Thánh Tông).
  • Lúc sinh thời, ông làm tới chức Thái úy, Sái Quận Công, sau khi chết được vua Lê Thánh Tông vinh phong Thái sư-Cương quốc công.
  • Năm 1465, Nguyễn Xí qua đời được truy tặng làm Thái sư, thụy là Nghĩa Vũ.
  • Hết tang, năm 1467, vua Lê Thánh Tông lại cho dựng đền thờ theo chế độ quốc tạo, quốc tế và lệnh cho Trạng nguyên Nguyễn Trung Trực viết văn bia phong thần là: "Thượng đẳng phúc thần, Hiển uy chính nghị anh kiệt Trung trinh đại vương".
  • Năm Hồng Đức thứ 15 (1484) tặng làm Cương quốc công , sau phong Thượng đẳng phúc thần , Trung Trinh Đại Vương dựng đền ở xã Nghi Hợp, huyện Nghi Lộc, tỉnh Nghệ An. [1]
  • Ông sinh được 15 người con trai Và 8 Người con gái đều giúp nhà lê trung hưng , " Con trai lấy vợ Công chúa Con Gái lấy chồng Hoàng Tôn ai cũng vinh quang một mức phẩm hàm " Trích đoạn Di huấn Của Cụ Nguyễn Xí.
  • Tên ông được đặt tên cho một phố ở Hà Nội, phố Nguyễn Xí nối từ phố Đinh Lễ tới phố Tràng Tiền. Thời Pháp thuộc là phố Boa-xi-e (rue Boissière).
  • Tên ông cũng được đặt cho tên một con đường ở phường 13, quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh, đường Nguyễn Xí.
  • Dòng họ Nguyễn Đình có tổng cộng 15 chi lớn, Nhà thờ chính của Họ Nguyễn Đình chính là Đền thờ Thái Sư Cương quốc Công Nguyễn Xí ở xã Nghi Hợp, Nghi Lộc, Nghệ An. Đến nay, dòng họ Nguyễn Đình đã phát triển rộng khắp trên địa bàn cả nước cả ở nước ngoài, nhưng tập trung nhất là ở huyện Nghi Lộc, tỉnh Nghệ An.
  • Họ Nguyễn Đình là một trong những dòng họ vinh hiển bậc nhất trong chế độ phong kiến Việt Nam, đặc biệt thịnh đạt trong lĩnh vực võ nghiệp. Trong thời kỳ phong kiến, đã có hàng ngàn người con của dòng họ Nguyễn Đình được phong tước Công, hầu, bá, hàng ngàn người được triều đình phong sắc.
  • Riêng ở nhà Thờ Chi 5 ở huyện Nghi Lộc, đã có tổng cộng hơn 20 sắc phong. Tuy nhiên, một số chi nhánh của dòng họ Nguyễn Đình đến nay vẫn chưa tìm về được với Dòng họ do thất lạc gia phả.
  • Theo Da Phả Họ Nguyễn của Việt Nam được xếp vị trí thứ 3 trong top 10 họ phổ biến nhất thế giới, chiếm 60% dân số và là dòng họ phổ biến nhất Việt Nam cũng như hải ngoại với ước tính 36 triệu người (hơn 1/3 dân số Việt Nam) mang họ Nguyễn. Tính trên thế giới ước tính họ Nguyễn có khoảng 90 triệu người.
  • Theo Một Tài Liệu Khác, Thì Họ Nguyễn Đình Gốc Lý Ở Thanh Hóa Và Họ Nguyễn Đình Ở Nghệ An Có Nguồn Gốc Từ Họ Lý Thái Tổ .[2][4] [2][5]
  • Một tài liệu khác, thì Nguyễn Đình Húc ở Kệ Sơn, Kinh Môn, Hải Dương sinh năm 1379, cha ông là Nguyễn Đình Đỉnh đỗ thái học sinh thời Trần. Vậy phải chăng dòng dõi Nguyễn Đình Húc cũng là một tổ của họ Nguyễn Đình?!.
  • Theo sách Thất tộc Thổ ty Lạng Sơn, một trong những tổ Nguyễn Đình là Nguyễn Chí Tôn (cuối đời Lý) nguyên quán ở Bân Trạch, huyện Thiên Lộc, phủ Đức Quang (nay thuộc Can Lộc, Hà Tĩnh), đến thời Minh thuộc có hậu duệ là Nguyễn Thế Chương theo Lê Lợi khởi nghĩa Lam Sơn.

GIA PHẢ MỘT NHÁNH ĐẠI CHI 8

Theo gia phả tại Thượng Xá, tỉnh Nghệ An và theo thông tin từ anh Nguyễn Đình Thuật, phả hệ Đại chi 8, nhánh cụ Nguyễn Đình Lộc, như sau: Đức tổ Cương quốc công Nguyễn Xí.

1. Đô tổng binh Nguyễn Tôn Cao (con trai thứ 8 - Đại chi 8).

2. Nghị quận công Nguyễn Thế Chương.

3. Đô đốc Nguyễn Cẩm Miên.

