Danh sách nhân vật trong Thủy hử

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm

Thủy hử hay Thủy hử truyện (Chữ Hán: 水滸傳), là một bộ tiểu thuyết chương hồi được sáng tác thời cuối Nguyên đầu Minh. Tác giả của Thủy hử thường được cho là Thi Nại Am, với sự giúp đỡ của La Quán Trung trong những hồi cuối. Thủy hử là trong bốn tác phẩm lớn của văn học cổ điển Trung Hoa, thường gọi là nhóm Tứ đại danh tác. Cốt truyện chính là sự hình thành và những thành tích của một nhóm người chống triều đình mà trở thành giặc cướp, thường gọi là 108 anh hùng Lương Sơn Bạc.

Thủy hử truyện bắt nguồn từ những ghi chép về cuộc khởi nghĩa Tống Giang trong Tống sử và một số ghi chép mang tính chất dã sử trong Đại Tống Tuyên Hòa di sự. Có thể nói Đại Tống Tuyên Hòa di sự, với nội dung về "Tống Giang khởi nghĩa, bị Trương Thúc Dạ đánh bại, quy hàng, theo đánh Phương Lạp", là tiền thân của Thủy hử truyện. Trước khi thành sách, các truyền thuyết dân gian về các anh hùng Lương Sơn Bạc đã truyền lưu khắp vùng Sơn Đông, hình thành nên một nhóm tác phẩm tạp kịch Lương Sơn, phát triển nhất vào thời Nguyên.

Thủy hử có nhiều phiên bản, bản 70 hồi, 100 hồi, 114 hồi, 115 hồi, 120 hồi, 140 hồi,... Trong đó, bản 100 hồi được xem là gần với nguyên tác nhất, nội dung gồm việc các anh hùng Lương Sơn Bạc tụ nghĩa (thường nằm trong khoảng 70 hồi) và bình Liêu đánh Phương Lạp. Kim Thánh Thán, người thời Thanh đã cắt bỏ hầu hết các nội dung khác, bao gồm chương mở đầu của Thủy hử nói về việc 108 tinh tú trốn thoát khỏi phong ấn gây loạn nhân gian, thêm bình luận của mình, từ đó tạo thành bản 70 hồi thường thấy ngày nay, gọi là Bình bản Thánh Thán.

Bản 100 hồi là bản Thủy hử đầu tiên được ghi chép tình tiết Lương Sơn Bạc được chiêu an, chinh Liêu và bình Phương Lạp. Đến bản 115 hồi còn được gọi là Thủy hử giản bản được bổ sung thêm phần bình Điền Hổ, Vương Khánh. Do sự phổ biến của Thủy hử bản 70 hồi của Kim Thánh Thán nên các nội dung trên sau khi bị cắt bỏ đã được tập hợp lại vào sách Chinh tứ khấu, hay Tục Thủy hử, được cho là của La Quán Trung. Thời hiện đại, các nội dung trên đã được chỉnh sửa, biên tập lại để tiếp nối bản Kim Thánh Thán, thành bản 120 hồi ngày nay, trở nên phổ biến với tên gọi Thủy hử toàn truyện. 49 chương cuối của Thủy hử toàn truyện được xuất bản tại Việt Nam với tên gọi Hậu Thủy hử.

Ngoài ra, cuối thời Minh xuất hiện tác phẩm Thủy hử hậu truyện gồm 40 hồi, viết tiếp bản 100 hồi, với nội dung là các thủ lĩnh còn sống sót cùng con em của Lương Sơn Bạc lần nữa tụ nghĩa, trừ gian thần, kháng quân Kim. Một bộ truyện khác là Đãng khấu chí của Du Vạn Xuân thời Thanh, gồm 70 hồi, viết tiếp bản 70 hồi của Kim Thánh Thán, với nội dung là Lương Sơn Bạc bị triều đình đánh dẹp. Kim Bình Mai cũng là một tác phẩm diễn sinh từ Thủy hử. Một số nhân vật của Thủy hử xuất hiện hoặc có quan hệ với một số nhân vật khác trong tác phẩm Thuyết Nhạc toàn truyện (xuất bản tại Việt Nam với tên gọi Nhạc Phi diễn nghĩa). Có một tác phẩm nữa mang tên Hậu Thủy hử truyện, tuy nhiên nội dung của tác phẩm này hầu như không liên quan tới Thủy hử.

Mục lục

Nguyên tắc[sửa | sửa mã nguồn]

Do số lượng các tác phẩm có đề tài Thủy hử và các anh hùng Lương Sơn Bạc có số lượng vô cùng lớn và vẫn còn gia tăng trong thời cận hiện đại. Trong đó nhiều tác phẩm như Tàn Thủy hử của Trình Thiện Chi, Thủy hử tân truyện của Trương Hận Thủy,... thời cận đại, Thủy bạc Lương Sơn của Viên Khoát Thành, Thủy hử biệt truyện của Vương Trung Văn,... thời hiện đại, có những sửa đổi rất lớn về nội dung cốt truyện cũng như hệ thống nhân vật. Vì thế nên danh sách dưới đây chỉ liệt kê các nhân vật trong những tác phẩm nhất định:

  • Cổ kịch:
    • Tạp kịch thời Nguyên.
    • Tạp kịch thời Minh.
  • Tiểu thuyết:
    • Thủy hử truyện (100 hồi), chủ yếu là Viên bản, bản gần với nguyên tác thời Nguyên.
    • Thủy hử truyện (70 hồi), tức Quan bản, bản cắt bớt của Kim Thánh Thán, thời Thanh.
    • Tục Thủy hử, tức Chinh tứ khấu (30-35 hồi), thời Minh.
    • Kim Bình Mai (100 hồi), thời Minh.
    • Hậu Thủy hử truyện (40 hồi), thời Nam Minh.
    • Thủy hử hậu truyện (45 hồi), thời Thanh.
    • Đãng khấu chí (70 hồi), thời Thanh.
    • Thủy hử toàn truyện (120 hồi), thời hiện đại chỉnh sửa, cắt ngắn từ bản Kim Thánh Thán và Tục Thủy hử.
  • Sách sử:
    • Đại Tống Tuyên Hòa di sự, thời Nguyên.
    • Tống sử, thời Minh.
  • Điện ảnh:
    • Tất cả điện ảnh liên quan đến đề tài Lương Sơn Bạc.

Các nhân vật hậu đại Lương Sơn trong các tác phẩm từ thời cận đại trở về trước đều đưa vào danh sách. Danh sách không bao gồm những nhân vật vô danh. Tuy nhiên những nhân vật trên nếu được bổ sung tên họ từ các tác phẩm sau này, bao gồm những tác phẩm viết vào thời kỳ cận hiện đại, sẽ được thêm vào danh sách.

A[sửa | sửa mã nguồn]

A Lý Kỳ[sửa | sửa mã nguồn]

A Lý Nghĩa[sửa | sửa mã nguồn]

A Lý Nghĩa (阿哩义) là một nhân vật trong Tục Thủy hử, xuất hiện trong hồi 87.[1] A Lý Nghĩa là một trong Nhị thập bát tú dưới trướng Ngột Nhan thống quân, ứng với Lâu Kim Cẩu.

A Tú[sửa | sửa mã nguồn]

Á Nhĩ Kỷ Mặc Đặc[sửa | sửa mã nguồn]

Bài chi tiết: Archimedes

Á Nhĩ Kỷ Mặc Đặc (亚尔几默特) là một nhân vật trong Đãng khấu chí, được nhắc tới trong hồi 117.[2] Á Nhĩ Kỷ Mặc Đặc được nhắc tới là một thợ thủ công giỏi của Tây Dương, có thể lấy thấu kinh đốt chiến thuyền, chính là nhà bác học Hy Lạp Archimedes.

An Đạo Toàn[sửa | sửa mã nguồn]

Bài chi tiết: An Đạo Toàn

An Sĩ Long[sửa | sửa mã nguồn]

An Sĩ Long (安士隆) là một nhân vật trong Tục Thủy hử, xuất hiện trong hồi 99.[3] An Sĩ Long là tướng lĩnh dưới quyền Điền Hổ, theo Thái sư Biện Tường đi ngăn chặn quân Lương Sơn. Biện Tường bị Lư Tuấn Nghĩa đánh bại, An Sĩ Long mất tích.

An Sĩ Vinh[sửa | sửa mã nguồn]

An thị[sửa | sửa mã nguồn]

Âm Tú Anh[sửa | sửa mã nguồn]

Âm Tú Lan[sửa | sửa mã nguồn]

Ân Thiên Tích[sửa | sửa mã nguồn]

Ân Thái[sửa | sửa mã nguồn]

Ân Thái (殷泰) là một nhân vật trong Cổ bản Thủy hử, xuất hiện trong hồi 4.[4] Ân Thái có ngoại hiệu Chàng Thiên Tháp, là cường đạo trên núi Hắc Phong.

Anh em Ân Thái, Ân Xuân vốn làm nghề đánh xe, bởi vì đánh chết người, bị quan phủ truy nã nên mới trốn lên núi làm cướp. Ân Xuân sức mạnh hơn người, sử dụng binh khí là một cặp búa to. Ân Thái, Ân Xuân nghe theo ý kiến của quân sự Mặc Kỳ Đức, cách núi 3 dặm dựng một quán rượu. Hễ khách qua đường trên người có chút tiền, liền mật báo, giữa đường chặn cướp, hoặc dùng thuốc mê, cướp lấy tiền tài, sau đó đem người chặt làm vài đoạn, ném vào vực sâu cho thú hoang ăn thịt.

Đầu lĩnh Lương Sơn là Sử Tiến đi qua núi Hắc Phong, diệt trừ Ân Xuân. Lâu la trốn về báo tin, Ân Thái giận dữ, nghe theo kế Mặc Kỳ Đức, sai người chặn đường bắt Sử Tiến. Sử Tiến bị bắt nhưng được Lý Chiêu Lương giải thoát, cùng nhau chém giết. Ân Thái chống đỡ không được 10 hiệp, bị Sử Tiến đánh rơi búa, chém bay đầu, lại đâm mấy đao vào bụng cho đến khi thân người nát bét.

Ân Xuân[sửa | sửa mã nguồn]

Ân Xuân (殷春) là một nhân vật trong Cổ bản Thủy hử, xuất hiện trong hồi 3.[4] Ân Xuân có ngoại hiệu Toản Địa Quỷ, là cường đạo trên núi Hắc Phong.

Anh em Ân Thái, Ân Xuân vốn làm nghề đánh xe, bởi vì đánh chết người, bị quan phủ truy nã nên mới trốn lên núi làm cướp. Ân Xuân sử dụng binh khí là Hỗn thiết điểm cương ngũ cổ thác thiên xoa (đinh ba). Ân Xuân nghe theo ý kiến của quân sự Mặc Kỳ Đức, cách núi 3 dặm dựng một quán rượu. Hễ khách qua đường trên người có chút tiền, liền mật báo, giữa đường chặn cướp, hoặc dùng thuốc mê, cướp lấy tiền tài, sau đó đem người chặt làm vài đoạn, ném vào vực sâu cho thú hoang ăn thịt.

Đầu lĩnh Lương Sơn là Sử Tiến đi qua núi Hắc Phong, vào quán rượu ăn chùa. Ân Xuân tức giận sai lâu la đem vây bắt. Sử Tiến cướp được một cây gậy, đánh với Ân Xuân được hơn 20 hiệp, thì một gậy đập vào bả vai đánh ngã, gậy tiếp theo kết liễu tính mạng.

Âu Bằng[sửa | sửa mã nguồn]

Bài chi tiết: Âu Bằng

Âu Dương thị lang[sửa | sửa mã nguồn]

Âu Dương Thọ Thông[sửa | sửa mã nguồn]

Âu Dương Thọ Thông (欧阳寿通) là một nhân vật trong Đãng khấu chí, xuất hiện tại hồi ?. Âu Dương Thọ Thông đứng hàng thứ 29 trong 36 Lôi tướng, hiệu là Nguyên Xung Tiêu Phủ Thủy Quan Khê Chân Nhiếp Ma Sứ Giả chuyển thế.

Âu Dương Thọ Thông là đồ đệ của Giáo đầu 80 vạn Cấm quân Vương Thăng, cha của Vương Tiến. Âu Dương Thọ Thông tinh thông võ nghệ, giỏi dùng song tiên, là một trong số ít Lôi tướng có khả năng thủy chiến. Vũ lực của Âu Dương Thọ Thông ngang tay với Tôn Lập, từng đánh lén đâm Tuyên Tán bị thương, sau bị Hác Tư Văn đánh đại bại trốn về. Về sau khi chinh phạt Lương Sơn, lợi dụng lúc Yến Thanh bị Cẩu Hoàn, Vân Long vây hãm, Âu Dương Thọ Thông nhân cơ hội xông vào đánh lén, vung roi đập vỡ đầu Yến Thanh.

Trở về được nhà Tống phong chức Hữu Thần Vũ Phó tướng quân, tước Vũ Định nam.

B[sửa | sửa mã nguồn]

Bá Nhân[sửa | sửa mã nguồn]

Bạch Khâm[sửa | sửa mã nguồn]

Bạch Lãi Quang[sửa | sửa mã nguồn]

Bạch Ngọc Kiều[sửa | sửa mã nguồn]

Bạch Ngọc Kiều là cha của Bạch Tú Anh - ca nữ xinh đẹp tài năng nổi tiếng ở huyện Vận Thành. Cha con họ Bạch kiếm sống nhờ nghề ca xướng. Lôi Hoành quen biết hai người này qua một người thân cận của ông và muốn chiêm ngưỡng tài sắc của Bạch Tú Anh. Nhưng ngay lần đầu tiên thưởng thức bài ca của Bạch Tú Anh, do Lôi Hoành không mang tiền đi trả phí xem nhạc nên bị Bạch Ngọc Kiều lớn tiếng sỉ nhục: "Ông mà biết điều thì trên đầu con chó cũng mọc được sừng !". Lôi Hoành tức tối nhảy lên đánh Bạch Ngọc Kiều nên bị quan phủ bắt lĩnh án.

Bạch Ngọc Liên[sửa | sửa mã nguồn]

Bạch Ngọc Liên (白玉莲) là một nhân vật trong Kim Bình Mai, xuất hiện tại hồi 1.[5] Bạch Ngọc Liên cùng Phan Kim Liên là đầy tớ gái được bán vào nhà Trương đại hộ từ nhỏ, học đàn tập hát. Kim Liên học tỳ bà, Ngọc Liên học đàn tranh. Sau Bạch Ngọc Liên đột ngột chết. Phan Kim Liên bị Trương đại hộ ép cưới, không chịu khuất phục, nên bị gán cho Võ Đại Lang làm vợ.

Bạch Thắng[sửa | sửa mã nguồn]

Bài chi tiết: Bạch Thắng

Bạch Tú Anh[sửa | sửa mã nguồn]

Ban Cổ Nhi[sửa | sửa mã nguồn]

Ban Trạch[sửa | sửa mã nguồn]

Bàng Nguyên[sửa | sửa mã nguồn]

Bàng phu nhân[sửa | sửa mã nguồn]

Bàng Thu Hà[sửa | sửa mã nguồn]

Bàng Thu Hà (庞秋霞) là một nhân vật trong Ương Thị Thủy hử truyện.

Bàng Thu Hà là em gái của Cửu Thiên Phi Long Bàng Vạn Xuân, giỏi võ nghệ lẫn đấu vật, từng kết giao với Yến ThanhLý Quỳ tại lôi đài của Kình Thiên Trụ tại Thái Sơn. Khi quân Lương Sơn phá huyện Thanh Khê, Bàng Thu Hà cùng anh trai liều mạng tử chiến, kết cục bị loạn đao chém chết. Yến Thanh tỏ vẻ thương tiếc, nhưng không kịp định ngăn cản.

Bàng Vạn Xuân[sửa | sửa mã nguồn]

Bài chi tiết: Bàng Vạn Xuân

Bàng Xuân Mai[sửa | sửa mã nguồn]

Bài chi tiết: Bàng Xuân Mai

Bàng Xuân Mai (庞春梅) là một nhân vật trong Kim Bình Mai, xuất hiện tại hồi 7.[6] Xuân Mai là cháu họ của Bàng viên ngoại ở Thương Châu, từ nhỏ mồ côi cha mẹ. Khi Xuân Mai 15 tuổi, Hoàng Hà xảy ra lũ lụt, Bàng viên ngoại vì cứu Xuân Mai, chẳng may bị nước cuốn trôi. Xuân Mai lưu lạc đến huyện Thanh Hà phủ Đông Bình, bị Tiết tẩu bán cho nhà Tây Môn Khánh làm nha hoàn.

Xuân Mai ban đầu làm nha hoàn của Ngô Nguyệt Nương, sau chuyển sang hầu hạ Phan Kim Liên. Bàng Xuân Mai cùng Phan Kim Liên thông đồng một giuộc, từng gian dâm với Tây Môn KhánhTrần Kính Tế. Sau Bàng Xuân Mai cùng Phan Kim Liên đều có thai với Trần Kinh Tế. Phan Kim Liên phá thai bị lộ, còn Xuân Mai đến ăn vạ ở nhà Chu thủ bị, leo lên vị trí chính thất. Chu thủ bị hèn nhát chết dưới tay quân Kim, Xuân Mai thông dâm với hàng tử bối là Chu Nghĩa, cuối cùng dâm dục quá độ mà chết.

Bành Kỷ[sửa | sửa mã nguồn]

Bài chi tiết: Bành Kỷ

Bao Cát[sửa | sửa mã nguồn]

Bao Cát (包吉) là một nhân vật trong Thủy hử, xuất hiện tại hồi 48.[7] Bao Cát là quan tiết cấp coi ngục ở Đăng Châu.

Mao thái công cùng con trai Mao Trọng Nghĩa cướp công lao diệt hổ dữ của anh em Giải Trân, Giải Bảo, lại cùng con rể là Khổng mục Vương Chính hãm hại anh em nhà họ Giải. Vương Chính, Mao thái công đút lót Tiết cấp Bao Cát, muốn Bao Cát lén lút xử lý anh em họ Giải. Lính coi ngục Nhạc Hòa nhận ra anh em họ Giải là họ hàng, bèn tìm cách cầu cứu chị họ Cố Đại Tẩu. Tôn Lập, Tôn Tân, Cố Đại Tẩu tiến hành cướp ngục, Bao Cát bị Giải Bảo đánh chết

Bao Đạo Ất[sửa | sửa mã nguồn]

Bào Húc[sửa | sửa mã nguồn]

Bài chi tiết: Bào Húc

Bảo Mật Thánh[sửa | sửa mã nguồn]

Biện Quân Bảo[sửa | sửa mã nguồn]

Biện Tường[sửa | sửa mã nguồn]

Bài chi tiết: Biện Tường

Bình An[sửa | sửa mã nguồn]

Bốc Thanh[sửa | sửa mã nguồn]

Bốc Chí Đạo[sửa | sửa mã nguồn]

Bối Ứng Quỳ[sửa | sửa mã nguồn]

Bùi Tuyên[sửa | sửa mã nguồn]

Bài chi tiết: Bùi Tuyên

Bùi Như Hải[sửa | sửa mã nguồn]

Bùi Trực[sửa | sửa mã nguồn]

C[sửa | sửa mã nguồn]

Cái Thiên Tích[sửa | sửa mã nguồn]

Cao Bưu[sửa | sửa mã nguồn]

Cao Cầu[sửa | sửa mã nguồn]

Bài chi tiết: Cao Cầu

Cao Cầu (高俅) là một nhân vật trong Thủy hử, xuất hiện trong hồi 1.[8] Cao Cầu người phủ Khai Phong, thuở nhỏ ông là người ở của Tô Đông Pha và chuyên việc chép sách.

Tính cách Cao Cầu mưu mẹo, giảo quyệt, nhờ đá cầu giỏi nên được hoàng đế nhà Tống khi đó là Tống Huy Tông trọng dụng, có quyền hành lớn trong triều, cuối cùng được phong chức Thái úy trong triều đình nhà Tống. Cao Cầu là người trực tiếp hoặc gián tiếp bức Lâm Xung, Dương Chí, Hô Diên Chước và rất nhiều hảo hán khác phải lên Lương Sơn.