4. Cẩn quận công Nguyễn Công Hán.

5. Dũng quận công Nguyễn Như Viễn.

6. Thượng tướng Nguyễn Công Thắng (sinh ra tại TP. Vinh), làm quan Đô tổng binh Lạng Sơn.

7. Thao quận công Nguyễn Đình Lộc (sinh năm 1644 tại Lạng Sơn). Vừa qua, tôi nhận được 1 bản gia phả của 1 chi phái khác về cụ Nguyễn Thế Chương, do chị Nguyễn Thuyên gửi. Xin trân trọng giới thiệu nội dung quyển gia phả này, giúp các bác Đại chi 8 thêm tư liệu để đối chiếu, kết nối dòng tộc.

Giới thiệu: GIA PHẢ HỌ NGUYỄN THẾ CHƯƠNG Nguyên ông thuỷ tổ ta tên là Nguyễn Thế Chương, quê ở xứ Nghệ An, phủ Đức Quang, huyện Thiên Lộc, xã Mân xá. Vào thời Hậu Trần, xứ Thanh Hoá, phủ Thiệu Hoá, huyện Lam Sơn, xã Lam Hương, có người tên gọi là Lê Trừ và con giai gọi là Lê Nuyên Lợi, chạy loạn đến nước Xiêm Thành, đi đánh cá bắt được thanh thần kiếm rồi chiêu tập thiẽn hạ anh hùng. Ông Nguyền Thế Chương tụ mộ được năm nghìn tráng sỹ đi theo ông Lê Nguyên Lợi khỏi nghĩa tại Lam Sơn, đánh diệt quân Tầu thua chạy, quân ta đuổi thẹo đến xứ Lạng Sơn cửa Quan Quỷ Môn giết được tướng Tầu tên là Liễu Thăng. Người Tầu đều chạy về nước, họ Lê định yên được thiên hạ bèn lên ngôi, đặt niên hiệu Thuận Thiên Nguyên Niên. Ông Chương được sắc phong cho chức Bình Ngô Khai Quốc, Tả Mạnh Nguyên thần vũ công tướng quân'Chương quận công.

Ông Nguyễn Thế Chương sinh được 12 con trai: 1. Nguyễn Nguyên Hách. 2. Nguyễn Tông Mật. 3. Nguyễn Trung Mãn. 4. Nguyễn Đức Hoà. 5. Nguyễn Tử Thiên. 6. Nguyễn Kỳ Thuận. 7. Nguyễn Tử Mĩ. 8. Nguyễn Cẩm Miên. 9. Nguyễn Phiêm. 10. Nguyễn Vĩnh Thanh. 11. Nguyễn Tuần Kiểm. 12. Nguyễn Thiệm.

Các người con này đều làm quan, có người ở trong kinh thành, có người đi làm các quan trấn không thể nhớ rõ. Riêng ông thứ 8 là Vũ Nghĩa Tướng quân Đô đốc kiêm sự nghị quận công Nguyễn Cẩm Miên, phụng chỉ đem hơn một vạn năm nghìn binh tướng lên xứ Lạng Sơn quan chánh trấn thủ, đồn đóng ở thành Lạng Sơn, phân phái quan quân đóng giữ các cửa quan ải: Nam Quan, Lạc Khi, Bình Nhi, Bình Lăng, Lân Quan, Kết Quan. Mỗi cửa quan đóng 2 nghìn người để chống giữ. Lúc bấy giờ biên giới chưa yên, nhà vua lệnh cho họ Nguyễn và họ Vy phải ở mãi làm quan chuẩn chỉ cho cha truyền con nối tại Lạng Sơn không cho về quê quán nữa. Nghị quận công Nguyễn Cẩm Miên sinh được con trai là Nguyễn Công Hãn, làm quan nối chức cha, sắc phong Dực Vận - Tán - Trị - Công - Thần - Vũ nghĩa tướng quân. Các đời sau, cha truyền con nối làm quan phiên trấn, đến nay đã truyền trên 23 đời:

1. Ông tổ đời thứ nhất: Nguyễn Thế Chương vẫn còn ở Nghệ An.Ông Chương được sắc phong cho chức Bình Ngô Khai Quốc, Tả Mạnh Nguyên thần vũ công tướng quân 'Chương quận công.

2. Đời thứ hai: Nguyễn cẩm Miên, sau đổi Nguyễn Đức Minh ở hẳn xứ Lạng Sơn được sắc phong quan tước “Dực Vận - Tán - Trị - Công - Thẩn - Vũ - Nghĩa tướng qúân, Nghị Quận Công”, lĩnh chức Lạng Sơn chánh trấn thủ , Các đời sau, cha truyền con nối làm quan phiên trấn, đến nay đã truyền trên 23 đời

3. Đời thứ 3: Nguyễn Công Hán tước phong “Dực vận tán trị công thần vũ nghĩa tướng quân kính quận công”.

4. Đời thứ tư: “Nguyễn Thư Quan, tước phóng “Tán trị công thần vũ nghĩa tướng quân Dũng quận Công”.

5. Đời thứ nãm: Nguyễn Duy Thọ, tước phong “Đặc mạnh tiến phụ quốc tán trị công thần vũ Dực tướng quân tản nghĩa hầu”.

6. Đời thứ sáu: Nguyễn Đức Rình: sắc phong tước “Đặc mạnh tiến phụ quốc tán trị công thần vũ dực tướng quân sương nghĩa hầu”.

7. ĐỜi thứ bảy: Nguyễn Duy Tân được phong “Đặc mạnh tiến phụ quốc tán trị công thần vũ huân tướng quân chấn quận công”.

8. Đời thứ tám: Nguyễn Duy Tông tước phong: “Đặc mạnh tiến phụ quốc tán trị công thần vũ dực tướng quân Huân quận công”.

9. Đời thứ chín: Nguyễn Phục Hưng, tước phong “Đặc mạnh tiến phục quốc thượng tướng quân Thần vũ tứ vệ quân Vụ Lam quận công”.

10. Đời thứ mười: Nguyễn Phục Thanh, tước phong “Đặc mạnh tiến phục quốc thượng tướng quân thận vũ tứ vệ quân vũ, Nhuệ quận cộng”. Cụ Nhuệ quận công sinh được hai con trai, con trưởng là Nguyễn Đình Đa, phong tước “Thắng nghĩa hầu”, tính khí hung cường đem quân chống cự với Tầu, trứng tên giặc mà hy sinh trên chiến trận. Được quan dân lập một toà miếu, thờ làm thành hoàng ở bên hữu trước mặt chùa Nà Cườm, xã Hữu Thư. Còn con thứ hai lầ Nguyễn Đình Ngạn kế tập.

11. Đời thứ mười một: Nguyễn Đình Ngạn, tước phong “Đặc mạnh liên phụng quan thượng tướng quân thần vũ tứ vệ quân vụ toàn quận công”.

12. Đời thứ mười hai: Nguyễn Đình Tiến, tước phong “Đặc mạnh tiến phụ quốc thượng tướng quân thần vụ tự vệ quàn vụ Lang quận công”.

13. Đời thứ mười ba: Nguyễn Đình Kế, sắc phong tước “Đặc mạnh tiến phục quốc thường tướng quân, đô đốc kiêm sự tặng phong đô đốc đồng chi Cường quận công”.

14. Đời thứ mười bốn: Nguyễn Đình Trinh, sắc phong tước “Đặc mệnh tráng liệt anh liệt tướng quân đô đốc đồng tri chu thái hầụ”.

15. Đời thứ mười lăm: Nguyễn Đình Trường, tước phong “Đặc mạnh tiến phụ quốc thiêm đốc kiêm thượng tướng quân chấn ngự biên cương mẫn trung hầu”.

16. Đời thứ mười sáu: Nguyễn Đình Lộc, sắc phong tước “Đặc mạnh tiến phụ quốc thượng Tướng quân kiêm tuần thủ chấn ngự biên cương Bảo Trung Hầu”.

17. Đời thứ mười bẩy: Nguyễn Đình Lưu, tước phong “Đặc mạnh tiến phụ quốc thượng Tướng quân kiêm tuần thụ chiếm ngự biên cương Lâm Quế Hầu”.

18. Đời thứ mười tám: Nguyễn Đình Lã, sắc phong tước “Chiêu Vũ tướng quân tuyên uý sứ vọng triều bá”.

19. Đời thứ mười chín: Nguyễn Đình Vượng, sắc phong “Anh liệt tướng quân chiêu thảo sứ, tước Vượng tài bá”.

20. Đời thứ hai mươi: Nguyễn Đình Niêm, sắc phong ban “Văn Lâm, Lang thu chức Thát Lãng châu Tri châu”.

21. Đời thứ hai mốt: Nguyễn Đình Tuấn sắc phong “Trung Tín hiệu uy chánh Bát phẩm bá hộ”.

22. Đời thứ hai mươi hai: Nguyễn Đình Phong chức vụ “Tuần phủ Tràng Định”.

23. Đời thứ hai mươi ba: Nguyễn Đình Ất, chức quan “Thừa phán châu Thoát Lãng”.

Gia phả không có thông tin về niên đại các cụ trên đây. Chị Nguyễn Thuyên có thể cung cấp thêm cho mọi người biết, vị vụ cụ Đời thứ hai mươi ba, Nguyễn Đình Ất, chức quan “Thừa phán châu Thoát Lãng” mất khoảng năm nào được không?

  • Đặc biệt là Nguyễn Xí trở thành “Người hai lần khai quốc” và khai mở ra một dòng họ vào loại vẻ vang nhất trên đất Lam Hồng ở thời trung đại: 15 vị Phò Mã ,2 vị Tướng Quốc và Tể Tướng , 20 vị Thái úy , Thái Phó , Đại Tư mã , Thái bảo , thiếu bảo , Đô Đốc , Tướng Quân , 59 vị Quốc công và Quận công, 179 vị tước hầu, 141 vị tước bá, 7 vị tước nam, 39 vị tước tứ...vv
  • một số nhân vật nổi tiếng của dòng họ Nguyễn Đình qua các thời kỳ lịch sử như:

Nhân vật[sửa mã nguồn]