Cao Đồng[sửa | sửa mã nguồn]

Cao Khả Lập[sửa | sửa mã nguồn]

Cao Liêm[sửa | sửa mã nguồn]

Cao Ngọc[sửa | sửa mã nguồn]

Cao Ngọc (高玉) là một nhân vật trong Hậu Thủy hử, xuất hiện tại hồi 118.[9] Cao Ngọc là tướng lĩnh và quan lại dưới quyền Phương Lạp, được phong chức Thị lang, nên thường gọi là Cao thị lang.

Cao Ngọc giỏi dùng roi sắt (thiết tiên). Cao Ngọc cùng Vương Dần vừa giỏi võ nghệ, lại là người có học thức nên được Phương Lạp giao cho chức quan văn, sai trấn thủ thành Hấp Châu. Khi quân Tống phá ải Dục Lĩnh, tiến quân uy hiếp thành Hấp Châu, Cao Ngọc cùng với Bàng Vạn Xuân dẫn quân đi cướp trại, bị trúng mai phục của quân Lương Sơn. Cao Ngọc đụng độ Hô Diên Chước, bị Hô Diên Chước đánh chết. Còn Bàng Vạn Xuân bị Thang Long bắt sống.

Cao Nguyên[sửa | sửa mã nguồn]

Cao nha nội[sửa | sửa mã nguồn]

Cao nha nội (高衙内) là một nhân vật trong Thủy hử, xuất hiện trong hồi 3.[8] Cao nha nội là con trai của Cao Tam Lang, anh em họ của Cao Cầu. Bởi vì Cao Cầu phát tài muộn, chưa từng lấy vợ sinh con nên nhận con của anh em họ về làm con nuôi thừa tự, ngoại hiệu Hoa Hoa Thái Tuế (花花太岁). Trong Đãng khấu chí, Cao nha nội tên là Cao Thế Đức.

Cao Quyền[sửa | sửa mã nguồn]

Cao Xung Hán[sửa | sửa mã nguồn]

Cao Xung Hán (高冲汉) là một nhân vật trong Cổ bản Thủy hử, xuất hiện trong hồi 5.[10] Cao Xung Hán có ngoại hiệu là Bạt Sơn Lực Sĩ (拔山力士), được mô tả là thần cao 9 thước, vai khoát eo viên, mặt như thương lam, tiếng như chim kiêu, có sức khỏe vô cùng, giỏi sử dụng lưu kim bảo thảng (đinh ba), mấy chục người không thể tới gần.

Cao Xung Hán là tâm phúc của Cao Cầu và là ái tướng của Đồng Quán. Được tin Lương Trung thư bắt được Yến Thanh, Cao Cầu liền phái Cao Xung Hán đến phủ Đại Danh giúp đỡ Lương Trung thư. Lương Trung thư cho Lý Thành đem quân hỗ trợ Cao Xung Hán áp giải Yến Thanh, Đinh Cửu Lang đến Đông Kinh. Trên đường áp tải đụng độ Võ Tòng, Thạch Tú. Cao Xung Hán đánh với Võ Tòng, sau đó đánh với Lư Tuấn Nghĩa, bị Lư Tuấn Nghĩa chém chết.

Cảnh Cung[sửa | sửa mã nguồn]

Cảnh Đức[sửa | sửa mã nguồn]

Cảnh tham mưu[sửa | sửa mã nguồn]

Cảnh Văn[sửa | sửa mã nguồn]

Cáp Lan Sinh[sửa | sửa mã nguồn]

Cáp Lan Sinh (哈兰生) là một nhân vật trong Đãng khấu chí, xuất hiện tại hồi ?. Cáp Lan Sinh đứng hàng thứ 19 trong 36 Lôi tướng, hiệu là Cực Chân Lôi Phủ Linh Ứng Hiển Hách Phù Nguy Tế Cấp Chân Quân chuyển thế. Cáp Lan Sinh là người dân tộc Hồi. Tổ tiên là người Tây Vực di cư đến Trung Nguyên vào thời Đường, định cư ở Sơn Đông, nhiều đời làm phú hộ. Cáp Lan Sinh giữ chức Đô Đoàn luyện trang Quy Hóa thôn Chính Nhất thuộc địa hạt Thanh Châu.

Cáp Lan Sinh được mô tả là có những đặc điểm của người Ả Rập, râu quăn rậm rạp, cánh tay phải khí lực lớn vô cùng, nhưng tay trái thì so với người bình thường không khác. Vũ khí của Cáp Vân Sinh là Độc túc đồng nhân, nặng 75 cân.

Cáp Vân Sinh[sửa | sửa mã nguồn]

Cát Văn Bỉnh[sửa | sửa mã nguồn]

Cẩm Nhi[sửa | sửa mã nguồn]

Cẩu Anh[sửa | sửa mã nguồn]

Cẩu Bang Đạt[sửa | sửa mã nguồn]

Cẩu Bang Đạt (苟邦达) là một nhân vật trong Đãng khấu chí, xuất hiện trong hồi 77. Cẩu Bang Đạt quê quán phủ Vệ Huy, Hà Nam, tự xưng là hậu duệ của danh hiền Cẩu Biến thời Chiến quốc, giữ chức Điện tiền Đô Ngu hầu.

Cẩu Bang Đạt vì phản đối Hải Thượng Chi Minh, bị triều đình ghét bỏ, Đồng Quán nhân thế tố cáo. Cẩu Bang Đạt bị cáo buộc tư thông địch quốc (Liêu), bị xử tử. Hai con trai Cẩu Hoàn, Cẩu Anh bỏ trốn.

Cẩu Chính[sửa | sửa mã nguồn]

Cẩu Hoàn[sửa | sửa mã nguồn]

Chân Thành[sửa | sửa mã nguồn]

Chỉ Nhi Phất Lang[sửa | sửa mã nguồn]

Chu Báo[sửa | sửa mã nguồn]

Chu Cẩn[sửa | sửa mã nguồn]

Chu Đồng[sửa | sửa mã nguồn]

Bài chi tiết: Chu Đồng

Chu Đồng[sửa | sửa mã nguồn]

Bài chi tiết: Chu Đồng (Nhạc Phi)

Chu Miễn[sửa | sửa mã nguồn]

Bài chi tiết: Chu Miễn

Chu Ngang[sửa | sửa mã nguồn]

Chu Nghĩa[sửa | sửa mã nguồn]

Chu Phú[sửa | sửa mã nguồn]

Bài chi tiết: Chu Phú

Chu Quý[sửa | sửa mã nguồn]

Bài chi tiết: Chu Quý

Chu Thông[sửa | sửa mã nguồn]

Bài chi tiết: Chu Thông

Chu thủ bị[sửa | sửa mã nguồn]

Chu Tín[sửa | sửa mã nguồn]

Chu Vũ[sửa | sửa mã nguồn]

Bài chi tiết: Chu Vũ (Thủy hử)

Chúc Triều Phụng[sửa | sửa mã nguồn]

Chúc Long[sửa | sửa mã nguồn]

Chúc Hổ[sửa | sửa mã nguồn]

Chúc Bưu[sửa | sửa mã nguồn]

Chúc Thực Niệm[sửa | sửa mã nguồn]

Chung Ly lão hán[sửa | sửa mã nguồn]

Chủng Sư Đạo[sửa | sửa mã nguồn]

Bài chi tiết: Chủng Sư Đạo

Chủng Sư Trung[sửa | sửa mã nguồn]

Bài chi tiết: Chủng Sư Trung

Chư Năng[sửa | sửa mã nguồn]

Chử Hanh[sửa | sửa mã nguồn]

Chử Kiên[sửa | sửa mã nguồn]

Công Tôn Thắng[sửa | sửa mã nguồn]

Bài chi tiết: Công Tôn Thắng

Cố Đại Tẩu[sửa | sửa mã nguồn]

Bài chi tiết: Cố Đại Tẩu

Cố Khải[sửa | sửa mã nguồn]

Cố Sầm[sửa | sửa mã nguồn]

Cố Vĩnh Hưng[sửa | sửa mã nguồn]

Cung Vượng[sửa | sửa mã nguồn]

Bài chi tiết: Cung Vượng

Cung Đoan[sửa | sửa mã nguồn]

Cung Chính[sửa | sửa mã nguồn]

Cung Ôn[sửa | sửa mã nguồn]

D[sửa | sửa mã nguồn]

Diêm Bà[sửa | sửa mã nguồn]

Diêm Bà Tích[sửa | sửa mã nguồn]

Diệp Thanh[sửa | sửa mã nguồn]

Diệp Thanh (叶清), là một nhân vật trong Tục Thủy hử, xuất hiện tại hồi 98.[11] Diệp Thanh vốn là quản gia của nhà Cừu Thân, người huyện Giới Hưu thuộc phủ Phần Dương. Gia chủ Cừu Thân bị giặc cướp giết hại, Diệp Thanh một mặt cho người báo quan, một mặt lo liệu chôn cất cho chủ. Cừu gia sau đó chọn người khác thừa kế gia sản của Cừu Thân, Diệp Thanh cùng vợ tự mình chăm sóc tiểu thư Quỳnh Anh. Một năm sau, Điền Hổ khởi loạn, sai Ô Lê tấn công châu Phần Dương, vợ chồng Diệp Thanh và tiểu thư Quỳnh Anh bị bắt, Ô Lê nhận Quỳnh Anh làm con nuôi.

Diệp Thanh ban đầu muốn trốn, nhưng vì lo cho Quỳnh Anh, bèn ở lại, cho vợ là An thị vào hầu gia đình Ô Lê. Diệp Thanh theo Ô Lê chống Tống lập công, được Ô Lê ưu ái, cho phép ra vào súy phủ, lại tiến cử cho Điền Hổ, nhận chức Tổng quản. Một lần đem quân đến núi Thạch Thất đốn gỗ chặt đá, Diệp Thanh phát hiện ra gia chủ Cừu Thân bị Điền Hổ giết hại, chủ mẫu Tống thị vì không chịu nhục nên nhảy núi tự sát, Diệp Thanh bèn âm thầm tìm cách báo cho Quỳnh Anh biết.

Quân Lương Sơn tấn công huyện Lộ Thành, Diệp Thanh xin đem quân đi thám thính. Trấn thủ huyện Tương Viên là Từ Uy nghi ngờ, cho Thịnh Bản giám sát Diệp Thanh. Quân Diệp Thanh, Thịnh Bản đụng độ quân Lương Sơn, Thịnh Bản bị chém, Diệp Thanh may mắn chạy thoát, gặp được quân của Quỳnh Anh, bèn kể lại bí mật, bàn mưu diệt Điền Hổ. Diệp Thanh sau đó thay mặt Quỳnh Anh sang bên quân Lương Sơn đầu hàng Tống Giang, bàn mưu dâng thành. Sau Diệp Thanh lấy cớ tiến cử, đưa Trương Thanh và An Đạo Toàn thâm nhập vào thành Tương Viên, lại làm mối cho Trương Thanh kết duyên với Quỳnh Anh.

Diệp Thanh sau đó dẫn Trương Thanh ra mắt Điền Hổ, dụ Điền Hổ xuất quân. Sau khi Điền Hổ bị phá, Diệp Thanh, Quỳnh Anh cùng Trương Thanh tiến hành áp giải anh em Điền Hổ về Biện Kinh tử hình. Diệp Thanh được Tống Huy Tông phong Chính bài quân. Diệp Thanh về sau theo quân Lương Sơn đánh Vương Khánh, không lập được mấy công lao. Khi Trương Thanh theo quân đi đánh Phương Lạp, Quỳnh Anh mang thai, Diệp Thanh và vợ ở lại chăm sóc Quỳnh Anh. Diệp Thanh ốm chết sau đó một thời gian.

Diệp Thanh[sửa | sửa mã nguồn]

Diệp Thanh thị lang[sửa | sửa mã nguồn]

Diệp Thanh thị lang (叶清 侍郎), là một nhân vật trong Tục Thủy hử, xuất hiện tại hồi 85.[12] Diệp Thanh thị lang giữ chức quan thị lang, phụ tá quốc cữu Khang Lý Định An trấn thủ Bá Châu. Quân Lương Sơn do Tống Giang chỉ huy dùng mưu trá hàng, đem quân vào thành Bá Châu, Khang Lý Định An cùng hai thị lang Kim Phúc, Diệp Thanh đều bị bắt, sau được thả về Thượng Kinh.

Diệp Xuân[sửa | sửa mã nguồn]

Diêu Văn Khanh[sửa | sửa mã nguồn]

Diêu Ước[sửa | sửa mã nguồn]

Diêu Nghĩa[sửa | sửa mã nguồn]

Dư Thâm[sửa | sửa mã nguồn]

Bài chi tiết: Dư Thâm

Dư Đắc Thành[sửa | sửa mã nguồn]

Dương Chí[sửa | sửa mã nguồn]

Bài chi tiết: Dương Chí

Dương Chí (楊志) là một nhân vật có thật trong lịch sử, trong Tam triều bắc minh hội biên, ông là thủ lĩnh nghĩa quân được triều đình nhà Tống chiêu an, đi tiên phong chống quân Kim.

Dương Đoan[sửa | sửa mã nguồn]

Dương Hùng[sửa | sửa mã nguồn]

Dương Lâm[sửa | sửa mã nguồn]

Dương Ôn[sửa | sửa mã nguồn]

Dương Phương[sửa | sửa mã nguồn]

Dương Tiễn[sửa | sửa mã nguồn]

Dương Tiễn (杨戬) là một nhân vật trong Tục Thủy hử, xuất hiện trong hồi 73.[13] Dương Tiễn là hoạn quan, gian thần cùng phe với Cao Cầu, Thái Kinh và Đồng Quán luôn có mưu đồ cướp đoạt công lao và làm hại các anh hùng Lương Sơn Bạc.

Khi Tống Giang, Lư Tuấn Nghĩa cùng các thủ lĩnh Lương Sơn Bạc còn sống sót trở về được phong chức, Dương Tiễn đồng mưu với 3 người vu cáo họ có mưu đồ làm phản. Huy Tông tỏ ra nghi ngờ, Dương Tiễn cùng 3 đại thần sai thủ hạ bỏ độc vào đồ ăn uống mà Huy Tông ban cho Tống Giang, Lư Tuấn Nghĩa để sát hại họ. Kết quả kéo theo cái chết của Lý Quỳ, Ngô Dụng và Hoa Vinh. Khi vụ việc bị phát giác do Tống Giang hiện hồn báo mộng cho Huy Tông, Dương Tiễn và mấy người cùng phe đổ trách nhiệm cho người hầu trực tiếp bỏ thuốc độc cho Tống Giang và Lư Tuấn Nghĩa và ám hại người này. Dương Tiễn, Đồng Quán, Cao Cầu, Thái Kinh chỉ bị Huy Tông trách mắng qua loa không bị trị tội.

Dương Xuân[sửa | sửa mã nguồn]

Dương Xuân[sửa | sửa mã nguồn]

Đ[sửa | sửa mã nguồn]

Đại Viên[sửa | sửa mã nguồn]

Đại Huệ[sửa | sửa mã nguồn]

Đái Tông[sửa | sửa mã nguồn]

Bài chi tiết: Đái Tông

Đái Mỹ[sửa | sửa mã nguồn]

Đại An Nhi[sửa | sửa mã nguồn]

Đàm Cao[sửa | sửa mã nguồn]

Đàm Hoá[sửa | sửa mã nguồn]

Đan Đình Khuê[sửa | sửa mã nguồn]

Bài chi tiết: Đan Đình Khuê

Đào Tông Vượng[sửa | sửa mã nguồn]

Bài chi tiết: Đào Tông Vượng

Đảng Thế Anh[sửa | sửa mã nguồn]

Đảng Thế Long[sửa | sửa mã nguồn]

Đảng Thế Hùng[sửa | sửa mã nguồn]

Đáp Lý Bột[sửa | sửa mã nguồn]

Đằng Kham[sửa | sửa mã nguồn]

Đằng Khôi[sửa | sửa mã nguồn]

Đặng Long[sửa | sửa mã nguồn]

Đặng Nguyên Giác[sửa | sửa mã nguồn]

Đặng Phi[sửa | sửa mã nguồn]

Đặng Tiêu Tiêu[sửa | sửa mã nguồn]

Đặng Tiêu Tiêu (邓潇潇) là nhân vật trong Thủy hử anh hùng truyện. Đặng Tiêu Tiêu là con gái của Đặng Nguyên Giác, đại tướng dưới trướng Phương Lạp. Đặng Nguyên Giác bị Hoa Vinh bắn chết trên chiến trường. Đặng Tiêu Tiêu được Bàng Vạn Xuân cứu thoát, từ đó lưu lạc phong trần, luyện tập cung tên với mục đích bắn chết Hoa Vinh tế cha.

Bàng Vạn Xuân nhiều lần khuyên nhủ, Đặng Tiêu Tiêu vẫn tới phủ Ứng Thiên ám sát Hoa Vinh. Thủ hạ của Hoa Vinh là Lôi Chấn vẫn ngầm ghen tị Hoa Vinh, bèn trái lệnh truy sát Đặng Tiêu Tiêu cùng Bàng Vạn Xuân, tìm cách vu cáo Hoa Vinh cấu kết dư đảng Phương Lạp. Kết cục Đặng Tiêu Tiêu bị Lôi Chấn dùng tên bắn chết.

Hoa Vinh lên cơn giận dữ, tự mình tìm tới Lôi Chấn, cuối cùng dùng kiếm đóng Lôi Chấn lên cọc gỗ treo xác Đặng Tiêu Tiêu. Hoa Vinh trao trả thi hài Tiêu Tiêu cho Bàng Vạn Xuân. Hoa Vinh tâm tro ý lạnh, đi tới mộ Tống Giang ở Sở Châu, gặp gỡ Ngô Dụng. Cuối cùng cả hai tự sát trước mộ Tống Giang.

Địch Lôi[sửa | sửa mã nguồn]

Địch Nguyên[sửa | sửa mã nguồn]

Địch thái công[sửa | sửa mã nguồn]

Địch Thánh[sửa | sửa mã nguồn]

Địch Thành[sửa | sửa mã nguồn]

Điền Báo[sửa | sửa mã nguồn]

Điền Bưu[sửa | sửa mã nguồn]

Điền Định[sửa | sửa mã nguồn]

Điền Hổ[sửa | sửa mã nguồn]

Bài chi tiết: Điền Hổ

Điền Thực[sửa | sửa mã nguồn]

Điêu Quế[sửa | sửa mã nguồn]

Điêu Xuân[sửa | sửa mã nguồn]

Đinh Đắc Tôn[sửa | sửa mã nguồn]

Bài chi tiết: Đinh Đắc Tôn

Đinh Tường[sửa | sửa mã nguồn]

Đoàn Bằng Cử[sửa | sửa mã nguồn]

Đoàn Cảnh Trụ[sửa | sửa mã nguồn]

Bài chi tiết: Đoàn Cảnh Trụ

Đoàn Khải[sửa | sửa mã nguồn]

Đoàn Ngũ[sửa | sửa mã nguồn]

Đoàn Nhân[sửa | sửa mã nguồn]

Đoàn Nhị[sửa | sửa mã nguồn]

Đoàn Tam Nương[sửa | sửa mã nguồn]

Đoàn thái công[sửa | sửa mã nguồn]

Đoàn Thường[sửa | sửa mã nguồn]

Đoàn Thường (段常) là một nhân vật trong Thủy hử, xuất hiện trong hồi 63.[14] Đoàn Thường là thủ hạ của Thái Kinh. Khi Thái Kinh sai Quan Thắng, Tuyên Tán, Hác Tư Văn đi đánh Lương Sơn, sai Đoàn Thường trông coi quân lương.

Đỗ Hưng[sửa | sửa mã nguồn]

Bài chi tiết: Đỗ Hưng

Đỗ Học[sửa | sửa mã nguồn]

Đỗ Học (杜壆, còn viết 杜嶨, 杜峃)[15], có đoạn dịch thành Đỗ Canh, là một nhân vật trong Hậu Thủy hử, xuất hiện tại hồi 107.[16] Đỗ Học là một tướng lĩnh cao cấp trong chính quyền Vương Khánh, giữ chức Đô đốc, sử dụng vũ khí là bát xà mâu. Khi quân Lương Sơn tiến công thành Tây Kinh và Kinh Nam, Vương Khánh sai Đỗ Học nhận binh phù, tướng lệnh, đem 12 phó tướng cùng hai vạn quân đi cứu viện Tây Kinh.

Lư Tuấn Nghĩa dàn quân ở tây Long Môn mười dặm chờ quân Đỗ Học tới. Hai bên đối chiến, quân Hà Bắc bị mất hai tướng Vệ Hạc, Phong Thái. Đỗ Học quyết đoán, bỏ qua Biện Tường, giao chiến với chủ soái quân Tống là Lư Tuấn Nghĩa, hơn 50 hiệp không phân thắng bại. Tôn An sợ Lư Tuấn Nghĩa, lao lên trợ chiến, chém chết tướng Hà Bắc là Trác Mậu cản đường. Đỗ Học thấy Trác Mậu bị chết, chùn tay, bị Tôn An chém đứt tay phải. Kết cục bị Lư Tuấn Nghĩa đâm chết.

Đỗ Kính Thần[sửa | sửa mã nguồn]

Đỗ Thiên[sửa | sửa mã nguồn]

Bài chi tiết: Đỗ Thiên

Đỗ Vi[sửa | sửa mã nguồn]

Đỗ Vi (杜微) là một nhân vật trong Hậu Thủy hử, xuất hiện tại hồi 118.[9] Đỗ Vi vốn là thợ rèn ở Hấp Châu, biết rèn quân khí, nên được Phương Lạp chiêu mộ. Đỗ Vi sử dụng phi đao, đồng thời cũng chỉ huy bộ binh, được Phương Lạp phong chức Bộ Thân quân Đô Thái úy, Phiêu kỵ Thượng tướng quân.

Trong trận Thanh Khê, khi Tần Minh đang giao chiến với Phương Kiệt, Đỗ Vi dùng phi đao đánh lén. Tần Minh né được phi đao nhưng lại bị Phương Kiệt dùng kích đâm chết. Khi quân Lương Sơn phá thành Thanh Khê, Đỗ Vi lại dùng phi đao giết chết Úc Bảo Tứ, sau đó đấu phi đao với Tôn Nhị Nương, giành thắng lợi, Tôn Nhị Nương tử trận.

Cuối cùng, Đỗ Vi tìm chỗ trốn ở nhà kỹ nữ Vương Kiều Kiều, vốn được Đỗ Vi bao nuôi, bị chủ nhà đem bắt dâng cho Tống Giang. Tống Giang sau đó chém đầu Lâu Mẫn Trung, sau Thái Khánh đem Đỗ Vi mổ bụng lấy nội tạng, nhỏ máu để tế Tần Minh, Nguyễn Tiểu Ngũ, Úc Bảo Tứ, Tôn Nhị Nương.

Đồng Lý Hợp[sửa | sửa mã nguồn]

Đồng Mãnh[sửa | sửa mã nguồn]

Bài chi tiết: Đồng Mãnh

Đồng Quán[sửa | sửa mã nguồn]

Bài chi tiết: Đồng Quán

Đồng Quán (童貫) là một nhân vật trong Tục Thủy hử, xuất hiện trong hồi 73.[13] Đồng Quán là gian thần trong triều đình Tống Huy Tông, cùng phe với Cao Cầu, Thái Kinh và Dương Tiễn. Khi Tống Huy Tông có chủ trương chiêu an Tống Giang, Đồng Quán cùng ý kiến với Cao Cầu, phản đối chiêu an, do đó khi Tống Huy Tông thu nhận cho các thủ lĩnh Lương Sơn Bạc đầu hàng, Đồng Quán và Cao Cầu rất thù ghét họ.

Trong trận chinh chiến dẹp Phương Lạp, Tống Giang và các anh hùng Lương Sơn Bạc là người đi tiên phong, cướp thành giết địch, còn Đồng Quán chỉ dẫn hậu quân theo sau để nhận thành quả, rồi trở về được phong chức. Trên thực tế, Đồng Quán có nhiều công lao chinh chiến trong việc dẹp Phương Lạp.

Cuối cùng, khi Tống Giang, Lư Tuấn Nghĩa cùng các thủ lĩnh Lương Sơn còn sống sót trở về được phong chức, Đồng Quán đồng mưu với 3 người vu cáo họ có mưu đồ làm phản. Huy Tông tỏ ra nghi ngờ, Đồng Quán cùng 3 đại thần sai thủ hạ bỏ độc vào đồ ăn uống mà Huy Tông ban cho Tống Giang, Lư Tuấn Nghĩa để sát hại họ. Kết quả kéo theo cái chết của Lý Quỳ, Ngô Dụng và Hoa Vinh. Khi vụ việc bị phát giác do Tống Giang hiện hồn báo mộng cho Huy Tông, Đồng Quán và mấy người cùng phe đổ trách nhiệm cho người hầu trực tiếp bỏ thuốc độc cho Tống Giang và Lư Tuấn Nghĩa và ám hại người này. Đồng Quán, Cao Cầu, Thái Kinh và Dương Tiễn chỉ bị Huy Tông trách mắng qua loa không bị trị tội.

Đồng Thế[sửa | sửa mã nguồn]

Đồng Uy[sửa | sửa mã nguồn]

Bài chi tiết: Đồng Uy

Đổng Bình[sửa | sửa mã nguồn]

Bài chi tiết: Đổng Bình

Đổng Hải[sửa | sửa mã nguồn]

Đổng Kiều[sửa | sửa mã nguồn]

Đổng Phương[sửa | sửa mã nguồn]

Đổng Phương (董芳) là một nhân vật trong Thuyết Nhạc toàn truyện, xuất hiện tại hồi 28. Đổng Phương là con trai của Đổng Bình. Sau khi Đổng Bình tử trận, Đổng Phương lưu lạc giang hồ, cùng Trương Quốc Tường lạc thảo làm cướp. Đổng Phương tụ tập lâu la, chiếm núi Sư Tử, hoành hành một vùng.

Khi Nhạc Phi đại chiến Ngột Truật tại núi Ái Hoa, Đổng Phương cùng Trương Quốc Tường tụ tập lâu la chặn đường quân. Tuy vậy vẫn để cho Ngột Thuật đào thoát. Đổng Phương và Trương Quốc Tường được Nhạc Phi thuyết phục, gia nhập Nhạc gia quân.

Đổng Siêu[sửa | sửa mã nguồn]

Đổng Trừng[sửa | sửa mã nguồn]

Đổng Trương Sĩ[sửa | sửa mã nguồn]

Động Tiên Bột Cận[sửa | sửa mã nguồn]

Động Tiên Văn Vinh[sửa | sửa mã nguồn]

Đường Bân[sửa | sửa mã nguồn]

Đường Hiển[sửa | sửa mã nguồn]

Đường Hiển (唐显), là một nhân vật trong Tục Thủy hử, xuất hiện tại hồi 98.[11] Đường Hiển là một tướng lĩnh dưới quyền Điền Hổ, phó tướng trân thủ huyện Tương Viên. Khi Lương Sơn giao chiến với quân Lương Sơn, bị Tôn An một kiếm chém xuống ngựa.

Đường Ngưu Nhi[sửa | sửa mã nguồn]

Đường Xương[sửa | sửa mã nguồn]

G[sửa | sửa mã nguồn]

Giả Cư Tín[sửa | sửa mã nguồn]

Giả phu nhân[sửa | sửa mã nguồn]

Giả phu nhân (贾夫人), tức Giả thị (贾氏), là một nhân vật trong Thủy hử, xuất hiện tại hồi 60.[17] Giả phu nhân là vợ của Lư Tuấn Nghĩa, sau đó lại tư thông với Lý Cố, đuổi Yến Thanh, vu cáo Lư Tuấn Nghĩa. Kết cục khi quân Lương Sơn phá thành Đại Danh, bị Lư Tuấn Nghĩa chém chết.

Giả phu nhân[sửa | sửa mã nguồn]

Giả phu nhân (贾夫人), là một nhân vật trong Đãng khấu chí, xuất hiện tại hồi ?.[18] Giả phu nhân là vợ của Trương Kế.

Giả Mậu[sửa | sửa mã nguồn]

Gia Dư Khánh[sửa | sửa mã nguồn]

Gia Luật Huy[sửa | sửa mã nguồn]

Bài chi tiết: Liêu Thiên Tộ

Gia Luật Đắc Hoa[sửa | sửa mã nguồn]

Gia Luật Đắc Tín[sửa | sửa mã nguồn]

Gia Luật Đắc Trọng[sửa | sửa mã nguồn]

Gia Luật Đắc Trung[sửa | sửa mã nguồn]

Gia Luật Đắc Vinh[sửa | sửa mã nguồn]

Gia Luật Quốc Trân[sửa | sửa mã nguồn]

Gia Luật Quốc Bảo[sửa | sửa mã nguồn]

Gia Luật Tông Điện[sửa | sửa mã nguồn]

Gia Luật Tông Lâm[sửa | sửa mã nguồn]

Gia Luật Tông Lôi[sửa | sửa mã nguồn]

Gia Luật Tông Vân[sửa | sửa mã nguồn]

Giải Trân[sửa | sửa mã nguồn]

Bài chi tiết: Giải Trân

Giải Bảo[sửa | sửa mã nguồn]

Bài chi tiết: Giải Bảo

Giảo Nhi Duy Khang[sửa | sửa mã nguồn]

H[sửa | sửa mã nguồn]

Hà Đào[sửa | sửa mã nguồn]

Hà Thanh[sửa | sửa mã nguồn]

Hà Cửu thúc[sửa | sửa mã nguồn]

Hà Tài[sửa | sửa mã nguồn]

Hà Huyền Thông[sửa | sửa mã nguồn]

Hạ Cát[sửa | sửa mã nguồn]

Hạ Sách[sửa | sửa mã nguồn]

Hạ thái thú[sửa | sửa mã nguồn]

Hạ Trọng Bảo[sửa | sửa mã nguồn]

Hạ Vân[sửa | sửa mã nguồn]

Hạ Hoa Nhi[sửa | sửa mã nguồn]

Hạ Hoa Nhi là một nhân vật trong Kim Bình Mai, xuất hiện ở hồi 45, là a hoàn của Lý Kiều Nhi - vợ hai của Tây Môn Khánh. Hạ Hoa Nhi lấy trộm được đĩnh vàng trong phòng Lý Bình Nhi, định đem giấu trong chuồng ngựa thì bị Đại An NhiCầm Đồng bắt được. Hạ Hoa Nhi bị Tây Môn Khánh chửi rủa, doạ bán đi không nuôi nữa, bị Lý Kiều Nhi đánh mắng.

Hạ Hầu Thành[sửa | sửa mã nguồn]

Hạ Tùng Long[sửa | sửa mã nguồn]

Hác Nhân[sửa | sửa mã nguồn]

Hác Tư Văn[sửa | sửa mã nguồn]

Bài chi tiết: Hác Tư Văn

Hàn Bá Long[sửa | sửa mã nguồn]

Hàn Minh[sửa | sửa mã nguồn]

Hàn Khởi Long[sửa | sửa mã nguồn]

Hàn Khởi Long (韩起龙) là một nhân vật trong Thuyết Nhạc toàn truyện, xuất hiện tại hồi 62. Hàn Khởi Long là cháu của Hàn Thao. Cha của Khởi Long chịu ân của Nhạc Phi nên trong nhà đặt bài vị của họ Nhạc. Nhạc Lôi đi qua, thấy bài vị của cha mình, bèn kết nghĩa anh em với Khởi Long.

Nhạc Lôi nhiều lần gặp nạn, đều là Hàn Khởi Long cùng các anh em liều mình cứu giúp thoát hiểm. Nhạc phu nhân bị đày đi Vân Nam, Nhạc Lôi từ Thái Hành Sơn mượn tới binh mã, lao tới Vân Nam tìm mẹ. Hàn Khởi Long theo Nhạc Lôi đánh tam quan.

Tại Bình Nam quan, Hàn Khởi Long đả thương Tổng binh quan Ba Vân. Con gái Bá Vân là Ba Tú Lâm (巴秀琳) vì cha báo thù, đánh với Hàn Khởi Long. Cuối cùng Ba Tú Lâm bị Hàn Khởi Long cưỡng bức tại Vấn Nguyệt am, khiến Ba Vân phẫn nộ mà chết.

Nhạc Lôi tảo bắc, Hàn Khởi Long theo quân chinh chiến, nhiều lập công lao, chiến thắng trở về được thụ phong Tổng binh quan.

Hàn Khởi Phụng[sửa | sửa mã nguồn]

Hàn Thao[sửa | sửa mã nguồn]

Bài chi tiết: Hàn Thao

Hàn Thiên Lân[sửa | sửa mã nguồn]

Hàn Tồn Bảo[sửa | sửa mã nguồn]

Bài chi tiết: Sào Cốc truyện

Hàn Triết[sửa | sửa mã nguồn]

Hàn Trung Ngạn[sửa | sửa mã nguồn]

Bài chi tiết: Hàn Trung Ngạn

Hạng Nguyên Trấn[sửa | sửa mã nguồn]

Hạng Sung[sửa | sửa mã nguồn]

Bài chi tiết: Hạng Sung

Hạng Trung[sửa | sửa mã nguồn]

Hầu Kiện[sửa | sửa mã nguồn]

Bài chi tiết: Hầu Kiện

Hầu Mông[sửa | sửa mã nguồn]

Bài chi tiết: Hầu Mông

Hầu Phát[sửa | sửa mã nguồn]

Hầu Phát (侯发) là một nhân vật trong Đãng khấu chí, xuất hiện tại hồi 92. Hầu Phát là em trai Hầu Mông, giữ chức Tri phủ Lai Châu. Hầu Mông muốn xin triều đình chiêu an Lương Sơn đi đánh Phương Lạp, bèn cử Hầu Phát lên Lương Sơn báo tin. Hầu Phát được Tống Giang tiếp đãi, cử Lã Phương, Quách Thịnh theo hầu. Đến khi Hầu Mông mang chiếu chiêu an đến thành Tào Châu, bị Trần Lệ Khanh ám sát, cướp lấy chiếu thư, giá họa cho Lương Sơn. Hầu Phát về sau cũng bị cha con họ Trần liệt vào hạng gian thần, bị xử tội.

Hề Thắng[sửa | sửa mã nguồn]

Hình Chính[sửa | sửa mã nguồn]

Hoa Vinh[sửa | sửa mã nguồn]

Bài chi tiết: Hoa Vinh

Hoa Nhị Nương[sửa | sửa mã nguồn]

Hoa Nhị Nương là một nhân vật trong Thuỷ hử, xuất hiện ở hồi 31, là em gái Hoa Vinh. Khi Tần Minh bị quan tri phủ Thanh Châu Mộ Dung Ngạn Đạt khép tội phản tặc và giết hết vợ con, Tống Giang và Hoa Vinh biết chuyện đã gả Hoa Nhị Nương cho Tần Minh làm vợ mới. Bà là người phụ nữ hiền thục, ôn hoà, đã nhanh chóng bù đắp nỗi đau mất gia đình của Tần Minh.

Sau này Tần Minh tử trận trong trận đánh với quân Phương Lạp, Hoa Nhị Nương theo anh trai và chị dâu đến quận Hoành Hải làm đô thống chế.

Hoa Tử Hư[sửa | sửa mã nguồn]

Hòa Đồng[sửa | sửa mã nguồn]

Hoàn Dật[sửa | sửa mã nguồn]

Hoàn Dật (桓逸) là một nhân vật trong Tục Thủy hử, xuất hiện tại hồi 116.[19] Hoàn Dật là quan Thiêm thư của triều đình Phương Lạp, được Lâu Mẫn Trung giới thiệu cho Sài Tiến. Sau khi thành Thanh Khê bị phá, Tống Giang cho chém đầu toàn bộ các quan lại của triều đình Phương Lạp, trong đó có Hoàn Dật.

Hoàng Ái[sửa | sửa mã nguồn]

Hoàng An[sửa | sửa mã nguồn]

Hoàng Đạt[sửa | sửa mã nguồn]

Hoàng Phủ Đoan[sửa | sửa mã nguồn]

Bài chi tiết: Hoàng Phủ Đoan

Hoàng Văn Bính[sửa | sửa mã nguồn]

Bài chi tiết: Hoàng Văn Bính

Hoàng Văn Diệp[sửa | sửa mã nguồn]

Hoàng Tín[sửa | sửa mã nguồn]

Bài chi tiết: Hoàng Tín

Hoàng Việt[sửa | sửa mã nguồn]

Hoàng Việt (黄钺) là một nhân vật trong Hậu Thủy hử, xuất hiện tại hồi 94.[20] Hoàng Việt là một trong mười tướng lĩnh trấn thủ thành Chiêu Đức dưới quyền Điền Hổ. Quân Lương Sơn ban đầu thua trận, các tướng Lý Quỳ, Đường Bân,... bị Kiều Đạo Thanh bắt sống, bị tra tấn không đầu hàng, khiến Hoàng Việt cảm phục. Sau khi quân Lương Sơn đánh tan viện binh của Kiều Đạo Thanh, Tống Giang viết thư dụ hàng bắn vào trong thành. Hoàng Việt hợp mưu với Kim Đĩnh tiến hành binh biến, giết chết Ngưu Canh, Lãnh Ninh, Diệp Thanh, chặt đầu treo ở cửa thành, sau đó mở cửa thành đầu hàng. Kim Đĩnh cùng Hoàng Việt sau đó dẫn Ông Khuê, Thái Trạch, Dương Xuân ra hàng quân Lương Sơn. Khi được Tống Giang khen ngợi, Hoàng Việt đáp lại: Bọn tiểu nhân chúng tôi không sớm quy hàng là đắc tội lắm, không ngờ lại được tiên phong tiếp đãi trọng hậu. Ơn này xin ghi lòng tạc dạ, thề chết để báo đền.

Trong chiến dịch Hoài Tây chống Vương Khánh, Hoàng Việt cùng các hàng tướng Hà Bắc theo quân Lương Sơn xuất trận, xin được ra trận để báo đáp. Khi đánh Kỷ Sơn quân, Hoàng Việt cùng Kim Đĩnh xuất trận đối chiến với Viên Lãng, được 30 hiệp, thì Kim Đĩnh bị Viên Lãng đâm chết. Hoàng Việt vội dùng thương đâm Viên Lãng, bị Viên Lãng né được, thuận thế bắt sống. Tần Minh định cứu nhưng không kịp. Hoàng Việt sau đó bị quân đội Vương Khánh dưới quyền chỉ huy của Lý Hoài chém đầu. Thủ cấp của Hoàng Việt được Đằng Kham cắm vào sào vác theo quân tiên phong.

Hô Diên Báo[sửa | sửa mã nguồn]

Hô Diên Chước[sửa | sửa mã nguồn]

Bài chi tiết: Hô Diên Chước

Hô Diên Ngọc[sửa | sửa mã nguồn]

Hô Diên Ngọc Anh[sửa | sửa mã nguồn]

Hồ Anh[sửa | sửa mã nguồn]

Hồ Anh (胡英) là một nhân vật trong Tục Thủy hử, xuất hiện tại hồi 99.[3] Hồ Anh là một tướng lĩnh dưới quyền Điền Hổ, giữ chức Đô đốc. Hồ Anh theo Điền Hổ đi đóng quân ở núi Đồng Đề. Quân Điền Hổ bị Tống Giang đánh bại, rút lui về thành Tương Viên. Hồ Anh dẫn quân vào thành thì bị trúng kế của Trương Thanh, cùng hơn 3.000 quân bị lọt vào hố sâu, toàn bộ bị quân Lương Sơn dùng giáo dài xiên chết.