  • Nguyễn Phùng Thì Quan Nhà Hậu Lê.
  • Nguyễn Thúc Nga Quan Nhà Hậu Lê.
  • Nguyễn Tôn Cao Quan Nhà Hậu Lê.
  • Nguyễn Cảnh Thanh Quan Nhà Hậu Lê.
  • Nguyễn Trọng Đạt Linh Quận Công.
  • Nguyễn Phúc Đà. Quan Nhà Hậu Lê.
  • Nguyễn Hữu Lượng. Quan Nhà Hậu Lê.
  • Nguyễn Đồng Dân. Quan Nhà Hậu Lê.
  • Nguyễn Nhân Thực. Quan Nhà Hậu Lê.
  • Nguyễn Văn Chinh. Quan Nhà Hậu Lê.
  • Nguyễn Duy Tân .Quan Nhà Hậu Lê.
  • Nguyễn Ngọc Hỷ Hoàng Tôn Nhà Hậu Lê.
  • Nguyễn Ngọc Lễ. Hoàng Tôn Nhà Hậu Lê.
  • Nguyễn Ngọc Minh. Hoàng Tôn Nhà Hậu Lê.
  • Nguyễn Ngọc Liên. Hoàng Tôn Nhà Hậu Lê.
  • Nguyễn Ngọc Thái Hoàng Tôn Nhà Hậu Lê.
  • Nguyễn Ngọc Biên Hoàng Tôn Nhà Hậu Lê.
  • Nguyễn Ngọc Bình Hoàng Tôn Nhà Hậu Lê.
  • Nguyễn Ngọc Quỳnh (Kinh) Hoàng Tôn Nhà Hậu Lê.
  • Đại Thi Hào Nguyễn Du .

Thành Hoàng Làng[sửa mã nguồn]

  • Ông tổ của làng trống Hoàng Hà là Nguyễn Phúc GiangNguyễn Phúc Ðạt, dòng dõi họ Nguyễn Ðình, hậu duệ của Cương quốc Công Nguyễn Xí.Theo ông Nguyễn Ðức Ðường, năm nay đã 75 tuổi, thì nghề làm trống của họ Nguyễn ở Diễn Hoàng đã có từ xa xưa, khoảng mấy trăm năm rồi, Ông Tổ Là Nguyễn Phúc Giang Và Nguyễn Phúc Đạt Thuộc Dòng Dõi Nguyễn Xí .

Chính Trị[sửa mã nguồn]

Nhà Giáo[sửa mã nguồn]

  • giáo sư NGND Nguyễn Đình Chú với tác giả biện soạn thảo Văn Thơ về tác phẩm Phan Bội Châu, Giáo trình Lịch sử Văn học Việt Nam (viết chung) tập 4A, 4B , Văn lớp 10, Văn lớp 11 sách giáo khoa và sách giáo viên thí điểm, cải cách, phân ban, chỉnh lý hợp nhất (chủ biên) .
  • Nguyễn Đình Hương Đại biểu Quốc hội Việt Nam khóa 11, hiệu trưởng trường Đại học kinh tế quốc dân .
  • Cô Giáo Nguyễn Thị Thu Hiền.
  • Cô Giáo Nguyễn Thị Thu Hương.
  • Giáo sư Nguyễn Đình Cống...vv

Ngoại giao[sửa mã nguồn]

Quân Sự[sửa mã nguồn]

  • Trung Tướng Nguyễn Đình Hậu
  • Anh Hùng Nguyễn Đình Khoa , sau chiến tranh, Ông từng đảm nhiệm nhiều chức vụ quan trọng như tư lệnh sân bay Hòa lạc, phó tham mưu trưởng quân chủng phòng không không Quân, phó giám đốc công ty bay miền bắc, sau đó nghỉ hưu vào năm 2000.
  • Trung Tướng Nguyễn Mạnh Đẩu.
  • Giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Đình Chiến (sinh năm 1954) là một sĩ quan cấp cao trong Quân đội Nhân dân Việt Nam, hàm Trung tướng, nguyên Viện trưởng Viện Chiến lược Quốc phòng (Việt Nam) (2012-2014).
  • Nguyễn Đình Tiến Thiếu Tướng, Tư lệnh Quân Khu 5 ......vv

Nhà Thơ Nhà Văn[sửa mã nguồn]

Bác Sĩ[sửa mã nguồn]

  • Bác sĩ Nguyễn Đình Tạo (Chưa có gì gì về trình độ học vấn.. )Bác sĩ bệnh viện trung ương.
  • Bác sĩ Nguyễn Thị Thu lành ...vv
  • Bác sĩ Nguyễn Đình Sừng (Nguyễn Sỹ Dũng),nguyên Viện trưởng Viên quân dân y Miền Đông Nam Bộ, Bác sỹ Bệnh viện Trung ương Huế.