Hồ Chính Khanh[sửa | sửa mã nguồn]

Hồ Đạo[sửa | sửa mã nguồn]

Hồ Hữu Vi[sửa | sửa mã nguồn]

Hồ Hiển[sửa | sửa mã nguồn]

Hồ Hiển (胡显) là một nhân vật trong Hậu Thủy hử, xuất hiện tại hồi 110. Hồ Hiển là trấn thủ thành Đông Xuyên của triều đình Vương Khánh. Hồ Hiển có anh trai là Hồ Tuấn, sau này quy hàng quân Tống Giang. Khi được Hồ Tuấn khuyên bảo, Hồ Hiển mở thành đầu hàng, hiến thành cho Lý Tuấn. Sau khi bình định, anh em họ Hồ được phong chức Thủy quân Đoàn luyện Đông Xuyên.

Hồ Mại[sửa | sửa mã nguồn]

Hồ Tuấn[sửa | sửa mã nguồn]

Hồ Xuân[sửa | sửa mã nguồn]

Hỗ Tam Nương[sửa | sửa mã nguồn]

Bài chi tiết: Hỗ Tam Nương

Hỗ thái công[sửa | sửa mã nguồn]

Hỗ Thành[sửa | sửa mã nguồn]

Bài chi tiết: Hỗ Thành

Hồng Tín[sửa | sửa mã nguồn]

Hồng Tín (洪信), tức Hồng thái úy (洪太尉) là một nhân vật trong Viên bản Thủy hử, xuất hiện tại hồi 1.[21] Hồng Tín là quan Điện tiền Thái úy thời Tống Nhân Tông.

Thời niên hiệu Gia Hựu, Hồng Tín nhận mệnh Tống Nhân Tông đi tới núi Long Hổ thuộc Tín Châu, lộ Giang Tây thỉnh Trương Thiên Sư vào triều lập đàn cầu trời. Trên đường đi lên núi, Hồng Tín lạc vào Phục Ma điện trong Thượng Thanh cung, dựa dẫm quyền thế ép buộc trụ trì mở ra Phục Ma điện, khiến cho ba mươi sáu Thiên Cương tinh, bảy mươi hai Địa Sát tinh bị trấn áp thoát ra. Các sao đi đầu thai, chính là 108 hảo hán Lương Sơn Bạc.[21]

Hồng giáo đầu[sửa | sửa mã nguồn]

Huệ Tường[sửa | sửa mã nguồn]

Hứa Định[sửa | sửa mã nguồn]

Hứa Quán Trung[sửa | sửa mã nguồn]

K[sửa | sửa mã nguồn]

Kế Tắc[sửa | sửa mã nguồn]

Kha Thủ[sửa | sửa mã nguồn]

Kha Thủ (柯守) là một nhân vật trong Giản bản Thủy hử, xuất hiện tại hồi 84.[22] Kha Thủ giữ chức Thái thú, trấn thủ thành Lăng Châu. Điền Hổ nổi dậy, sai các tướng Vương Cát, Trương Tường công chiếm huyện Hưu Ninh thuộc Lăng Châu. Kha Thủ không làm gì được, tấu lên triều đình. Khi Quan Thắng dẫn quân tới cứu viện, Kha Thủ cho người tiếp đón, nói rõ tình hình quân Điền Hổ.

Khang Lý Định An[sửa | sửa mã nguồn]

Khâu Ất Lang[sửa | sửa mã nguồn]

Khâu Huyền[sửa | sửa mã nguồn]

Khâu Nhạc[sửa | sửa mã nguồn]

Khâu Tiểu Ất[sửa | sửa mã nguồn]

Khâu Tường[sửa | sửa mã nguồn]

Khấu Trấn Viễn[sửa | sửa mã nguồn]

Khấu Trấn Viễn (寇镇远) là một nhân vật trong Tục Thủy hử, xuất hiện tại hồi 87.[1] Khấu Trấn Viễn là tướng lĩnh Đại Liêu, giữ chức Yên Kinh Kiêu tướng. Lương Sơn đánh bại quân của Ngột Nhan Diên Thọ, Khấu Trấn Viễn cùng Quỳnh Yêu Nạp Diên xin Thống quân Ngột Nhan Quang cho cầm quân cứu viện U Châu. Khấu Trấn Viễn được Ngột Nhan Quang phong làm Phó tiên phong, dẫn theo 1 vạn quân xuất chiến.

Quân cứu viện đụng độ chủ lực của Lương Sơn, Quỳnh Yêu Nạp Diên đánh bại Sử Tiến, bị Hoa Vinh bắn tên ngã ngựa, Sử Tiến quay lại chém chết. Khấu Trấn Viễn tức giận, xông lên trước trận, đấu với Tôn Lập được 20 hiệp thì lui lại. Tôn Lập đang muốn lập công, lắp tên bắn Khấu Trấn Viễn. Khấu Trấn Viễn bắt được mũi tên, tự mình lấy cung bắn trả. Tôn Lập thấy tên bắn tới, thấy không tránh thoát, vội đổ người, giả vờ bị trúng tên. Khấu Trấn Viễn không biết xách thương xông tới. Tôn Lập nhoài dậy, né thương, sau đó tóm lấy Khấu Trấn Viễn, dùng roi sắt đập gãy xương cổ mà chết.

Mô tả trận đối chiến giữa Khấu Trấn Viễn và Tôn Lập được xem là kinh điển trong văn học cổ điển Trung Quốc. Những năm 80 của thế kỷ XX, bộ tranh Phá Liêu quốc đồ lao vô công lấy trận đánh này làm bìa họa quyển.

Khấu Mãnh[sửa | sửa mã nguồn]

Khấu Phu[sửa | sửa mã nguồn]

Khấu Sâm[sửa | sửa mã nguồn]

Khấu Uy[sửa | sửa mã nguồn]

Khổng Hậu[sửa | sửa mã nguồn]

Khổng Lượng[sửa | sửa mã nguồn]

Bài chi tiết: Khổng Lượng

Khổng Minh[sửa | sửa mã nguồn]

Khổng Tân[sửa | sửa mã nguồn]

Khổng thái công[sửa | sửa mã nguồn]

Khúc Lợi Xuất Thanh[sửa | sửa mã nguồn]

Khuyết Chứ[sửa | sửa mã nguồn]

Kiều Chính[sửa | sửa mã nguồn]

Kiều Liệt[sửa | sửa mã nguồn]

Bài chi tiết: Kiều Đạo Thanh

Kiều Tú[sửa | sửa mã nguồn]

Đồng Kiều Tú (童娇秀) là một nhân vật trong Tục Thủy hử, xuất hiện tại hồi 101.[23] Kiều Tú con gái của Đồng Thế, em trai của Đồng Quán với con gái của Dương Tiễn. Kiều Tú được Đồng Quán nuôi nấng như con ruột, năm 16 tuổi đem gả cho con trai của Thái Du, trở thành cháu dâu của Thái Kinh.

Con trai Thái Du bị ngốc bẩm sinh, Kiều Tú biết được, thường ngày oán hận. Khi đi chơi ở Cấn Nhạc, Kiều Tú gặp phải Vương Khánh, thấy Vương Khánh dung mạo uy vũ, thân thể cường tráng, sinh lòng tương tư. Kiều Tú sai thị nữ đi hỏi Đổng ngu hầu về thân thế Vương Khánh, rồi tìm người dẫn mối, tư thông với nhau.

Về sau Vương Khánh trong một lần uống rượu với Trương Bân, say rượu để lộ chuyện. Việc đến tai Đồng Quán, Kiều Tú bị đưa đến Thái phủ bái đường. Vương Khánh ban đầu sợ hãi, không dám tới Đồng phủ, cuối cùng bị Đồng Quán cùng Thái Kinh cho người bắt tội, tìm cách giết chết.

Kim Đại Kiên[sửa | sửa mã nguồn]

Bài chi tiết: Kim Đại Kiên

Kim Đĩnh[sửa | sửa mã nguồn]

Kim Đĩnh (金鼎) là một nhân vật trong Tục Thủy hử, xuất hiện tại hồi 94.[20] Kim Đĩnh là một trong mười tướng lĩnh trấn thủ thành Chiêu Đức dưới quyền Điền Hổ. Sau khi quân Lương Sơn đánh tan viện binh của Kiều Đạo Thanh, Tống Giang viết thư dụ hàng bắn vào trong thành. Kim Đĩnh hợp mưu với Hoàng Việt tiến hành binh biến, giết chết Ngưu Canh, Lãnh Ninh, Diệp Thanh, chặt đầu treo ở cửa thành, sau đó mở cửa thành đầu hàng. Kim Đĩnh cùng Hoàng Việt sau đó dẫn Ông Khuê, Thái Trạch, Dương Xuân ra hàng quân Lương Sơn.

Trong chiến dịch Hoài Tây chống Vương Khánh, Kim Đĩnh cùng các hàng tướng Hà Bắc theo quân Lương Sơn xuất trận, xin được ra trận để báo đáp. Khi đánh Kỷ Sơn quân, Kim Đĩnh cùng Hoàng Việt xuất trận đối chiến với Viên Lãng, được 30 hiệp, đao của Kim Đĩnh bị Viên Lãng đánh quằn lưỡi. Kim Đĩnh thu đao không kịp, bị Viên Lãng dùng giáo đâm xuyên cả đầu lẫn mũ giáp, xác chết rơi khỏi lưng ngựa.

Kim Phúc thị lang[sửa | sửa mã nguồn]

Kim Phúc thị lang (金福 侍郎), là một nhân vật trong Tục Thủy hử, xuất hiện tại hồi 85.[12] Kim Phúc thị lang giữ chức quan thị lang, phụ tá quốc cữu Khang Lý Định An trấn thủ Bá Châu. Quân Lương Sơn do Tống Giang chỉ huy dùng mưu trá hàng, đem quân vào thành Bá Châu, Khang Lý Định An cùng hai thị lang Kim Phúc, Diệp Thanh đều bị bắt, sau được thả về Thượng Kinh.

Kim Thúy Liên[sửa | sửa mã nguồn]

Kim Tiết[sửa | sửa mã nguồn]

Bài chi tiết: Kim Tiết

Kim Trinh[sửa | sửa mã nguồn]

Kinh Trung[sửa | sửa mã nguồn]

L[sửa | sửa mã nguồn]

La chân nhân[sửa | sửa mã nguồn]

La Tiễn[sửa | sửa mã nguồn]

Lã Chấn[sửa | sửa mã nguồn]

Lã Chấn[sửa | sửa mã nguồn]

Lã Phương[sửa | sửa mã nguồn]

Bài chi tiết: Lã Phương

Lã Sư Nang[sửa | sửa mã nguồn]

Bài chi tiết: Lã Sư Nang

Lai Bảo[sửa | sửa mã nguồn]

Lai Hưng[sửa | sửa mã nguồn]

Lai Vượng[sửa | sửa mã nguồn]

Lan Hương[sửa | sửa mã nguồn]

Lãnh Cung[sửa | sửa mã nguồn]

Lãnh Ninh[sửa | sửa mã nguồn]

Lăng Chấn[sửa | sửa mã nguồn]

Bài chi tiết: Lăng Chấn

Lăng Quang[sửa | sửa mã nguồn]

Lạp Mai[sửa | sửa mã nguồn]

Lận Nhân[sửa | sửa mã nguồn]

Lâm Hân[sửa | sửa mã nguồn]

Lâm nương tử[sửa | sửa mã nguồn]

Lâm thái thái[sửa | sửa mã nguồn]

Lâm Xung[sửa | sửa mã nguồn]

Bài chi tiết: Lâm Xung

Lâu Mẫn Trung[sửa | sửa mã nguồn]

Lâu Mẫn Trung (娄敏中) là một nhân vật trong Tục Thủy hử, xuất hiện tại hồi 116.[19] Lâu Mẫn Trung là Tả Thừa tướng của triều đình Phương Lạp, thường gọi là Lâu thừa tướng. Lâu Mẫn Trung tính tình cả tin, cho phép anh em Nguyễn Tiểu Ngũ, Nguyễn Tiểu Thất trá hàng. Về sau, Sài Tiến và Yến Thanh dùng tên giả để thâm nhập vào triều đình Phương Lạp, Lâu Mẫn Trung lại dễ dàng tin tưởng, tiến cử Sài Tiến với Phương Lạp, lại làm mối cho Sài Tiến cưới công chúa Kim Chi (con gái Phương Lạp). Vì nguyên nhân trên nên quân Lương Sơn tiến hành nội ứng ngoại hợp phá vỡ Thanh Khê. Lúc thành phá, Lâu Mẫn Trung bèn giết Nguyễn Tiểu Ngũ, sau đó hối hận, biết bản thân không thoát nên treo cổ tự sát ở rừng tùng. Tống Giang cho người chặt đầu, đem đi tế Nguyễn Tiểu Ngũ.

Lệ Thiên Hựu[sửa | sửa mã nguồn]

Lệ Thiên Nhuận[sửa | sửa mã nguồn]

Bài chi tiết: Lệ Thiên Nhuận

Liêm Minh[sửa | sửa mã nguồn]

Liêu Lập[sửa | sửa mã nguồn]

Liễu Nguyên[sửa | sửa mã nguồn]

Liễu Thế Quyền[sửa | sửa mã nguồn]

Loan Đình Ngọc[sửa | sửa mã nguồn]

Bài chi tiết: Loan Đình Ngọc

Loan Đình Phương[sửa | sửa mã nguồn]

Bài chi tiết: Loan Đình Phương

Lỗ An[sửa | sửa mã nguồn]

Lỗ Thành[sửa | sửa mã nguồn]

Lỗ Trí Thâm[sửa | sửa mã nguồn]

Bài chi tiết: Lỗ Trí Thâm

Lôi Chấn[sửa | sửa mã nguồn]

Lôi Đại Nương[sửa | sửa mã nguồn]

Lôi Đại Nương là mẹ Lôi Hoành

Lôi Hoành[sửa | sửa mã nguồn]

Bài chi tiết: Lôi Hoành

Lôi Xuân[sửa | sửa mã nguồn]

Lôi Quýnh[sửa | sửa mã nguồn]

Lục Huy[sửa | sửa mã nguồn]

Lục Khiêm[sửa | sửa mã nguồn]

Lục Phương[sửa | sửa mã nguồn]

Lục Tiểu Ất[sửa | sửa mã nguồn]

Lục Thanh[sửa | sửa mã nguồn]

Lư Nguyên[sửa | sửa mã nguồn]

Lư Tuấn Nghĩa[sửa | sửa mã nguồn]

Bài chi tiết: Lư Tuấn Nghĩa

Lương Sư Thành[sửa | sửa mã nguồn]

Bài chi tiết: Lương Sư Thành

Lương Thế Kiệt[sửa | sửa mã nguồn]

Lương Vĩnh[sửa | sửa mã nguồn]

Lưu Cao[sửa | sửa mã nguồn]

Lưu Dĩ Kính[sửa | sửa mã nguồn]

Lưu Đường[sửa | sửa mã nguồn]

Bài chi tiết: Lưu Đường

Lưu Huệ Nương[sửa | sửa mã nguồn]

Bài chi tiết: Lưu Huệ Nương

Lưu Kỳ[sửa | sửa mã nguồn]

Lưu Lân[sửa | sửa mã nguồn]

Bài chi tiết: Lưu Lân

Lưu Lân (劉麟) là một nhân vật trong Đãng khấu chí, xuất hiện tại hồi ?. Lưu Lân đứng hàng thứ 28 trong 36 Lôi tướng, hiệu là Nguyên Tông Lôi Phủ Thủy Quan Khê Chân Khu Tà Sứ Giả chuyển thế. Lưu Lân là con trai của Lưu Quảng, em của Lưu Kỳ, là anh họ (biểu huynh) của Trần Lệ Khanh.

Vũ khí Lưu Lân sử dụng là song giản, kỹ năng bơi rất tốt. Lưu Lân theo Lưu Quảng, Trần Hy Chân lên Viên Tí Trại, bắt sống Tri phủ Nghi Châu Cao Phong để tế Lưu mẫu. Sau theo quân triều đình đánh dẹp Lương Sơn, lập công bắt sống Bào Húc. Về triều được phong Tả Thần Vũ phó tướng quân, tước Vũ Dương nam.

Nguyên mẫu nhân vật của Lưu Lân là con trai của Lưu Dự, vua của nước Tề do quân Kim lập ra sau Sự kiện Tĩnh Khang. Lưu Lân trong lịch sử từng đem quân đánh đuổi Tống Cao Tông. Mặt khác Lưu Lân trong Đãng khấu chí lại có tính cách, thân phận khác so với gia đình Lưu Quảng. Từ đó kết luận Lưu Lân trong Đãng khấu chí là con của Lưu Dự, là tòng tử (cháu họ) của Lưu Quảng.

Lưu Mẫn[sửa | sửa mã nguồn]

Lưu Mộng Long[sửa | sửa mã nguồn]

Lưu Nghê[sửa | sửa mã nguồn]

Bài chi tiết: Lưu Nghê

Lưu Nhân[sửa | sửa mã nguồn]

Lưu Nhất[sửa | sửa mã nguồn]

Lưu Nhị[sửa | sửa mã nguồn]

Lưu Quang Thế[sửa | sửa mã nguồn]

Bài chi tiết: Lưu Quang Thế

Lưu Quảng[sửa | sửa mã nguồn]

Lưu Tam[sửa | sửa mã nguồn]

Lưu thái công[sửa | sửa mã nguồn]

Lưu thái công[sửa | sửa mã nguồn]

Lưu Thông[sửa | sửa mã nguồn]

Lưu Vân[sửa | sửa mã nguồn]

Lý Bang Ngạn[sửa | sửa mã nguồn]

Bài chi tiết: Lý Bang Ngạn

Lý Bình Nhi[sửa | sửa mã nguồn]

Bài chi tiết: Lý Bình Nhi

Lý Bình Nhi (李瓶儿) là một nhân vật trong Kim Bình Mai, xuất hiện tại hồi 7.[6] Lý Bình Nhi ban đầu là thiếp thất của Lương trung thư. Khi Lương Sơn phá phủ Đại Danh, Lý Bình Nhi trốn ra, được Hoa thái giám cứu giúp, đem gả cho cháu là Hoa Tử Hư. Sau khi Hoa Tử Hư chết, Lý Bình Nhi tái giá với Tưởng Trúc Sơn, sau lại tái giá với Tây Môn Khánh, là người vợ thứ sáu của Tây Môn Khánh.

Lý Cát[sửa | sửa mã nguồn]

Lý Cầm Long[sửa | sửa mã nguồn]

Lý Cố[sửa | sửa mã nguồn]

Lý Cố (李固) là một nhân vật trong Thủy hử, xuất hiện tại hồi 61.[24] Lý Cố là chủ quản trong phủ Lư Tuấn Nghĩa, thường được gọi là Lý đô quản.

Lý Cố nguyên quán Đông Kinh (Biện Kinh), khi đến Bắc Kinh (Đại Danh) tìm người quen không gặp, phải đi ăn mày, đói rét sắp chết đói thì được Lư Tuấn Nghĩa cứu giúp, nhận làm gia nhân. Được vài năm, Lý Cố được Lư Tuấn Nghĩa tin tưởng, giao cho làm chủ quản, coi sóc cả Lư phủ, quản hơn 40, 50 người làm.

Lý Cố thường dựa thế, nói xấu Yến Thanh (con nuôi của Lư) trước mặt Lư Tuấn Nghĩa, lại tư thông với vợ Lư Tuấn Nghĩa là Giả thị (賈氏). Sau đó Lý Cố phản chủ vu cáo Lư Tuấn Nghĩa làm phản với Trung thư Lương Ngạn Đạt để chiếm gia sản. Kết cục, khi quân Lương Sơn phá thành Đại Danh, bị Lư Tuấn Nghĩa giết.

Lý Cổn[sửa | sửa mã nguồn]

Bài chi tiết: Lý Cổn

Lý Công[sửa | sửa mã nguồn]

Lý đô quản[sửa | sửa mã nguồn]

Lý Đạt[sửa | sửa mã nguồn]

Lý Đức[sửa | sửa mã nguồn]

Lý Hoài[sửa | sửa mã nguồn]

Lý Hùng[sửa | sửa mã nguồn]

Lý Ích[sửa | sửa mã nguồn]

Lý Kiều Kiều[sửa | sửa mã nguồn]

Lý Kiều Nhi[sửa | sửa mã nguồn]

Lý Kiều Nhi (李娇儿) là một nhân vật trong Kim Bình Mai, xuất hiện tại hồi 1.[5] Lý Kiều Nhi xuất thân kỹ nữ, sở hữu nhan sắc hoa nhường nguyệt thẹn. Do Tây Môn Khánh trước kia hay đến kỹ viện tìm Lý Kiều Nhi giải buồn, nên khi sau khi cưới Ngô Nguyệt Nương, Tây Môn Khánh tiện thể nạp Lý Kiều Nhi và Trác Đâu Nhi về làm thiếp.

Lý Kiều Nhi là vợ thứ hai của Tây Môn Khánh. Bản thân tự biết xuất thân thấp hèn, đồng thời sắc đẹp để tranh sủng. Nên sau khi vào phủ Tây Môn, Lý Kiều Nhi vô cùng biết điều. Đến khi Tây Môn Khánh chết, Lý Kiều Nhi nhanh chóng tái giá, thoát ly khỏi gia đình Tây Môn.

Lý Kim Ngô[sửa | sửa mã nguồn]

Lý Lão Mẫu[sửa | sửa mã nguồn]

Lý Lão Mẫu là mẹ Lý Quỳ, xuất hiện ở chương 42

Lý Lập[sửa | sửa mã nguồn]

Bài chi tiết: Lý Lập

Lý Minh[sửa | sửa mã nguồn]

Lý mụ mụ[sửa | sửa mã nguồn]

Lý ngu hầu[sửa | sửa mã nguồn]

Lý Nhị[sửa | sửa mã nguồn]

Lý Ngọc[sửa | sửa mã nguồn]

Lý Phi Báo[sửa | sửa mã nguồn]

Lý Phục[sửa | sửa mã nguồn]

Lý Phượng Minh[sửa | sửa mã nguồn]

Lý Phượng Minh (钱飞虎) là một nhân vật trong Đãng khấu chí, xuất hiện tại hồi 85.[25] Lý Phượng Minh là một trong bốn Đề hạt dưới quyền Tri phủ Nghi Châu Cao Phong.

Lý Phượng Minh cùng Triệu Long, Tôn Lân, Tiền Phi Hổ là bốn Đề hạt theo quân Cao Phong chinh thảo Viên Tí trại, trả thù Trần Hi Chân, Lưu Quảng phá thành Nghi Châu. Trong trận, cả bốn tướng đối đầu với Trần Lệ Khanh, bốn tướng không địch lại, đều thua trận. Cao Phong thấy các tướng thua trận, dùng phép thuật vây khốn Trần Lệ Khanh. Trần Hi Chân dẫn viện binh tới cứu, quân Cao Phong đại bại rút lui.

Sau Cao Phong dẫn Triệu Long, Tôn Lân, Lý Phượng Minh truy đuổi Lưu Huệ Nương, bị trúng mai phục. Lý Phượng Minh bị Chân Tường Lân chém chết.

Lý Quế Thư[sửa | sửa mã nguồn]

Lý Quế Thư là một nhân vật trong Kim Bình Mai, là cháu gái của Lý Kiều Nhi. Lý Quế Thư xuất thân là kỹ nữ, từng cặp kè với Tây Môn Khánh.

Lý Quỳ[sửa | sửa mã nguồn]

Bài chi tiết: Lý Quỳ

Lý Quỷ[sửa | sửa mã nguồn]

Bài chi tiết: Lý Quỷ

Lý Sư Sư[sửa | sửa mã nguồn]

Bài chi tiết: Lý Sư Sư

Lý Thành[sửa | sửa mã nguồn]

Bài chi tiết: Lý Thành (nhà Kim)

Lý Thiên Tích[sửa | sửa mã nguồn]

Lý Thiều[sửa | sửa mã nguồn]

Lý Thụy Lan[sửa | sửa mã nguồn]

Lý Tiểu Nhị[sửa | sửa mã nguồn]

Lý Tiểu Nhị[sửa | sửa mã nguồn]

Lý Trợ[sửa | sửa mã nguồn]

Lý Trung[sửa | sửa mã nguồn]

Bài chi tiết: Lý Trung (Thủy hử)

Lý Tuấn[sửa | sửa mã nguồn]

Bài chi tiết: Lý Tuấn (Thủy hử)

Lý Tùng Cát[sửa | sửa mã nguồn]

Bài chi tiết: Lý Tùng Cát

Lý Tứ[sửa | sửa mã nguồn]

Lý Ứng[sửa | sửa mã nguồn]

Bài chi tiết: Lý Ứng

Lý Vạn[sửa | sửa mã nguồn]

Lý Vân[sửa | sửa mã nguồn]

Bài chi tiết: Lý Vân

Lý Xảo Nô[sửa | sửa mã nguồn]

M[sửa | sửa mã nguồn]

Mã Lân[sửa | sửa mã nguồn]

Bài chi tiết: Mã Lân

Mã Sĩ Hoằng[sửa | sửa mã nguồn]

Mã Vạn Lý[sửa | sửa mã nguồn]

Mã Linh[sửa | sửa mã nguồn]

Bài chi tiết: Mã Linh

Mã Cường[sửa | sửa mã nguồn]

Mã Kính[sửa | sửa mã nguồn]

Mạc Chân[sửa | sửa mã nguồn]

Mai Hương[sửa | sửa mã nguồn]

Mai Hương[sửa | sửa mã nguồn]

Mai Triển[sửa | sửa mã nguồn]

Bài chi tiết: Mai Đại Lang

Mai Ngọc[sửa | sửa mã nguồn]

Mãn Đường[sửa | sửa mã nguồn]

Mao thái công[sửa | sửa mã nguồn]

Mao Trọng Nghĩa[sửa | sửa mã nguồn]

Mao Địch[sửa | sửa mã nguồn]

Mạnh Duệ[sửa | sửa mã nguồn]

Mạnh Khang[sửa | sửa mã nguồn]

Bài chi tiết: Mạnh Khang

Mạnh Ngọc Lâu[sửa | sửa mã nguồn]

Bài chi tiết: Mạnh Ngọc Lâu

Mạnh Ngọc Lâu (孟玉楼), còn gọi Mạnh Tam Nhi (孟三儿) là một nhân vật trong Kim Bình Mai, xuất hiện tại hồi 7.[6] Mạnh Ngọc Lâu vốn là góa phụ của nhà họ Dương, nắm giữ nhiều tài sản sau khi chồng mất.

Mễ Tuyền[sửa | sửa mã nguồn]

Miêu Thành[sửa | sửa mã nguồn]

Mộ Dung Ngạn Đạt[sửa | sửa mã nguồn]

Mộ Dung quý phi[sửa | sửa mã nguồn]

Mục Hoằng[sửa | sửa mã nguồn]

Bài chi tiết: Mục Hoằng

Mục thái công[sửa | sửa mã nguồn]

Mục Xuân[sửa | sửa mã nguồn]

Bài chi tiết: Mục Xuân

My Sảnh[sửa | sửa mã nguồn]

Bài chi tiết: My Sảnh

N[sửa | sửa mã nguồn]

Nhạc Đại Nương[sửa | sửa mã nguồn]

Nhạc Hòa[sửa | sửa mã nguồn]

Bài chi tiết: Nhạc Hòa

Nghiêm Dũng[sửa | sửa mã nguồn]

Nghê Lân[sửa | sửa mã nguồn]

Nghê Nhiếp[sửa | sửa mã nguồn]

Nghê Vân[sửa | sửa mã nguồn]

Nghênh Nhi[sửa | sửa mã nguồn]

Nghênh Nhi là một nhân vật hư cấu trong Thuỷ hử. Nghênh Nhi xuất hiện ở hồi 44, không rõ họ, là a hoàn hầu hạ tiểu thư Phan Xảo Vân - vợ Dương Hùng.

Biết tin Phan Xảo Vân lẳng lơ thông dâm với nhà sư Bùi Như Hải, Dương Hùng nghe theo kế của Thạch Tú đưa vợ cùng a hoàn Nghênh Nhi lên núi Thuý Bình - nơi Thạch Tú chực sẵn. Dương Hùng ép Nghênh Nhi thuật lại mọi chuyện, rồi giết Nghênh Nhi cùng Phan Xảo Vân trên rừng núi Thuý Bình.

Nghênh Nhi[sửa | sửa mã nguồn]

Nghênh Nhi (迎儿), hay Võ Nghênh Nhi (武迎儿, Wǔ Yíng'er) là một nhân vật trong Kim Bình Mai, xuất hiện tại hồi 1.[5] Võ Nghênh Nhi là con gái riêng của Võ Đại Lang, cháu gái Võ Tòng.

Khi Nghênh Nhi mới 12 tuổi thì Võ Đại Lang cưới Phan Kim Liên làm vợ mới. Do cha Nghênh Nhi quá hiền lành nhu nhược nên cô bé luôn bị mẹ kế hành hạ đánh đập. Thậm chí sau khi Võ Đại Lang mất, Võ Tòng vẫn đang ở Đông Kinh không biết ở nhà đứa cháu tội nghiệp thế nào, Phan Kim Liên vì muốn dan díu với Tây Môn Khánh, cùng thời điểm ấy Tây Môn Khánh lại đang cưới vợ mới nên không ngó ngàng gì tới Phan Kim Liên. Võ Nghênh Nhi còn càng đáng thương hơn khi bị mẹ kế bắt đi tìm Tây Môn Khánh, tìm không được thì bị đánh đập đến khi toàn thân rớm máu mới thôi...

Cho đến khi mẹ kế đi lấy chồng khác, cuộc đời Võ Nghênh Nhi bước sang trang mới: cô bé được chú gửi cho Đào Nhị Lang - một người họ hàng xa nuôi nấng.

Võ Tòng báo thù cho anh trai, nhưng lại giết nhầm người khác mà ông tưởng là Tây Môn Khánh nên bị bắt tội và đi đày nơi xa. Bao năm sau, khi Võ Nghênh Nhi đã 19 tuổi, cô lại cùng chú về nhà cũ ở. Cùng thời điểm này Tây Môn Khánh đã chết, Phan Kim Liên bị trục xuất khỏi nhà họ Tây Môn và tá túc ở nhà Vương bà. Võ Tòng đã vờ bỏ tiền ra nhờ vả Vương bà cho cưới Phan Kim Liên. Ả dâm phụ nghe thấy em chồng bỏ tiền ra xin cưới mình thì sung sướng tột độ, hí hửng cùng Vương bà tới nhà họ Võ. Giữa chừng "bữa tiệc cưới", Võ Tòng ra hiệu cho Võ Nghênh Nhi đóng cửa chặn toàn bộ lối thoát, rồi ép Phan Kim Liên khai hết toàn bộ sự thật về cái chết của Võ Đại Lang. Ả dâm phụ bị Võ Tòng mổ bụng moi sạch lục phủ ngũ tạng và cắt đầu tế anh trai, rồi Vương bà cũng bị giết. Võ Tòng lấy lại 80 lạng bạc đã đưa cho Vương bà từ trước (do Vương bà đã trích ra 20 lạng bạc từ 100 lạng bạc tiền cưới để gửi lại Ngô Nguyệt Nương - vợ cả Tây Môn Khánh vì trước kia Tây Môn Khánh đã tốn rất nhiều bạc để cưới Phan Kim Liên), về nhà dặn dò Nghênh Nhi, rồi đêm đó ông trốn lên núi Nhị Long cùng hai vợ chồng Trương Thanh, Tôn Nhị NươngThi Ân.

Sau này Võ Tòng trở thành hảo hán Lương Sơn. Còn Võ Nghênh Nhi lại được Đào Nhị Lang đón về gả chồng, sống hạnh phúc đến cuối đời.

Nghênh Xuân[sửa | sửa mã nguồn]

Ngọc Lan[sửa | sửa mã nguồn]

Ngọc Kiều Chi[sửa | sửa mã nguồn]

Ngọc Tiêu[sửa | sửa mã nguồn]

Ngọc Xuyến[sửa | sửa mã nguồn]

Ngô Dụng[sửa | sửa mã nguồn]

Bài chi tiết: Ngô Dụng

Ngô Bỉnh Di[sửa | sửa mã nguồn]

Ngô đạo quan[sửa | sửa mã nguồn]

Ngô Điển Ân[sửa | sửa mã nguồn]

Ngô Nguyệt Nương[sửa | sửa mã nguồn]

Bài chi tiết: Ngô Nguyệt Nương

Ngô Ngân Nhi[sửa | sửa mã nguồn]

Ngô Thành[sửa | sửa mã nguồn]

Ngô Thành[sửa | sửa mã nguồn]

Ngô Trị[sửa | sửa mã nguồn]

Ngô Thăng[sửa | sửa mã nguồn]

Ngô Thiên Hộ[sửa | sửa mã nguồn]

Ngô Thiên Hộ vốn giữ chức Tả vệ ở huyện Thanh Hà, cha của Ngô Nguyệt Nương, là nhạc phụ của Tây Môn Khánh

Ngô Vi[sửa | sửa mã nguồn]

Ngô Vi (吴为, Wú Wèi) là một nhân vật trong Kết Đãng khấu chí. Ngô Vi là con trai (có bản chép là con nuôi) của Ngô Dụng. Ngô Vi sử dụng một đôi đồng liên, văn võ toàn tài, ngoại hiệu là Tuệ Đa Hải. Sau khi Lương Sơn bị đánh dẹp, Ngô Vi cùng Hoa Phùng Xuân đi hiệu lực cho Vương Khánh, tiếp tục mục tiêu diệt Tống để trả thù.

Ngột Nhan Quang[sửa | sửa mã nguồn]

Bài chi tiết: Ngột Nhan Quang

Ngột Nhan Diên Thọ[sửa | sửa mã nguồn]

Ngũ Túc[sửa | sửa mã nguồn]

Ngũ Ứng Tinh[sửa | sửa mã nguồn]

Nguyên Hưng[sửa | sửa mã nguồn]

Nguyên Tiêu[sửa | sửa mã nguồn]

Nguyễn Lương[sửa | sửa mã nguồn]

Nguyễn Tiểu Ngũ[sửa | sửa mã nguồn]

Bài chi tiết: Nguyễn Tiểu Ngũ

Nguyễn Tiểu Nhị[sửa | sửa mã nguồn]

Bài chi tiết: Nguyễn Tiểu Nhị

Nguyễn Tiểu Thất[sửa | sửa mã nguồn]

Bài chi tiết: Nguyễn Tiểu Thất

Nguyễn Quế Anh[sửa | sửa mã nguồn]

Ngưu Nhị[sửa | sửa mã nguồn]

Ngụy Định Quốc[sửa | sửa mã nguồn]

Bài chi tiết: Ngụy Định Quốc

Ngưu Bang Hỉ[sửa | sửa mã nguồn]

Ngưu Canh[sửa | sửa mã nguồn]

Nhan Thụ Đức[sửa | sửa mã nguồn]

Nhâm Nguyên[sửa | sửa mã nguồn]

Nhâm Sâm[sửa | sửa mã nguồn]

Nhâm Tuyết Y[sửa | sửa mã nguồn]

Nhâm Tuyết Y (任雪衣, Rèn Xuěyī) là một nhân vật trong phim Lãng tử Yến Thanh. Nàng là con gái của Kình Thiên Trụ Nhậm NguyênMai thị, là chị em cùng mẹ khác cha của Lý Sư Sư, bái Cao Cầu làm cha nuôi. Nhâm Tuyết Y tính cách nghịch ngợm ngang bướng, dám yêu dám hận.

Nhâm Tuyết Y trọn tình với Yến Thanh, nhưng lại bị Cao Cầu đưa tiến cung hầu Tống Huy Tông, phong làm Quý phi. Nhận thấy cả mẹ mình, chồng mình lẫn người mình yêu đều yêu quý Lý Sư Sư, Nhâm Tuyết Y trong lòng oán hận Lý Sư Sư. Nhâm Tuyết Y sau đó trở thành con cờ trong tay Cao Cầu, nàng nhiều lần hãm hại Yến Thanh và Lý Sư Sư, khiến Mai phu nhân đau khổ tự sát.

Nhâm Tuyết Y tỉnh ngộ, trốn khỏi hoàng cung, tìm thấy Yến Thanh. Kết cục vì cứu Yến Thanh mà chết.

Nhiếp Tân[sửa | sửa mã nguồn]

Ngư Đắc Nguyên[sửa | sửa mã nguồn]

Nữu Văn Trung[sửa | sửa mã nguồn]

O[sửa | sửa mã nguồn]

Oát Ly Bất[sửa | sửa mã nguồn]

Bài chi tiết: Oát Ly Bất

Ô Lê[sửa | sửa mã nguồn]

Ô Lợi Khả An[sửa | sửa mã nguồn]

Ô phu nhân[sửa | sửa mã nguồn]

Ô Phúc[sửa | sửa mã nguồn]

Ô Trường[sửa | sửa mã nguồn]

Ôn Vân Bảo[sửa | sửa mã nguồn]

Ôn Văn Bảo (温文宝, Wēn Wénbǎo) là một nhân vật trong Thủy hử, xuất hiện tại hồi 52.[26] Ôn Văn Bảo là Thống chế quan của Cao Đường Châu, dưới quyền Cao Liêm, sử dụng một thanh trường thương. Khi quân Lương Sơn tấn công Cao Đường, Ôn Văn Bảo thấy đồng liêu Vu Trực bị Lâm Xung giết chết, xông ra báo thù, bị Tần Minh chặn lại. Ôn Văn Bảo giao chiến với Tần Minh được 10 hiệp bị Tần Minh đập chết.

Ôn Khắc Nhượng[sửa | sửa mã nguồn]

Ông Khuê[sửa | sửa mã nguồn]

Ông Khuê (翁奎, Wēng Kuí) là một nhân vật trong Hậu Thủy hử, xuất hiện tại hồi 94.[20] Ông Khuê là một trong mười tướng lĩnh trấn thủ thành Chiêu Đức dưới quyền Điền Hổ. Sau khi quân Lương Sơn đánh bại viện binh, Hoàng Việt cùng Kim Đĩnh tổ chức binh biến, giết Ngưu Canh, Lãnh Ninh, Diệp Thanh, mở cửa thành đầu hàng. Ông Khuê sau đó ra hàng quân Lương Sơn, nhưng không theo quân Lương Sơn đi đánh Vương Khánh.

Ông Phi[sửa | sửa mã nguồn]

P[sửa | sửa mã nguồn]

Phan Công[sửa | sửa mã nguồn]

Phan Dị[sửa | sửa mã nguồn]

Phan Kim Liên[sửa | sửa mã nguồn]

Bài chi tiết: Phan Kim Liên

Phan Kim Liên (潘金莲, Pān Jīnlián) là một nhân vật trong Thủy hửKim Bình Mai, xuất hiện tại hồi 23 của Thủy hử[27] và hồi 1 của Kim Bình Mai.[5] Phan Kim Liên là vợ của Võ Đại Lang, là chị dâu của Võ Tòng.

Phan Kim Liên nguyên là hầu gái trong nhà đại gia, rất xinh đẹp. Do không chịu làm thiếp cho tài chủ già nên bị bức phải lấy Võ Đại Lang, một người bán bánh bao vừa lùn vừa xấu xí. Phan Kim Liên vừa nhục nhã vừa thất vọng. Về sau, Võ Tòng gặp lại Võ Đại Lang, Phan Kim Liên thấy Võ Tòng là anh hùng cái thế thì ra sức quyến rũ nhưng Võ Tòng không chút động lòng.

Nhân lúc Võ Tòng đi Đông Kinh, do người láng giềng là Vương bà dắt mối, Phan Kim Liên quen với Tây Môn Khánh, ả đã không kìm nổi ham muốn. Khi hai người gặp nhau ở nhà Vương bà thì bị Võ Đại Lang phát hiện. Võ Đại Lang bị Tây Môn Khánh đánh đến ngất đi. Vì muốn gian díu lâu dài với Tây Môn Khánh nên Phan Kim Liên đã nhẫn tâm và quỷ quyệt, với sự giúp đỡ của Vương bà, ả bỏ thạch tín vào bát canh của Võ Đại Lang để giết chết, sau đó trở thành ngũ nương của Tây Môn Khánh.

Võ Tòng trở về, biết chuyện lập tức mời hàng xóm đến nhà, đến trước bàn thờ anh rồi gọi Phan Kim Liên ra. Ả xin tha tội nhưng bị Võ Tòng chém chết tại chỗ rồi đi giết Tây Môn Khánh.