Ca sỹ[sửa mã nguồn]

  • Ca sỹ Nguyễn Đình Đạt (với nhiều ca khúc trữ tình quê hương).......vv

Võ Sỹ[sửa mã nguồn]

  • Tiến Sỹ Võ Nguyễn Trọng Thưởng là là con trai trưởng của Thái bảo Hoằng Quận công Nguyễn Kế Hưng. Ông sinh vào khoảng giữa thế kỷ XVI tại làng Thượng Xá, tổng Thượng Xá, huyện Chân Phúc. Vốn xuất thân từ dòng dõi võ tướng nên ông được đào tạo trưởng thành qua trường võ, có “võ công xuất chúng”. Gia phả của dòng họ cho biết: ông từng thi đậu Tiến sỹ võ, đạt giải vô địch về võ nghệ, tinh thông binh thư.
  • Võ Sỹ Nguyễn Đình Toàn.
  • Võ Sỹ Nguyễn Đình Tuấn...vv

Khoa Học và Vật lý[sửa mã nguồn]

Người Đẹp[sửa mã nguồn]

Kinh doanh[sửa mã nguồn]

  • Giám đốc Ngân hàng Địa Phương Nguyễn Sinh Hùng.
  • Nguyễn Văn... Phó Tổng Giám Đốc Tập Đoàn Dầu khí Việt Nam .
  • Tỷ phú Nguyễn Đình Quát Anh Quát được thâu nhận làm công nhân, rồi nhờ tiếng Pháp khá giỏi của anh, cộng với bản chất thông minh, cần mẫn, anh vừa làm vừa học nghề xây dựng. Anh Quát leo dần lên nấc thang nghề nghiệp, mấy năm sau anh trở thành nhà thầu khoán, mở đầu sự nghiệp tại Sài Gòn, rồi lan ra khắp Đông Dương lúc đó là thuộc địa của Pháp. Đến năm 1942, anh Quát giờ là ông Triệu phú Nguyễn Đình Quát, dần dần là Tỷ phú vào những năm đầu của nền Đệ I VNCH. Ông tham gia chính trường: 1/ Vào Quốc Hội Việt Nam, ông Nguyễn Đình Quát từng lãnh đạo Phái Đoàn Quốc Hội VNCH công du Anh Quốc, được Nữ Hoàng Anh tiếp đón trọng thể. 2/ Ứng cử chức vụ Tổng thống VNCH ngày 9-4-1961 gồm 3 liên danh: Ngô Đình Diệm/Nguyễn Ngọc Thơ, Nguyễn Đình Quát/Nguyễn Thành Phương, Hồ Nhựt Tân/ Nguyễn Thế Truyền.

https://www.tvvn.org/nhan-cach-hiem-co-cua-ty-phu-nguyen-dinh-quat-nguoi-h-o-gia/...vv

Ghi chú[sửa mã nguồn]

Hình minh hoạ chữ Nguyễn trong tiếng Hán không cần thiết vì đã có giải thích trong phần nguồn gốc

Đây là họ người Việt chứ không phải họ người Hoa nếu cần thiết phải có hình ảnh minh hoạ thì là hình của 1 chữ NGUYỄN chứ không phải chữ ruyan (mà mối liên hệ giữa 2 họ đó còn chưa có chắc chắn)

Đây la chữ Nôm, không phải chữ Trung Quốc, cũng giống như Nhật dùng Kanji, Hàn Quốc có Hanja có ai bảo những người dùng chữ này có nghĩa họ là người Hoa?. Và tới hiện nay người biết tiếng Việt vẫn còn dùng chữ này, cái chữ bạn đang đòi xóa đim để viết chữ Nguyễn, ví dụ như trong văn khấn hay văn bia[3]. Tôi không nghĩ có gì sai khi để hình ảnh để minh họa cả, trừ khi bạn có hình minh họa tốt hơn hoặc bạn chứng minh giờ không còn ai dùng rồi hẵn xóa, xin cảm ơn.--115.73.26.211 (thảo luận) 02:44, ngày 20 tháng 6 năm 2012 (UTC)
Nếu có ai đó còn dùng thì đã sao, hiện tại việc dùng chữ Nguyễn viết bằng chữ Quốc Ngữ không phải phổ biến hơn sao, trên bia mộ của người ta sử dụng chữ Ruan này hay chữ Quốc Ngữ,?? vì sao nó đã được giải thích trong phần miêu tả rồi mà vẫn phải đưa nó lên thành 1 cái hình ??
Tôi đã giải thích, để minh họa. Đặc biệt nhiều người đọc không cài font chữ tiếng Hán vẫn có thể đọc được. Tôi nhắc lại, nó vẫn chưa chết thì nó vẫn có chỗ đứng ở đây.--115.73.36.179 (thảo luận) 05:19, ngày 20 tháng 6 năm 2012 (UTC)
Để minh hoạ cho cái gì. Vì sao nó đã được giải thích trong phần miêu tả rồi mà vẫn phải đưa nó lên thành 1 cái hình ??. Font unicode là universal, ai cũng có thể đọc được hết

Tôi là 115.73. Minh họa là chữ Nguyễn đã được viết như thế này, dùng như thế này trong suốt một thời gian dài. Việc nó được giải thích không có quyền gì là lý do để xóa một hình minh họa. WinXP SP1 trở về trước phải cài East Asia Script mới có thể đọc được những chữ này. Nói đơn giản thế này, tôi sẽ không để cho bạn xóa chữ này ra trừ khi bạn có lý do nào khác thuyết phục hơn hoặc trừ khi cộng đồng buộc là phải xóa nó. Tôi sẽ không nghe theo ý kiến cá nhân hết sức thiếu căn cứ của bạn, vì vậy xin đừng phí thời gian.--ImFog (thảo luận) 07:14, ngày 20 tháng 6 năm 2012 (UTC)|