Trong Kim Bình Mai, Phan Kim Liên sau khi làm vợ Tây Môn Khánh thì đanh đá chua ngoa hơn, nhiều thủ đoạn hơn, đến mức ở hồi 45 (Thủ phạm lấy vàng) Lý Quế Thư khi nhắc nhở Hạ Hoa Nhi (a hoàn của Lí Kiều Nhi) về vụ trộm vàng còn phải nhận xét về ả rằng "Mày xem con hầu Thu Cúc (a hoàn của Phan Kim Liên) ở phòng Ngũ nương đi, nó suốt ngày bị đánh đập mà có bao giờ nó làm xấu chủ nó đâu, mặc dù chủ nó là thứ hồ li tinh ở cái nhà này !". Hầu như toàn bộ người trong nhà họ Tây Môn đều sợ "Ngũ nương", ngay cả Tây Môn Khánh cũng nể Phan Kim Liên. Có thể nói ả gần như là "nữ hoàng" khi ở với Tây Môn Khánh, ả ngày càng xấu tính, kiêu lộng, lớn bé không coi ra gì.

Phan Tài Phùng[sửa | sửa mã nguồn]

Phan Tấn[sửa | sửa mã nguồn]

Phan Tiểu Hồng[sửa | sửa mã nguồn]

Phan Tiểu Hồng là một nhân vật trong Kim Bình Mai, xuất hiện ở hồi 2. Phan Tiểu Hồng là một mỹ nhân sở hữu nhan sắc cá lặn nhạn sa, với đôi bàn chân nhỏ không quá ba tấc. Biết Tây Môn Khánh háo sắc, Tạ Hi Đại liền giới thiệu Phan Tiểu Hồng cho Tây Môn Khánh. Nhưng do Tây Môn Khánh trước đã nằm mộng thấy giấc mộng kì lạ thấy không nên đụng đến người họ Phan nên ngần ngừ không đi gặp Phan Tiểu Hồng.

Khi Tây Môn Khánh, Ứng Bá Tước, Tạ Hi Đại cùng đến nhà họ Phan, Phan Tiểu Hồng xuất hiện, nàng được miêu tả "má đào môi thắm, sóng mắt long lanh, chiếc mũi nhỏ thật xinh, thân mặc một cái áo màu lục có thêu hoa, chân đi hài thêu kim tuyến hồng". Cả Ứng Bá Tước và Tạ Hi Đại đều say mê, riêng Tây Môn Khánh còn ám ảnh giấc mộng nên không muốn ở lại lâu.

Nhờ cảnh giác giấc mộng mà Tây Môn Khánh không rơi vào lưới tình với Phan Tiểu Hồng, nhưng thay vào đó sau này lại rơi vào lưới tình với Phan Kim Liên. Đó là giấc mộng ở đầu tiểu thuyết - một dụng ý của tác giả, báo hiệu cuộc đời của Tây Môn Khánh sau này sẽ điêu đứng vì Phan Kim Liên.

Phan Tuấn[sửa | sửa mã nguồn]

Phan Trung[sửa | sửa mã nguồn]

Phan Văn Đắc[sửa | sửa mã nguồn]

Phan Xảo Vân[sửa | sửa mã nguồn]

Phàn Thụy[sửa | sửa mã nguồn]

Bài chi tiết: Phàn Thụy

Phàn Ngọc Minh[sửa | sửa mã nguồn]

Phạm mỹ nhân[sửa | sửa mã nguồn]

Phạm Trọng Yêm[sửa | sửa mã nguồn]

Bài chi tiết: Phạm Trọng Yêm

Phạm Trọng Yêm (范仲淹) là một nhân vật trong Viên bản Thủy hử, xuất hiện tại hồi 1.[21] Văn Ngạn Bác là Tham tri Chính sự thời Tống Nhân Tông. Trong triều, Phạm Trọng Yêm khởi tấu về thiên tai bệnh dịch, thỉnh Tống Nhân Tông mới Trương Thiên Sư đến kinh thành tế trời. Tống Nhân Tông phê chuẩn, sai Thái úy Hồng Tín đến Tín Châu.

Phạm Quyền[sửa | sửa mã nguồn]

Phạm Toàn[sửa | sửa mã nguồn]

Phạm Trù[sửa | sửa mã nguồn]

Pháp Thông[sửa | sửa mã nguồn]

Pháp Tuệ[sửa | sửa mã nguồn]

Phí Bảo[sửa | sửa mã nguồn]

Phí Trân[sửa | sửa mã nguồn]

Phó Tường[sửa | sửa mã nguồn]

Phong Mỹ[sửa | sửa mã nguồn]

Phong Mỹ (酆美, Fēng Měi) là một nhân vật trong Tục Thủy hử, xuất hiện trong hồi 76.[28] Phong Mỹ là một tướng lĩnh của triều đình nhà Tống, thuộc biên chế Ngự Lâm quân của Kinh sư, giữ chức Ngự Tiền Phi Long đại tướng. Đồng Quán đem 10 vạn quân đi chinh phạt Lương Sơn Bạc, chọn lựa 2 vạn quân từ Cấm quân, giao cho Phong Mỹ và Tất Thắng chỉ huy.

Trong lần đầu giao tranh, Phong Mỹ cùng Tất Thắng được cắt cử làm tướng Vũ Dực ở trung quân, trận đó quân triều đình đại bại. Trong lần giao tranh thứ hai, để đối phó quân Lương Sơn bày Cửu Cung Bát Quái trận, Phong Mỹ đề nghị Đồng Quán cho quân xếp theo thế Trường Xà trận, được Đồng Quán đồng ý. Sau đó quân triều đình bị mai phục, trung quân bị Chu Đồng, Lôi Hoành dẫn 5.000 quân tấn công. Phong Mỹ giao chiến với Chu Đồng, sau đó lại phải giao chiến với Quan Thắng. Quân triều đình nhanh chóng đại bại, Phong Mỹ cố gắng hộ vệ Đồng Quán rút lui, một mình phá vây, liên hệ được với quân của Chu Tín, hợp quân lại để tháo chạy. Khi sắp rút về Tế Châu, quân triều đình lại gặp quân Lương Sơn do Lư Tuấn Nghĩa chỉ huy. Phong Mỹ một mình đấu với Lư Tuấn Nghĩa để cho Đồng Quán chạy trốn, được mười mấy hiệp thì bị bắt sống.

May mắn khi bị kéo về trại Lương Sơn, Phong Mỹ được Tống Giang mở trói, đối xử tử tế và tha cho trở về. Phong Mỹ cảm kích Tống Giang, nói tốt với Đồng Quán, Cao Cầu xin cho triều đình chiêu an Lương Sơn Bạc. Vì thế khiến Cao Cầu tức giận, cho là Lương Sơn dùng việc đó để khinh bỉ triều đình, Phong Mỹ do giữ chức cao, nên không bị hại.

Phong Thái[sửa | sửa mã nguồn]

Phòng Học Độ[sửa | sửa mã nguồn]

Phòng Học Độ (房学度) là một nhân vật trong Tục Thủy hử, xuất hiện tại hồi 99.[3] Phòng Học Độ là văn thần dưới quyền Điền Hổ, giữ chức Thái úy, được Điền Hổ giao cho chỉ huy 3 vạn quân với 10 chính phó tướng, kéo quân ra huyện Du Xã chống cự binh mã của Quan Thắng.

Phòng Học Độ giỏi dùng binh, đem quân vây Sách Siêu và Thang Long rất dữ, buộc Lư Tuấn Nghĩa phải triệu hồi Quan Thắng, Tần Minh, Lôi Hoành, Trần Đạt, Dương Xuân, Dương Lâm, Chu Thông quay lại giải vây. Phòng Học Độ bị thua trận, chết trong loạn quân.

Phòng Huyền Độ[sửa | sửa mã nguồn]

Phòng Huyền Độ (房玄度) là một nhân vật trong Giản bản Thủy hử, xuất hiện tại hồi ?.

Phố Văn Anh[sửa | sửa mã nguồn]

Phù Lập[sửa | sửa mã nguồn]

Phù Lập (符立) là một nhân vật trong Đãng khấu chí, xuất hiện tại hồi 100.[29] Phù Lập giữ chức Phòng ngự huyện Mông Âm. Khi quân Lương Sơn tới công huyện, Phù Lập sợ hãi bỏ chạy, không biết đi đâu.

Phú Cát[sửa | sửa mã nguồn]

Phú An[sửa | sửa mã nguồn]

Phú An hay Phú Yên (富安) là một nhân vật trong Thủy hử, xuất hiện tại hồi 9.[30] Phú An là thủ hạ của Cao Cầu, vì nịnh bợ Cao Nha Nội, bàn mưu với Lục Khiêm hại Lâm Xung ở Thảo liệu trường. Phú An sau đó bị xâm xung giết chết.

Phùng Dực[sửa | sửa mã nguồn]

Phùng Hỉ[sửa | sửa mã nguồn]

Phùng Hỉ (冯喜) là một nhân vật trong Tục Thủy hử, xuất hiện tại hồi 116.[19] Phùng Hỷ làm quan Dẫn tiến sứ dưới triều đình Phương Lạp. Sau khi thành Thanh Khê bị phá, Tống Giang cho chém đầu toàn bộ các quan lại của triều đình Phương Lạp, trong đó có Phùng Hỉ.

Phùng Kim Bảo[sửa | sửa mã nguồn]

Phùng Kỷ[sửa | sửa mã nguồn]

Phùng Thăng[sửa | sửa mã nguồn]

Phương Bách Hoa[sửa | sửa mã nguồn]

Phương Bách Hoa (方百花) là một nhân vật trong dã sử. Phương Bách Hoa người thôn Thất Hiền, Hấp Châu (nay thuộc An Huy), là em gái của Phương Lạp. Phương Lạp khởi nghĩa, phòng Phương Bách Hoa làm Nguyên soái. Phương Bách Hoa đánh bại các tướng Tống là Thái Tuấn, Nhân Đán, giúp Phương Lạp đánh hạ Hấp Châu, Hàng Châu. Đóng quân tại Mãn Đầu Sơn thuộc Hàng Châu tiến hành điểm tướng. Sau khi khởi nghĩa thất bại, Phương Bách Hoa bị bắt về Biện Kinh xử tử. Cũng có thuyết cho rằng Phương Bách Hoa trúng tên chết trận tại Hàng Châu.

Phương Hàn[sửa | sửa mã nguồn]

Phương Hậu[sửa | sửa mã nguồn]

Phương Kiệt[sửa | sửa mã nguồn]

Bài chi tiết: Phương Kiệt

Phương Kim Chi[sửa | sửa mã nguồn]

Phương Lạp[sửa | sửa mã nguồn]

Bài chi tiết: Phương Lạp

Phương Mạo[sửa | sửa mã nguồn]

Phương Mạo (方貌) là một nhân vật trong Hậu Thủy hử, xuất hiện ở hồi 113.[31] Phương Mạo là em trai thứ ba của Phương Lạp, được phong Đệ tam đại vương, trấn thủ Tô Châu. Phương Mạo giỏi võ nghệ, sử dụng vũ khí là Phương thiên họa kích. Khi được tin quân Lương Sơn tấn công Thường Châu, Phương Mạo sai Vệ Trung dẫn mười phó tướng, dẫn 1 vạn quân đi cứu viện Lã Sư Nang.

Lã Sư Nang, Hứa Định, Vệ Trung bị đánh bại, rút chạy về Tô Châu. Phương Mạo nổi giận, định đem chém, nhưng lại nghe lời Vệ Trung, cho Lã Sư Nang đi tiên phong. lập công chuộc tội. Phương Mạo tự mình lên ngựa, chỉ huy tám viên Phiêu kỵ tướng quân, dẫn 5 vạn quân đi đánh Thường Châu. Hai bên đối trận, tám tướng Lương Sơn đối chiến với tám Phiêu kỵ của Phương Mạo. Chu Đồng trên trận chém được Cẩu Chính. Phương Mạo thấy tình thế bất lợi, cho rút quân, cố thủ Tô Châu.

Quân Tống Giang vây Tô Châu lâu ngày không được. May mà Lý Tuấn, Đồng Uy, Đồng Mãnh kết giao với thủy tặc Thái HồPhí Bảo, cho quân giả làm quân Phương Lạp, hạ thành. Trong lúc thành phá, Phương Mạo lập tức rút chạy, gặp Lý Quỳ chặn đường, đánh bại được, sau lại thoát khỏi tay Lỗ Trí Thâm, cuối cùng bị Võ Tòng chém chết.

Phương Quỳnh[sửa | sửa mã nguồn]

Phương Phì[sửa | sửa mã nguồn]

Phương Phì (方肥) là một nhân vật lịch sử. Phương Phì theo Phương Lạp khởi nghĩa ở động Bang Nguyên, được giữ chức Thừa tướng. Về sau khởi nghĩa thất bại, động Bang Nguyên bị phá, Phương Phì bị Lưu Diên Khánh bắt, đem về Biện Kinh chém đầu.

Phương Thiên Định[sửa | sửa mã nguồn]

Phương Thuận[sửa | sửa mã nguồn]

Phượng Nghi[sửa | sửa mã nguồn]

Q[sửa | sửa mã nguồn]

Quan Hà[sửa | sửa mã nguồn]

Quan Linh[sửa | sửa mã nguồn]

Quan Thắng[sửa | sửa mã nguồn]

Bài chi tiết: Quan Thắng

Quản Diễm[sửa | sửa mã nguồn]

Quách Canh[sửa | sửa mã nguồn]

Quách Thế Quảng[sửa | sửa mã nguồn]

Quách Thế Quảng (郭世广), là một nhân vật trong Hậu Thủy hử, xuất hiện ở hồi 113.[31] Quách Thế Quảng là một trong Mã quân Bát Phiêu kỵ của chính quyền Phương Lạp, được phong Phi Báo Đại tướng quân, đặt dưới sự chỉ huy của Khu mật sứ Lã Sư Nang. Trong Thủy hử Giản bản, Quách Thế Quảng ban đầu làm kẻ cướp, sau đó rửa tay chậu vàng, đi tu ở chùa Hàn Sơn tại Tô Châu, vì thế có ngoại hiệu là Báo Tử Hòa Thượng. Sau khi Phương Lạp khởi sự, vì có bạn cũ mời nên đầu nhập dưới trướng Lã Sư Nang. Khi quân Lương Sơn công thành Tô Châu, Quách Thế Quảng giao chiến với Hoàng Tín ba mươi hiệp. Khi thành bị phá, Quách Thế Quảng tử chiến với Tuyên Tán, cả hai đánh ngang sức, đều bị thương nặng, cùng chết ở chân cầu Ẩm Mã.

Quách Thịnh[sửa | sửa mã nguồn]

Bài chi tiết: Quách Thịnh

Quách Tín[sửa | sửa mã nguồn]

Quách Vĩnh Xương[sửa | sửa mã nguồn]

Quốc Vĩnh Thái[sửa | sửa mã nguồn]

Quý Tam Tư[sửa | sửa mã nguồn]

Quỳnh Anh[sửa | sửa mã nguồn]

Bạn cần điền liên kết bài chi tiết.

Ví dụ: {{Bài chi tiết|Điện ảnh Việt Nam}}

Quỳnh Yêu Nạp Diên[sửa | sửa mã nguồn]

S[sửa | sửa mã nguồn]

Sách Siêu[sửa | sửa mã nguồn]

Bài chi tiết: Sách Siêu

Sách Hiền[sửa | sửa mã nguồn]

Sài Tiến[sửa | sửa mã nguồn]

Bài chi tiết: Sài Tiến

Sài Hoàng Thành[sửa | sửa mã nguồn]

Sở Minh Ngọc[sửa | sửa mã nguồn]

Sơn Sĩ Kỳ[sửa | sửa mã nguồn]

Sử Tiến[sửa | sửa mã nguồn]

Bài chi tiết: Sử Tiến

Sử thái công[sửa | sửa mã nguồn]

Sử Định[sửa | sửa mã nguồn]

Sử Văn Cung[sửa | sửa mã nguồn]

Bài chi tiết: Sử Văn Cung

T[sửa | sửa mã nguồn]

Tả Mưu[sửa | sửa mã nguồn]

Tạ Hi Đại[sửa | sửa mã nguồn]

Tạ Hi Đại là một nhân vật trong Kim Bình Mai, xuất hiện ở hồi 1. Tạ Hi Đại có tên tự là Tử Thuần, là bạn thân của Tây Môn Khánh.

Tạ Ninh[sửa | sửa mã nguồn]

Tạ Ninh (谢宁) hay Tạ Vũ (谢宇), là một nhân vật trong Hậu Thủy hử, xuất hiện tại hồi 107.[16] Tạ Ninh là một tướng lĩnh cao cấp trong chính quyền Vương Khánh, giữ chức Thống quân Đại tướng. Khi quân Lương Sơn tiến công thành Tây Kinh và Kinh Nam, Vương Khánh sai Tạ Ninh nhận binh phù, tướng lệnh, đem 12 phó tướng cùng hai vạn quân đi cứu viện Kinh Nam. Trong truyện không nhắc tới kết cục của Tạ Ninh, nhiều khả năng bị quân Tống Giang tiêu diệt.

Tạ Phúc[sửa | sửa mã nguồn]

Tạ Vũ[sửa | sửa mã nguồn]

Tào Chính[sửa | sửa mã nguồn]

Tào Minh Tế[sửa | sửa mã nguồn]

Tào Hồng[sửa | sửa mã nguồn]

Tào thái công[sửa | sửa mã nguồn]

Tang Anh[sửa | sửa mã nguồn]

Tăng Đồ[sửa | sửa mã nguồn]

Tăng Khôi[sửa | sửa mã nguồn]

Tăng Lộng[sửa | sửa mã nguồn]

Tăng Mật[sửa | sửa mã nguồn]

Tăng Sâm[sửa | sửa mã nguồn]

Tăng Sách[sửa | sửa mã nguồn]

Tăng Thăng[sửa | sửa mã nguồn]

Tần Anh[sửa | sửa mã nguồn]

Tần Minh[sửa | sửa mã nguồn]

Bài chi tiết: Tần Minh

Tần Ngọc Lan[sửa | sửa mã nguồn]

Tần Nhân[sửa | sửa mã nguồn]

Tần Thăng[sửa | sửa mã nguồn]

Tất Thắng[sửa | sửa mã nguồn]

Tất Thắng (毕胜) là một nhân vật trong Tục Thủy hử, xuất hiện tại hồi 76.[28] Tất Thắng là một tướng lĩnh của triều đình nhà Tống, thuộc biên chế Ngự Lâm quân của Kinh sư, giữ chức Ngự Tiền Phi Hổ đại tướng. Đồng Quán đem 10 vạn quân đi chinh phạt Lương Sơn Bạc, chọn lựa 2 vạn quân từ Cấm quân, giao cho Phong Mỹ và Tất Thắng chỉ huy.

Trong lần đầu giao tranh, Phong Mỹ cùng Tất Thắng được cắt cử làm tướng Vũ Dực ở trung quân, trận đó quân triều đình đại bại. Trong lần giao tranh thứ hai, quân triều đình bị mai phục, trung quân bị Chu Đồng, Lôi Hoành dẫn 5.000 quân tấn công. Tất Thắng giao chiến với Lôi Hoành, bất phân thắng bại. Quân triều đình nhanh chóng đại bại, Phong Mỹ, Tất Thắng cố gắng hộ vệ Đồng Quán rút lui.

Các tướng lĩnh triều đình lần lượt bị bắt giết, còn duy nhất Tất Thắng hộ vệ bên cạnh Đồng Quán. Sau khi thoát khỏi vòng vây, Đồng Quán thấy bên người chỉ còn mỗi Tất Thắng, hổ thẹn không dám về gặp Trương Thúc Dạ, thu thập tàn quân rút thẳng về Đông Kinh.

Tất Thắng[sửa | sửa mã nguồn]

Tất Tiên[sửa | sửa mã nguồn]

Tất Tiệp[sửa | sửa mã nguồn]

Tất Ứng Nguyên[sửa | sửa mã nguồn]

Tất Ứng Nguyên (毕应元) là một nhân vật trong Đãng khấu chí, xuất hiện tại hồi 93. Tất Ứng Nguyên đứng hàng thứ 10 trong ba mươi sáu Lôi tướng, hiệu là Hy Nguyên Lôi Phủ U Uổng Ti Tổng Ti Chân Quân chuyển thế.

Tất Ứng Nguyên ban đầu làm Ngục quan tại Áp ngục ti Tào Châu. Tất Ứng Nguyên được Trương Minh Kha giới thiệu là mưu sĩ có nhiều mưu kế, lại giỏi võ nghệ, quen thuộc cung tên, bèn tiến cử cho Cái Thiên Tích. Tất Ứng Nguyên bèn bày ra kế giả làm đầu mục của Lã Phương rồi tiến hành phá ngục, để Lã Phương chạy về Lương Sơn Bạc khiến Tống Giang không có cớ đánh Tào Châu nữa. Sau đó ép buộc lâu la của Lã Phương phải nhận tội giết chết sứ giả của nhà vua, lại lấy lão Chung Ly Phúc Hoàn (trước là người họ Chung Ly ở Chúc Gia Trang) làm chứng, từ đó vu oan cho Lương Sơn Bạc tội khi quân.

Về sau Tất Ứng Nguyên tham gia chinh phạt Lương Sơn, có công bắn chết Bành Kỷ. Sau khi thảo phạt, Tất Ứng Nguyên được phong Đại học sĩ Long Đồ Các, Thị lang Bộ Hình, tước Tế Dương bá.

Tây Môn Đại Thư[sửa | sửa mã nguồn]

Tây Môn Đại Thư (西門大姐, Ximen Dajie) là một nhân vật trong Kim Bình Mai, xuất hiện tại hồi 1.[5] Tây Môn Đại Thư là con gái duy nhất của Tây Môn Khánh với Trần Đại Nương, được hứa gả cho Trần Kinh Tế từ nhỏ.

Tây Môn Đại Thư dù trẻ trung, xinh đẹp nhưng không thể bù đắp được ham muốn sắc dục của người chồng dâm đãng Trần Kinh Tế. Hai vợ chồng rất hay xung đột nhau và Tây Môn Đại Thư luôn là người chịu thiệt. Nàng còn hay bị lại luôn bị Trần Kinh Tế hành hung khi tâm trạng chán ghét. Sau này khi Trần Kinh Tế lấy kỹ nữ Phùng Kim Bảo về làm vợ rồi bạc đãi nàng đến cùng cực, nàng uất ức treo cổ tự sát.

Tây Môn Khánh[sửa | sửa mã nguồn]

Bài chi tiết: Tây Môn Khánh

Tây Môn Khánh (西門慶) là một nhân vật trong Thủy hửKim Bình Mai, xuất hiện tại hồi 23[27] của Thủy hử và hồi 1 của Kim Bình Mai.[5] Tây Môn Khánh là một phú hộ trong huyện Thanh Hà, gia sản chủ yếu là tiệm thuốc duy nhất trong huyện. Tây Môn Khánh tính tình dâm dật, thường hay kết giao với những tên ất ơ khác trong huyện, hàng ngày rủ nhau đi nhà kỹ nữ, nghe đàn, mua dâm. Sau Tây Môn Khánh thấy vợ của Võ Đại Lang bán bánh bao là Phan Kim Liên xinh đẹp, bèn gửi vàng cho Vương Bà tìm cách dụ dỗ. Phan Kim Liên tằng tịu với Tây Môn Khánh, sợ bị phát hiện nên đã lập mưu giết chết Võ Đại Lang. Sau này, em của Võ Đại Lang là Võ Tòng giết cả hai để báo thù cho anh. Trong tác phẩm Kim Bình Mai, Tây Môn Khánh trốn thoát được sự truy sát của Võ Tòng, rồi sau này do dâm dục quá độ mà chết.

Tây Môn Như Lan[sửa | sửa mã nguồn]

Tây Môn Như Lan (西门如兰) là một nhân vật trong Tình nghĩa anh hùng Vũ Nhị Lang, do Cao Hải Yến thủ vai.

Như Lan là em gái của Tây Môn Khánh, từng được Võ Tòng cứu nên đối với Võ Tòng nhất kiến chung tình. Sau Tây Môn Khánh thông đồng với Phan Kim Liên giết anh trai Võ Tòng là Võ Đại Lang, bị Võ Tòng chém giết. Như Lan vì cứu Võ Tòng, đứng ra vạch tội anh trai, giúp Võ Tòng được giảm án, chỉ bị đày đi Mạnh Châu. Khi Như Lan trốn nhà đi tìm Võ Tòng, bị Phi Thiên Ngô Công truy đuổi, nhảy vực tự vẫn, may mà được vợ Trương đô giám cứu, thu làm con gái nuôi.

Như Lan tái ngộ Võ Tòng, nhưng lại bị Trương đô giám gài bẫy. Trương đô giám hứa tương lai gả Như Lan cho Võ Tòng, khiến Võ Tòng bởi vậy buông lỏng cảnh giác, trúng kế bỏ tù. Như Lan vì cứu Võ Tòng, đáp ứng Trương đô giám, gả cho cháu hắn Trương đoàn luyện. Trương đô giám vẫn chưa yên tâm, phái người đến Phi Vân Phố sát hại Võ Tòng. Võ Tòng giết chết giải sai cùng sát thủ, trở lại phủ Trương đô giám, máu tươi lầu Uyên Ương, giết chết Trương đô giám cùng Tưởng Môn Thần.

Như Lan lại được Tôn Nhị Nương, Trương Thanh cứu ra, tại gò Thập Tự lần nữa tái ngộ Võ Tòng, nguyên thề bên nhau. Vì tránh quan quân đuổi bắt, gia đình Võ Tòng di chuyển đến Nhị Long Sơn. Trên đường lại đụng phải Phi Thiên Ngô Công. Hai bên ác chiến, Võ Tòng sau cùng tru diệt được ma đầu, nhưng Như Lan lại chết trong lòng người yêu.

Tây Môn Quỳ[sửa | sửa mã nguồn]

Tây Môn Quỳ người huyện Thanh Hà, phủ Đông Bình, tỉnh Sơn Đông, là cha của Tây Môn Khánh, tục gọi Tây Môn viên ngoại. Tây Môn Quỳ thường tới vùng Xuyên Quảng mua bán dược phẩm, nên có mở tại huyện Thanh Hà một cửa hiệu bán thuốc.

Thạch Bảo[sửa | sửa mã nguồn]

Bài chi tiết: Thạch Bảo

Thạch Dũng[sửa | sửa mã nguồn]

Bài chi tiết: Thạch Dũng

Thạch Hóa Long[sửa | sửa mã nguồn]

Thạch Hóa Long (石化龙) là một nhân vật xuất hiện trong vở kịch Mại nghệ phóng hữu (卖艺访友) và tiểu thuyết Độc tí Võ Tòng (独臂武松).

Trong vở kịch Mại nghệ phóng hữu, Thạch Hóa Long là con trai của Thạch Dũng. Sau khi cha tử trận, Hóa Long lưu lạc giang hồ, mãi nghệ bán thuốc cao, bị ác bá Diêm Tam Báo lăng mạ bức ép.

Khi đó Tiêu Quế Anh (tên thật là Nguyễn Quế Anh) là con gái của Nguyễn Tiểu Thất (Tiêu Ân) bị truy nã, đi tìm hôn phu Hoa Phùng Xuân, ngẫu nhiên gặp Thạch Hóa Long. Tiêu Quế Anh giúp Thạch Hóa Long đánh lại Diêm Tam Báo. Hoa Phùng Xuân bắt gặp, nghĩ rằng hai người bắt nạt người già, giao thủ với Quế Anh. Thạch Hóa Long thấy bảo cung gia truyền của Hoa gia, bèn nói tên Hoa Vinh. Hoa Phùng Xuân biết được chân tướng. Ba người hợp lực diệt trừ Diêm Tam Báo cùng bọn thuộc hạ rồi cùng nhau đào tẩu.

Trong tiểu thuyết Độc tí Võ Tòng, Thạch Hóa Long là con trai của Thạch Tú, được Võ Tòng thu nhận làm đệ tử, tham gia điều tra vụ án tru diệt Lương Sơn.

Thạch Kính[sửa | sửa mã nguồn]

Thạch Tốn[sửa | sửa mã nguồn]

Thạch Tú[sửa | sửa mã nguồn]

Bài chi tiết: Thạch Tú

Thái Chân Tư Khánh[sửa | sửa mã nguồn]

Thái Du[sửa | sửa mã nguồn]

Bài chi tiết: Thái Du

Thái Đắc Chương[sửa | sửa mã nguồn]

Thái Hổ[sửa | sửa mã nguồn]

Thái Khánh[sửa | sửa mã nguồn]

Bài chi tiết: Thái Khánh

Thái Kinh[sửa | sửa mã nguồn]

Bài chi tiết: Thái Kinh

Thái phu nhân[sửa | sửa mã nguồn]

Thái Phúc[sửa | sửa mã nguồn]

Bài chi tiết: Thái Phúc (Thủy hử)

Thái Trạch[sửa | sửa mã nguồn]

Thang Long[sửa | sửa mã nguồn]

Bài chi tiết: Thang Long

Thang Phùng Sĩ[sửa | sửa mã nguồn]

Thành Châu Na Hải[sửa | sửa mã nguồn]

Thành Quý[sửa | sửa mã nguồn]

Thẩm An[sửa | sửa mã nguồn]

Thẩm Biện[sửa | sửa mã nguồn]

Thẩm Cương[sửa | sửa mã nguồn]

Thẩm Ký[sửa | sửa mã nguồn]

Thẩm Thọ[sửa | sửa mã nguồn]

Thẩm Thọ (沈寿) là một nhân vật trong Tục Thủy hử, xuất hiện tại hồi 116.[19] Thẩm Thọ là quan Tham chính của triều đình Phương Lạp, được Lâu Mẫn Trung giới thiệu cho Sài Tiến. Sau khi thành Thanh Khê bị phá, Tống Giang cho chém đầu toàn bộ các quan lại của triều đình Phương Lạp, trong đó có Thẩm Thọ.

Thẩm Trạch[sửa | sửa mã nguồn]

Thi Ân[sửa | sửa mã nguồn]

Bài chi tiết: Thi Ân

Thi Tuấn[sửa | sửa mã nguồn]

Thiên Sơn Dũng[sửa | sửa mã nguồn]

Thiên Sơn Dũng (天山勇) là một nhân vật trong Tục Thủy hử, xuất hiện tại hồi 84.[32]. Thiên Sơn Dũng thiện dùng cung nỏ, ngoại hiệu Nhất Điểm Du (一点油), giữ chức Phó tổng binh thành Kế Châu.

Quân Lương Sơn xâm phạm, đánh hạ thành Đàn Châu. Trấn thủ Đàn Châu Động Tiên thị lang dẫn tàn quân chạy về Kế Châu cầu viện. Trấn thủ Kế Châu là Gia Luật Đắc Trọng bèn dẫn bốn con trai là Gia Luật Tông Vân, Tông Điện, Tông Lôi, Tông Lâm cùng Thiên Sơn Dũng đến huyện Ngọc Điền để ngăn chặn quân Lương Sơn. Hai quân đấu tướng. Bên quân Lương Sơn, Trương Thanh xuất trận. Thiên Sơn Dũng biết được Trương Thanh là tướng ném đá chết dũng tướng A Lý Kỳ, bèn dùng nỏ bắn tên trúng yết hầu Trương Thanh. Trương Thanh trúng tên nhưng may mắn được Đổng Bình, Sử Tiến kịp thời kéo về, được An Đạo Toàn chữa trị nên mới không chết.

Quân Lương Sơn do Lư Tuấn Nghĩa chỉ huy bị đánh tan, quân Liêu chủ động bỏ Ngọc Điền, lui về giữ Kế Châu. Sau Tống Giang dẫn quân công Kế Châu, Bảo Mật Thánh, Thiên Sơn Dũng đem quân ra khỏi thành nghênh địch. Thiên Sơn Dũng đối chiến Từ Ninh, không tới 20 hiệp bị Từ Ninh dùng câu liêm thương đâm chết.

Thì Thiên[sửa | sửa mã nguồn]

Bài chi tiết: Thì Thiên

Thì Văn Bân[sửa | sửa mã nguồn]

Thì Văn Bân hay Thời Văn Bân (时文彬) là một nhân vật trong Thủy hử, xuất hiện tại hồi 14.[33] Thì Văn Bân là Huyện lệnh huyện Vận Thành, được dân chúng tán dương là quan phụ mẫu thanh liêm chính trực, có lòng nhân từ. Trong nha môn có Tống Giang, Chu Đồng, Lôi Hoành.

Thì Văn Bân cùng áp ti Tống Giang giao tình thâm hậu. Khi Tống Giang giết chết Diêm Bà Tích, Thì Văn Bân trong bóng tối che chở Tống Giang, tìm cách giảm nhẹ tình tiết vụ án, thậm chí còn vu tội cho Đường Ngưu Nhi. Tống Giang nhờ đó thoát chết, chỉ bị lưu đày Giang Châu.

Thiệu Tuấn[sửa | sửa mã nguồn]

Thịnh Bản[sửa | sửa mã nguồn]

Thôi Dã[sửa | sửa mã nguồn]

Thôi Đạo Thành[sửa | sửa mã nguồn]

Thôi Hoa thị[sửa | sửa mã nguồn]

Thôi Tĩnh[sửa | sửa mã nguồn]

Thôi Tĩnh (崔靖) là một nhân vật trong Tục Thủy hử, xuất hiện tại hồi 74.[34] Thôi Tĩnh giữ chức Ngự sử Đại phu trong triều đình nhà Tống. Khi triều đình bàn về việc đánh dẹp Lương Sơn Bạc, Thôi Tĩnh cho rằng Lương Sơn Bạc dùng chữ "Thế thiên hành đạo" để mị dân, cùng với Tống-Liêu đang xung đột, khó cho việc đánh dẹp. Vì cớ đó, Thôi Tĩnh đề xuất Tống Huy Tông viết chiếu chiêu an Lương Sơn, sai đi đánh Liêu, được Huy Tông khen ngơi. Tuy nhiên, việc chiêu an không thành do bị Cao Cầu, Đồng Quán phá rối, Tống Huy Tông khi tức giận sai người bắt Thôi Tĩnh, giao cho Đại Lý Tự thẩm vấn.

Trong phim truyền hình năm 1998, vai Thôi Tĩnh do Trương Kỷ Trung đảm nhiệm.

Thôi Xuân Yến[sửa | sửa mã nguồn]

Thôi Xuân Yến hay Thôi thị là một nhân vật trong Thuỷ hử, là vợ của Hoa Vinh. Bà chỉ xuất hiện thoáng qua trong hồi 31 của tiểu thuyết.

Tôi Úc[sửa | sửa mã nguồn]

Thuận Thụ Cao[sửa | sửa mã nguồn]

Thường Trì Tiết[sửa | sửa mã nguồn]

Thượng Quan Nghĩa[sửa | sửa mã nguồn]

Tiền Phi Hổ[sửa | sửa mã nguồn]

Tiền Phi Hổ (钱飞虎) là một nhân vật trong Đãng khấu chí, xuất hiện tại hồi 85.[25] Tiền Phi Hổ là một trong bốn Đề hạt dưới quyền Tri phủ Nghi Châu Cao Phong.

Tiền Phi Hổ cùng Triệu Long, Tôn Lân, Lý Phượng Minh là bốn Đề hạt theo quân Cao Phong chinh thảo Viên Tí trại, trả thù Trần Hi Chân, Lưu Quảng phá thành Nghi Châu. Trong trận, cả bốn tướng đối chiến Trần Lệ Khanh, bốn tướng không địch lại, đều thua trận.

Cao Phong thấy các tướng thua trận, dùng phép thuật vây khốn Trần Lệ Khanh. Trần Hi Chân dẫn viện binh tới cứu, quân Cao Phong đại bại rút lui. Trong trận, Tiền Phi Hổ đụng độ Cẩu Anh, bị Cẩu Anh một đao chém lăn xuống ngựa.

Tiền Chấn Bằng[sửa | sửa mã nguồn]

Tiền Nghi[sửa | sửa mã nguồn]

Tiền Tấn[sửa | sửa mã nguồn]

Tiết Bá[sửa | sửa mã nguồn]

Tiết Đấu Nam[sửa | sửa mã nguồn]

Tiết Hùng[sửa | sửa mã nguồn]

Tiết Nguyên Huy[sửa | sửa mã nguồn]

Tiết Nguyên Huy (薛元辉), là một nhân vật trong Thủy hử, xuất hiện tại hồi 52.[26] Tiết Nguyên Huy là Thống chế quan của Cao Đường Châu, dưới quyền Cao Liêm. Khi quân Lương Sơn tấn công Cao Đường, Tiết Nguyên Huy vung song đao giao chiến với Hoa Vinh, được vài hiệp, Hoa Vinh giả vờ chạy lui. Nguyên Huy không biết là kế, đuổi theo, bị Hoa Vinh bắn chết. Tiết Nguyên Huy được xem là mạnh nhất trong các thống chế thành Cao Đường, vị quốc vong thân, chết có ý nghĩa.

Tiết Thì[sửa | sửa mã nguồn]

Tiết Tán[sửa | sửa mã nguồn]

Tiết Vĩnh[sửa | sửa mã nguồn]

Bài chi tiết: Tiết Vĩnh

Tiết Xán[sửa | sửa mã nguồn]

Tiêu Đại Quan[sửa | sửa mã nguồn]

Tiêu Đĩnh[sửa | sửa mã nguồn]

Bài chi tiết: Tiêu Đĩnh

Tiêu Gia Huệ[sửa | sửa mã nguồn]

Bài chi tiết: Tiêu Gia Huệ

Tiêu Nhượng[sửa | sửa mã nguồn]

Bài chi tiết: Tiêu Nhượng

Tiều Cái[sửa | sửa mã nguồn]

Bài chi tiết: Tiều Cái

Tiều Trung[sửa | sửa mã nguồn]

Tiểu Ngọc[sửa | sửa mã nguồn]

Tiểu Nha Nội[sửa | sửa mã nguồn]

Tiểu Tô học sĩ[sửa | sửa mã nguồn]

Bài chi tiết: Tô ThứcTô Triệt

Tiểu vương đô thái uý[sửa | sửa mã nguồn]

Tô Định[sửa | sửa mã nguồn]

Tô Định (苏定) là một nhân vật trong Thủy hử, xuất hiện tại hồi 60. Tô Định là Phó giáo sư của Tăng Đầu thị, cùng với Sử Văn Cung dạy bảo Tăng gia ngũ hổ. Xuất thân, hình tượng, võ nghệ,... của Tô Định không được miêu tả trong truyện. Qua câu đối thoại với Sử Văn Cung, có thể thấy Tô Định có thể là người cẩn thận, có chút tư duy.

Khi quân Lương Sơn tấn công Tăng Đầu thị lần thứ hai, Sử Văn Cung, Tô Định, Tăng Mật, Tăng Khôi nửa đêm xông ra cướp trại. Quân Lương Sơn biết trước, tiến hành mai phục, quân Tăng Đầu thị đại bại. Tô Định trong lúc chạy trốn bị Lỗ Trí Thâm, Võ Tòng, Dương Chí, Sử Tiến cản đường. Kết cục bị tên loạn bắn chết.

Tô Cát[sửa | sửa mã nguồn]

Tô Kính[sửa | sửa mã nguồn]

Tổ Hưng[sửa | sửa mã nguồn]

Tổ Sĩ Viễn[sửa | sửa mã nguồn]

Tôn An[sửa | sửa mã nguồn]

Bài chi tiết: Tôn An

Tôn Định[sửa | sửa mã nguồn]

Tôn Kỳ[sửa | sửa mã nguồn]

Tôn Lâm[sửa | sửa mã nguồn]

Tôn Lân[sửa | sửa mã nguồn]

Tôn Lân (钱飞虎) là một nhân vật trong Đãng khấu chí, xuất hiện tại hồi 85.[25] Tôn Lân là một trong bốn Đề hạt dưới quyền Tri phủ Nghi Châu Cao Phong.