Đề nghị khoá[sửa mã nguồn]

Tôi xin đề nghị khoá trang này đối với thành viên vô danh, vì:

  1. Gần đây có nhiều IP có thiện ý, thường thêm tên những người như tể tướng, quan lại vào bài, nhưng lại sai chính tả quá nhiều, lại không có gì để xác minh.
  2. Đây là một bài khá quan trọng, vì số người họ Nguyễn tại VN chiếm tỉ lệ cao, nên sẽ có nhiều người quan tâm đến bài viết này, thành ra khả năng bài được phát triển hơn cũng sẽ rất cao, nhưng khả năng bị phá hoại còn cao hơn nhiều, vì có nhiều người sẽ tự thêm tên mình vào. jan Win (tl~đg) 05:04, ngày 30 tháng 3 năm 2017 (UTC)
Đã khóa 1 ngày. P.T.Đ (thảo luận) 12:39, ngày 2 tháng 4 năm 2017 (UTC)
Những tên nhân vật thuộc họ Nguyễn (hoặc họ nào khác) mà chưa có bài viết tại WP hay là không có nguồn uy tín kèm theo, bạn có thể xóa ngay, để tránh lạm dụng. --Langtucodoc (thảo luận) 12:42, ngày 2 tháng 4 năm 2017 (UTC)

Chúa Nguyễn và Nhà Nguyễn là dòng dõi Nguyễn Bặc hay dòng dõi Đào Sư Tích[sửa mã nguồn]

Theo gia phả họ Dương-Nguyễn-Đào- Phạm thì dòng Chúa Nguyễn là hậu duệ Đào Sư Tích do Đào Sư Tích chống lại Hồ Qúy Ly chuyên Quyền Nên con cháu sợ trả thù Nên đổi ra họ Nguyễn là Tổ Nguyễn Kim .nếu vậy ta loại bỏ Chúa Nguyễn và Nhà Nguyễn ra khỏi Họ Nguyễn. thảo luận quên ký tên này là của 8.37.225.89 (thảo luận • đóng góp).

  1. Nếu có thể, bạn hãy dẫn gia phả Dương-Nguyễn-Đào-Phạm ra, chi tiết hơn nữa là phần nào và trang mấy, làm sao cho nó có thể kiểm chứng được.
  2. Tổ đổi họ, vậy các con cháu đều mang họ đó, nên đem tên con cháu vào là hợp lý, không phải vì lý do trước kia tổ không mang họ đó mà bỏ tên con cháu mang họ này ra khỏi danh sách. Người xưa đổi họ liên miên, hiện tại ta biết ta mang họ này chứ chưa chắc ta đã biết được ngày xưa tổ ta mang họ gì. jan Win (tl~đg) 07:19, ngày 7 tháng 4 năm 2017 (UTC)

Đúng, chuyển họ nào thì viết vào bài họ đó, chứ nếu không xét từ thời Hùng Vương thì làm gì có các họ như bây giờ. Lý lẽ của IP không thuyết phục. Én bạc (thảo luận) 07:29, ngày 7 tháng 4 năm 2017 (UTC)

Vụ đổi họ này, khắp nơi trên thế giới xảy ra liên miên. Nhiều khi bản thân một người phải đổi họ mấy lần trong cuộc đời. Thế nên việc lấy họ để xác định bà con dòng tộc là một việc rất mơ mộng, nên thơ. Kẹo Dừa✌(nhắn cho tôi ^^) 07:34, ngày 7 tháng 4 năm 2017 (UTC)

Gốc họ Nguyễn đổi ra họ khác thì lên cho vào họ Nguyễn[sửa mã nguồn]

Trường hợp như Vương Thừa Vũ gốc Nguyễn và Trần Đăng Ninh gốc Nguyễn, cả Bùi Bằng Đoàn gốc Nguyễn thì cho vào họ Nguyễn, nhưng Nguyễn An Ninh thì gốc là họ Đoàn là cháu 11 đời Đoàn Công Uẩn .như Nguyễn Quyết gốc họ Đào thì không phải họ Nguyễn rồi.8.37.225.94 (thảo luận) 09:54, ngày 12 tháng 4 năm 2017 (UTC)

Khác nhau hoàn toàn. Vương Thừa Vũ có tên thật là Nguyễn Văn Đồi, Trần Đăng Ninh có tên thật là Nguyễn Tuấn Đáng, tức là từ khi sinh ra thì họ của họ là họ Nguyễn, nên ta phải đưa họ vào bài Nguyễn là hoàn toàn thích hợp. Còn Nguyễn An Ninh lại khác, vì từ khi ra đời, ông Ninh đã mang họ Nguyễn, vì thế ông ấy phải đưa vào bài Nguyễn, ở đây xét họ có được từ khi ra đời chứ không phải họ của tổ tiên. - jan Win (tl~đg) 10:03, ngày 12 tháng 4 năm 2017 (UTC)
Ví dụ kỹ hơn: Như có ông kia tên khai sinh là Trần Văn Khang. Sau này do một số lý do, ông đã đổi họ sang họ Nguyễn, thành Nguyễn Văn Khang. Ông Nguyễn Văn Khang sinh ra ông Nguyễn Văn Tức. Cách sắp xếp cho hai người này là: ông Khang sẽ được đưa vào bài Trần (họ)họ của ông có được từ khi sinh ra là họ Trần, nhưng ông Tức ta lại phải đưa vào vào bài Nguyễn, vì rõ ràng từ khi sinh ra ông Tức đã mang họ Nguyễn. - jan Win (tl~đg) 10:10, ngày 12 tháng 4 năm 2017 (UTC)
Tất cả sự nhầm lẫn của bạn là do dùng từ "gốc <họ gì đó>" mà thành. - jan Win (tl~đg) 10:12, ngày 12 tháng 4 năm 2017 (UTC)

Nếu tính từ lúc sinh ra mà họ Nguyễn thì nhiều lắm, nhưng nếu ta biết được họ Gốc thì cho vào, còn không biết thì thôi vậy 8.37.225.94 (thảo luận) 10:24, ngày 12 tháng 4 năm 2017 (UTC)

Tôi đã nói rồi, chỉ lấy họ có được từ khi mới sinh chứ tuyệt đối không đem họ "gốc" vào bài, cái này tôi đã nói rồi mà. - jan Win (tl~đg) 10:26, ngày 12 tháng 4 năm 2017 (UTC)

Họ Nguyễn là dòng dõi Nước Nguyễn của Nhà Thương[sửa mã nguồn]

Nước Nguyễn tồn tại trong nhà Thương (1766-1122TCN) tương truyền vua nước Nguyễn mang họ Yển là dòng dõi Cao Dao nhà Hạ ,đến đời Thương hậu duệ họ Yển lập nước Nguyễn8.37.225.80 (thảo luận) 11:52, ngày 15 tháng 4 năm 2017 (UTC)

Thì sao? - jan Win (tl~đg) 11:53, ngày 15 tháng 4 năm 2017 (UTC)

Nhưng trong gia phả họ Nguyễn Vân ở Thanh Oai Hà Nội thì Kinh Dương Vương tên Nguyễn Lộc Tục thì cho tên Nguyễn Lộc Tục vào8.37.225.80 (thảo luận) 12:01, ngày 15 tháng 4 năm 2017 (UTC)

Các gia phả, đình làng, mộ bia chưa hẳn là nguồn đáng tin cậy, bạn nên dẫn nguồn từ các nguồn hàn lâm như chính sử... Hiện nay họ của những người thuộc hàng Hùng Vương trở về trước vẫn chưa có ai khẳng định chắc chắn được, ngày nay thường phổ biến quan điểm thời Hùng Vương trở về trước người Việt vẫn chưa có họ. - jan Win (tl~đg) 12:08, ngày 15 tháng 4 năm 2017 (UTC)
Có cảm giác như nhiều người đang cố tình nghĩ họ Nguyễn là Quốc tính của người Việt Nam thì phải. Cứ hễ các bậc tiền nhân gọi là Quốc tổ thời huyền sử thì đều bị ghép họ Nguyễn vào. Kẹo Dừa✌(nhắn cho tôi ^^) 17:02, ngày 15 tháng 4 năm 2017 (UTC)

Mở trình đơn chính Wikipedia Tìm kiếm Khác biệt giữa các bản “Nguyễn (nước)” ← Thay đổi trước Nguyễn (nước) (sửa đổi) Phiên bản lúc 10:32, ngày 8 tháng 3 năm 2020

THÊM 1.306 BYTE,  5 PHÚT TRƯỚC

→‎Lịch sử Nguyễn[7] (chữ Hán: 阮) nguyên là một thái ấp, sau bành trướng thành phiên thuộc thời ThươngChu.

Thông tin ảo , bằng chứng các nước thời thương- chu [8]

Nguyễn quốc
thế kỉ 11 TCN–Không rõ
Vị thếQuân chủ
Thủ đôKính Xuyên
(nay thuộc huyện Phụng Tường, thành phố Bảo Kê, tỉnh Cam Túc)
Công 
Lịch sử 
• Nguyễn Vương phong
thế kỉ 11 TCN
• Không rõ
Không rõ
Kinh tế
Đơn vị tiền tệTiền Trung Quốc
Tiền thân
Kế tục
[[Họ Nguyễn]]
Không rõ

Lịch sử[sửa mã nguồn]

Nước Nguyễn tồn tại ở địa phận huyện Kính Xuyên ngày nay, tương truyền sau khi bị diệt thì người nước này chạy đi tứ xứ và giữ họ Nguyễn để nhớ về gốc gác.

Xem thêm[sửa mã nguồn]

Tham khảo[sửa mã nguồn]

  1. ^ Lịch triều hiến chương loại chí, Phan Huy Chú, Nhà xuất bản Giáo dục, 2006
  2. ^ a ă â Lỗi chú thích: Thẻ <ref> sai; không có nội dung trong thẻ ref có tên :0
  3. ^ Khu di tích đền thờ Cương quốc công Nguyễn Xí
  4. ^ [1]
  5. ^ [2]
  6. ^ “Ông Nguyễn Đình Khang Tham Dư Công Tác Chuẩn Bị Tổ Chức Đại lễ Vesak Liên Hợp Quốc 2019.”. 
  7. ^ 阮國 - Nguyễn quốc, baike.baidu.com
  8. ^ “nguồn”. 


Người dùng vô danh 2001:EE0:4534:6BC0:368A:7BFF:FE46:48AE

Người họ Nguyễn nổi bật[sửa mã nguồn]

Tôi thấy có hiện tượng một số thành viên thêm vào mục này, không chỉ của họ Nguyễn mà còn ở các họ khác, theo kiểu liệt kê. Tức là, mục này dường như dành để viết ra hết các nhân vật có họ Nguyễn có bài ở Wikipedia vậy. Xin nhớ rằng để có bài trên Wikipedia thì một nhân vật phải đạt được đủ đnb nhất định. Và cũng như thế, khi nêu tên một nhân vật nổi bật trong một họ, nên chăng chỉ chọn những người nổi bật nhất, trong số những nhân vật vốn dĩ đã nổi bật trên Wikipedia, mang họ đó thôi. Kẹo Dừa✌(nhắn cho tôi ^^) 17:25, ngày 25 tháng 4 năm 2017 (UTC)

Nếu trang này mà liệt kê hết tất cả những người họ Nguyễn có bài trên Wikipedia thì chắc viết mãi không hết. Theo tôi chỉ những nhân vật mang họ Nguyễn có độ quan trọng từ cao đến đặc biệt mới nên có tên trong bài. - jan Win (tl~đg) 22:09, ngày 25 tháng 4 năm 2017 (UTC)

Trong thời gian tới tôi sẽ rà soát lại các bài về họ và chỉ để lại những nhân vật nào thật sự xuất chúng. Kẹo Dừa✌(nhắn cho tôi ^^) 11:34, ngày 26 tháng 4 năm 2017 (UTC)

Người họ Nguyễn nổi tiếng và Người họ Nguyễn có tên trong Khoa Bảng thì cho vào hết[sửa mã nguồn]

Người họ Nguyễn nổi tiếng như, Nguyễn Hữu Tiến tác giả Quốc Kỳ Việt nam. Hay Nguyễn Tuân nhà Văn thì có đã có tên ở Wiki rồi, thì đưa vào họ Nguyễn này .nhưng những người họ Nguyễn khác như, Thủ khoa nho học Nguyễn Vết Tuyên thì ở Wiki không có bài viết về ông Tiến sĩ thời Lê này thì ta phải thêm tên ông này vào họ Nguyễn.Vì ông này là Thủ khoa tương đương Trạng Nguyên lên cho vào họ Nguyễn và nhiều ông Tiến sĩ họ Nguyễn khác lên cho vào họ Nguyễn8.37.231.12 (thảo luận) 13:58, ngày 24 tháng 8 năm 2017 (UTC)

Hạn chế Những người không phải gốc họ Nguyễn, không phải họ Nguyễn hiện tại, không phải cháu ngoại họ Nguyễn vào trang này[sửa mã nguồn]

Trang này có những người không phải họ Nguyễn vào phá phách và xóa các tên các Thám Hoa họ Nguyễn mình thêm vào.Các tên những Thám Hoa mình thêm vào dù sao những người này điều đỗ tiến sĩ ra làm quan và có tên trong Lịch sử dù rằng các ông ấy không có trong Wiki.Thì dù sao đi nữa thì có tên trong trang họ Nguyễn này để vinh danh các ông ấy.Còn những người không có quan hệ với họ Nguyễn toàn vào đây xóa hết tên của các ông ấy đi, những người này phải xem lại mình có giỏi giang bằng các ông ấy không chứ, trả có tên tuổi gì mà cứ vào xóa tên của người ta, họ Nguyễn rất đông mình thêm tên các ông Tể tướng, Thám hoa, và nhiều tên ông khác vào trang này cho phong phú và đang cần cho thêm tên Kinh Dương Vương vào họ Nguyễn.Tên húy của Kinh Dương Vương là Nguyễn Lộc Tục8.37.231.12 (thảo luận) 14:40, ngày 6 tháng 9 năm 2017 (UTC)

Chào bạn IP, những vị được thêm vào danh sách "Những người họ Nguyễn nổi bật" là những người cần phải nổi bạt hơn những người nổi bật bình thường. Họ Nguyễn là họ phổ biến nhất Việt Nam, đương nhiên nhân vật nổi bật họ Nguyễn sẽ rất nhiều. Việc thêm ai đó vào danh sách này phải cân nhắc kỹ, vì nếu làm cho danh sách này quá dài, những nhân vật vô cùng nổi bật sẽ rất khó tìm do bị lạc giữa một rừng danh sách. Kẹo Dừa✌(nhắn cho tôi ^^) 15:52, ngày 6 tháng 9 năm 2017 (UTC)