Tôn Lân cùng Triệu Long, Lý Phượng Minh, Tiền Phi Hổ là bốn Đề hạt theo quân Cao Phong chinh thảo Viên Tí trại, trả thù Trần Hi Chân, Lưu Quảng phá thành Nghi Châu. Trong trận, cả bốn tướng đối chiến Trần Lệ Khanh, bốn tướng không địch lại, đều thua trận. Cao Phong thấy các tướng thua trận, dùng phép thuật vây khốn Trần Lệ Khanh. Trần Hi Chân dẫn viện binh tới cứu, quân Cao Phong đại bại rút lui.

Sau Cao Phong dẫn Triệu Long, Tôn Lân, Lý Phượng Minh truy đuổi Lưu Huệ Nương, bị trúng mai phục. Tôn Lân bị tên loạn bắn chết.

Tôn Lập[sửa | sửa mã nguồn]

Bài chi tiết: Tôn Lập

Tôn Ngũ[sửa | sửa mã nguồn]

Tôn Nguyên[sửa | sửa mã nguồn]

Tôn Nhị Nương[sửa | sửa mã nguồn]

Bài chi tiết: Tôn Nhị Nương

Tôn Như Hổ[sửa | sửa mã nguồn]

Tôn Tân[sửa | sửa mã nguồn]

Bài chi tiết: Tôn Tân

Tôn Thiên Hóa[sửa | sửa mã nguồn]

Tôn Trung[sửa | sửa mã nguồn]

Tôn Tuyết Nga[sửa | sửa mã nguồn]

Bài chi tiết: Tôn Tuyết Nga

Tôn Tuyết Nga (孙雪娥, Sūn Xuě'é) là một nhân vật trong Kim Bình Mai, là người vợ thứ tư của Tây Môn Khánh.

Tống An Bình[sửa | sửa mã nguồn]

Tống An Bình là nhân vật trong Hậu Thuỷ hử, xuất hiện ở hồi 120 - hồi cuối. Tống An Bình là con trai của Tống Thanh, tức cháu gọi Tống Giang bằng bác.

Tống Giang[sửa | sửa mã nguồn]

Bài chi tiết: Tống Giang

Tống Hữu Liệt[sửa | sửa mã nguồn]

Tống Huy Tông[sửa | sửa mã nguồn]

Bài chi tiết: Tống Huy Tông

Tống Huệ Liên[sửa | sửa mã nguồn]

Bài chi tiết: Tống Huệ Liên

Tống Huệ Liên (Song Huilian) là một nhân vật trong Kim Bình Mai, xuất hiện ở hồi 23. Tống Huệ Liên tên thật là Tống Kim Liên, là con gái một người bán quan tài tên là Tống Nhân.

Tống Kim Liên từng bị gia đình bán cho nhà họ Thái làm a hoàn, sau bị đuổi ra và trở thành vợ của Tương Thông (một đầu bếp trong nhà Tây Môn Khánh). Tương Thông được lòng Tây Môn Khánh, thường bị chủ sai đi làm việc nên không có thời gian quản Tống Kim Liên, mà gia nhân Lai Vượng lại luôn được sai đến nhà Tương Thông, nhờ vậy mà Lai Vượng quen biết Tống Kim Liên, thường xuyên tư tình lén lút. Khi vợ Lai Vượng chết, Tương Thông thì sau một cuộc xô xát vì tiền bạc chia không đều, bị đồng bọn đâm chết, Lai Vượng một mặt vì yêu Tống Kim Liên, một mặt ái ngại cho nàng phải sống phận goá bụa nên xin với Ngô Nguyệt Nương cho nàng về làm vợ mình và được chấp thuận. Vì để tránh gọi trùng tên với Phan Kim Liên nên Ngô Nguyệt Nương đổi tên Tống Kim Liên thành Tống Huệ Liên.

Tống Huệ Liên nhan sắc xinh đẹp mặn mà, lại khéo léo tay chân, nên dù là vợ của gia nhân, là a hoàn hầu hạ trong nhà cũng bị Tây Môn Khánh để ý tới. Để chiếm đoạt Tống Huệ Liên, Tây Môn Khánh đẻ thêm việc cho Lai Vượng đi phắt, rồi từng bước chinh phục Tống Huệ Liên.

Sau này, cậy được Tây Môn Khánh yêu quý, Tống Huệ Liên quên hẳn thân phận hầu gái của mình, ả ngày càng kiêu lộng, ghê gớm, không coi ai ra gì. Đến khi Lai Vượng xong việc trở về, biết Tống Huệ Liên được Tây Môn Khánh ưu ái thì nổi giận lôi đình. Tây Môn Khánh lại kiếm chuyện, gửi đơn vu tội lên công đường, hãm hại Lai Vượng thành tử tù. Biết tin, Tống Huệ Liên đau khổ tự sát.

Tống huyện quân[sửa | sửa mã nguồn]

Tống Ngọc Liên[sửa | sửa mã nguồn]

Tống Nhân[sửa | sửa mã nguồn]

Tống Nhân Tông[sửa | sửa mã nguồn]

Bài chi tiết: Tống Nhân Tông

Tống Nhân Tông (宋仁宗) là một nhân vật trong Viên bản Thủy hử, xuất hiện tại hồi 1.[21] Thời niên hiệu Gia Hựu, xuất hiện tai bệnh, Tống Nhân Tông phê chuẩn tấu chương của Phạm Trọng Yêm, sai Thái úy Hồng Tín đến Tín Châu mời Trương Thiên Sư đến kinh thành tế trời. Không ngờ Hồng Tín lên núi Long Hổ lại thả ra 108 ma quân, tạo nên kiếp nạn thời Huy Tông.

Tống thái công[sửa | sửa mã nguồn]

Tống Thanh[sửa | sửa mã nguồn]

Bài chi tiết: Tống Thanh

Tống Vạn[sửa | sửa mã nguồn]

Bài chi tiết: Tống Vạn

Trác Đâu Nhi[sửa | sửa mã nguồn]

Trác Đâu Nhi (卓丢儿, Zhuo Diu'er), còn gọi Trác Nhị Thư (卓二姐, Zhuo Erjie) là một nhân vật trong Kim Bình Mai, xuất hiện tại hồi 1.[5] Trác Đâu Nhi là vợ thứ ba của Tây Môn Khánh, sau Ngô Nguyệt Nương và Lý Kiều Nhi. Vì sức khỏe yếu kém nên Trác Đâu Nhi qua đời sớm. Sau khi Trác Đâu Nhi mất, Tây Môn Khánh cưới một góa phụ là Mạnh Ngọc Lâu về làm vợ ba.

Trác Mậu[sửa | sửa mã nguồn]

Trác Vạn Lý[sửa | sửa mã nguồn]

Trần Chứ[sửa | sửa mã nguồn]

Trần Đạt[sửa | sửa mã nguồn]

Bài chi tiết: Trần Đạt

Trần Ích[sửa | sửa mã nguồn]

Trần Khải[sửa | sửa mã nguồn]

Trần Kinh Tế[sửa | sửa mã nguồn]

Bài chi tiết: Trần Kinh Tế

Trần Kinh Tế (陈经济, Chen Jingji) hay Trần Kính Tế (陈敬济, bản khắc thời Sùng Trinh) là một nhân vật trong Kim Bình Mai, xuất hiện trong hồi 1.[5] Trần Kinh Tế là con trai của Trần Hồng, khi cha bị vạch tội, bèn chạy đến nương nhờ Tây Môn Khánh, theo hôn ước trở thành con rể của Tây Môn Khánh, lấy Tây Môn Đại Thư. Trần Kinh Tế sau đó được Tây Môn Khánh giao phụ trách tiệm cầm đồ cùng Phó Minh.

Trần Kinh Tế tham mĩ sắc, yêu sắc như mạng, nhưng vì gia cảnh biến cố, bản thân ăn nhờ ở đậu nên ban đầu giấu giếm, chỉ âm thầm kết thân với Phan Kim Liên, Lý Bình Nhi. Trần Kinh Tế sau đó trộm được cây trâm của Mạnh Ngọc Lâu, vu cáo Ngọc Lâu cùng hắn có gian tình, thu làm thiếp thất. Sau đó Trần Kinh Tế còn đùa bỡn Tống Huệ Liên, thu dụng nha hoàn Nguyên Tiêu.

Khi Tây Môn Khánh chết, Trần Kinh Tế liền tư thông với Phan Kim Liên cùng Bàng Xuân Mai, sinh ra hai con riêng. Trần Kinh Tế cậy thế huênh hoang, bị Ngô Nguyệt Nương (vợ cả Tây Môn Khánh) trục xuất. Trần Kinh Tế bèn trộm lấy của cải cùng Dương Quang Ngạn đi tới huyện Lâm Thanh. Tại Lâm Thanh, Trần Kinh Tế lại quyến rũ kỹ nữ Phùng Kim Bảo, lấy về nhà, hãm hại Tây Môn Đại Thư phải treo cổ, lại muốn thu về Mạnh Ngọc Lâu.

Cuối cùng Trần Kinh Tế bị Dương Quang Ngạn nuốt hết tiền của, gia tài bị Phùng Kim Bảo lấp liếm, sau đó Ngô Nguyệt Nương lại tố cáo quan phủ về cái chết của Tây Môn Đại Thư. Kết cục Trần Kinh Tế trở thành ăn mày, ngủ với lạnh phô, ăn xin đầu đường, bị Trương Thắng cùng Lưu Nhị liên thủ giết chết.

Trần Nha Nội[sửa | sửa mã nguồn]

Trần Quán[sửa | sửa mã nguồn]

Trần Quán[sửa | sửa mã nguồn]

Bài chi tiết: Trần Quán

Trần Tam Lang[sửa | sửa mã nguồn]

Trần Thái[sửa | sửa mã nguồn]

Trần Tông Thiện[sửa | sửa mã nguồn]

Tống Triết Tông[sửa | sửa mã nguồn]

Bài chi tiết: Tống Triết Tông

Trần Tuyên[sửa | sửa mã nguồn]

Trần Văn Chiêu[sửa | sửa mã nguồn]

Trần Vân[sửa | sửa mã nguồn]

Trần Vân (陈赟) hay Trần Bân (陈贇) là một nhân vật trong Tục Thủy hử, xuất hiện tại hồi 106. Trần Bân là một tướng lĩnh dưới quyền Vương Khánh.

Trâu Nhuận[sửa | sửa mã nguồn]

Bài chi tiết: Trâu Nhuận

Trâu Uyên[sửa | sửa mã nguồn]

Bài chi tiết: Trâu Uyên

Trì Phương[sửa | sửa mã nguồn]

Trí Chân[sửa | sửa mã nguồn]

Trí Thanh[sửa | sửa mã nguồn]

Triệu an phủ[sửa | sửa mã nguồn]

Triệu an phủ (赵安抚) là một nhân vật trong Tục Thủy hử, xuất hiện tại hồi 84.[32] Triệu an phủ là tông thất nhà Tống, giữ chức Đồng tri An phủ sứ ở Đông Kinh.

Triều đình nhà Tống bắt quân Lương Sơn lên phía bắc đánh Liêu. Khi quân Lương Sơn hạ được thành Đàn Châu, triều đình hốt hoảng, vội cắt cử tông thất Triệu an phủ làm Khâm sai, thống lĩnh 2 vạn quân Ngự doanh lên phía bắc để giám chiến và tiếp quản thành trì.

Triệu Đàm[sửa | sửa mã nguồn]

Triệu Đắc[sửa | sửa mã nguồn]

Triệu Đỉnh[sửa | sửa mã nguồn]

Bài chi tiết: Triệu Đỉnh

Triệu Đỉnh (趙鼎) là một nhân vật trong Thủy hử, xuất hiện trong hồi 67.[35] Triệu Đỉnh giữ chức quan Hữu Gián nghị đại phu. Sau khi Lương Sơn phá phủ Đại Danh, Triệu Đỉnh đề nghị Huy Tông chiêu an Lương Sơn Bạc, chọc giận Thái sư Thái Kinh, bị biếm chức đuổi về quê.

Nguyên mẫu của Triệu Đỉnh trong Thủy hử là đại thần Triệu Đỉnh thời Nam Tống. Triệu Đỉnh trong lịch sử đỗ tiến sĩ thời Bắc Tống triều Tống Triết Tông, sau làm tể tướng Nam Tống, tiểu sử thời Tống Huy Tông bị khuyết.

Triệu Hổ[sửa | sửa mã nguồn]

Triệu Long[sửa | sửa mã nguồn]

Triệu Long (钱飞虎) là một nhân vật trong Đãng khấu chí, xuất hiện tại hồi 85.[25] Triệu Long là một trong bốn Đề hạt dưới quyền Tri phủ Nghi Châu Cao Phong.

Triệu Long cùng Tôn Lân, Lý Phượng Minh, Tiền Phi Hổ là bốn Đề hạt theo quân Cao Phong chinh thảo Viên Tí trại, trả thù Trần Hi Chân, Lưu Quảng phá thành Nghi Châu. Trong trận, cả bốn tướng đối chiến Trần Lệ Khanh, bốn tướng không địch lại, đều thua trận. Cao Phong thấy các tướng thua trận, dùng phép thuật vây khốn Trần Lệ Khanh. Trần Hi Chân dẫn viện binh tới cứu, quân Cao Phong đại bại rút lui.

Sau Cao Phong dẫn Triệu Long, Tôn Lân, Lý Phượng Minh truy đuổi Lưu Huệ Nương, bị trúng mai phục. Tôn Lân, Lý Phượng Minh đều bị giết, Triệu Long liều mạng dẫn Cao Phong rút chạy tới Cao Quan Phần (高官坟) thì trúng mai phục của Lưu Huệ Nương. Triệu Long đối chiến Lưu Kỳ, được 6-7 hiệp bị Lưu Kỳ chém chết.

Triệu Năng[sửa | sửa mã nguồn]

Triệu Năng[sửa | sửa mã nguồn]

Triệu Nghị[sửa | sửa mã nguồn]

Triệu Nghị[sửa | sửa mã nguồn]

Triệu Nguyên Nô[sửa | sửa mã nguồn]

Triệu Triết[sửa | sửa mã nguồn]

Triệu Triết (赵哲) là một nhân vật trong Viên bản Thủy hử, xuất hiện tại hồi 1.[21] Triệu Triết là Tể tướng thời Tống Nhân Tông. Trong lịch sử thời Tống không có Tể tướng Triệu Triết, chỉ có Kinh lược sứ lộ Hoàn Khánh Triệu Triết, bị Trương Tuấn đem xử chém oan để đổ trách nhiệm trong thất bại tại Phú Bình.[36]

Triệu Trọng Minh[sửa | sửa mã nguồn]

Triệu viên ngoại[sửa | sửa mã nguồn]

Trình Uyển Nhi[sửa | sửa mã nguồn]

Trình Vạn Lý[sửa | sửa mã nguồn]

Trình Vạn Lý (程万里, Chéng Wànlǐ) là một nhân vật trong Thủy hử, xuất hiện tại hồi 68.[37] Trình Vạn Lý là Thái thú phủ Đông Bình, thường gọi là Trình Thái thú. Trình Thái thú có một người con gái xinh đẹp là Trình Uyển Nhi. người cầu thân đến không ngớt, trong đó có thuộc hạ là Đổng Bình. Đổng Bình nhiều lần đưa lễ xin cưới nhưng không được chấp thuận. Khi quân Lương Sơn tấn công phủ Đông Bình, Đổng Bình nhân cơ hội nhắc lại việc cầu thân, Trình Vạn Lý tỏ ra do dự, đem việc tạm gác lại. Đổng Bình bị Tống Giang bắt, đầu nhập Lương Sơn, bèn nội ứng phá thành, đem người nhà họ Trình giết sạch và đem Trình Uyển Nhi về làm vợ.

Trịnh Cư Trung[sửa | sửa mã nguồn]

Trình Thắng Tổ[sửa | sửa mã nguồn]

Trình Tử Minh[sửa | sửa mã nguồn]

Trịnh Ái Nguyệt[sửa | sửa mã nguồn]

Trịnh Bưu[sửa | sửa mã nguồn]

Bài chi tiết: Trịnh Bưu

Trịnh Chi Thụy[sửa | sửa mã nguồn]

Trịnh Đồ[sửa | sửa mã nguồn]

Trịnh Thiên Thọ[sửa | sửa mã nguồn]

Bài chi tiết: Trịnh Thiên Thọ

Trịnh Tiệp[sửa | sửa mã nguồn]

Trọng Lương[sửa | sửa mã nguồn]

Trúc Kính[sửa | sửa mã nguồn]

Trùng Hỉ[sửa | sửa mã nguồn]

Tuyên Tán[sửa | sửa mã nguồn]

Bài chi tiết: Tuyên Tán

Tuyên Hoa[sửa | sửa mã nguồn]

Trương Bá Phấn[sửa | sửa mã nguồn]

Bài chi tiết: Trương Bá Phấn

Trương Bảo[sửa | sửa mã nguồn]

Trương Bân[sửa | sửa mã nguồn]

Trương can biện[sửa | sửa mã nguồn]

Trương Cận Nhân[sửa | sửa mã nguồn]

Trương Cố Hành[sửa | sửa mã nguồn]

Trương Công[sửa | sửa mã nguồn]

Trương Di[sửa | sửa mã nguồn]

Trương đại hộ[sửa | sửa mã nguồn]

Trương Đạo Nguyên[sửa | sửa mã nguồn]

Trương đề hạt[sửa | sửa mã nguồn]

Trương Địch[sửa | sửa mã nguồn]

Trương Địch (张迪) là một nhân vật lịch sử. Thời kỳ niên hiệu Tuyên Hòa (1119-1125), Trương Địch tại Minh Châu[38] tụ tập bè đảng mấy chục vạn, công phá châu huyện, từng vây Tuấn Châu 5 ngày. Lưu Quang Thế dẫn quân trấn áp, Trương Địch tử trận. Trương Địch được xem là nguyên mẫu của Tứ đại khấu Điền Hổ.

Trương đoàn luyện[sửa | sửa mã nguồn]

Trương giáo đầu[sửa | sửa mã nguồn]

Trương Hạc[sửa | sửa mã nguồn]

Trương Hoành[sửa | sửa mã nguồn]

Trương Hùng[sửa | sửa mã nguồn]

Trương Khởi[sửa | sửa mã nguồn]

Trương Kiệm[sửa | sửa mã nguồn]

Trương Lễ[sửa | sửa mã nguồn]

Trương Long[sửa | sửa mã nguồn]

Trương Mông Phương[sửa | sửa mã nguồn]

Trương Quốc Tường[sửa | sửa mã nguồn]

Trương Tam[sửa | sửa mã nguồn]

Trương thái thú[sửa | sửa mã nguồn]

Trương Thanh[sửa | sửa mã nguồn]

Trương Thanh[sửa | sửa mã nguồn]

Trương Thao[sửa | sửa mã nguồn]

Bài chi tiết: Trương Thao

Trương Thế Khai[sửa | sửa mã nguồn]

Trương Thiên[sửa | sửa mã nguồn]

Trương Thiên Sư[sửa | sửa mã nguồn]

Bài chi tiết: Trương Thiên Sư

Trương Thọ[sửa | sửa mã nguồn]

Trương Thúc Dạ[sửa | sửa mã nguồn]

Bài chi tiết: Trương Thúc Dạ

Trương Thuận[sửa | sửa mã nguồn]

Bài chi tiết: Trương Thuận

Trương Tích Tích[sửa | sửa mã nguồn]

Trương Tiết[sửa | sửa mã nguồn]

Trương Tiết (张节) là một nhân vật trong Hậu Thủy hử, được nhắc đến trong hồi 110.[39] Trương Tiết là con trai của Trương Thanh và Quận chúa Quỳnh Anh. Quỳnh Anh vì mang thai nên không theo Trương Thanh đánh Phương Lạp, cùng Diệp ThanhAn thị ở lại Biện Kinh tĩnh dưỡng, sinh ra Trương Tiết.

Trương Thanh tử trận ở ải Độc Tùng, Quỳnh Anh cùng Diệp Thanh, An thị đem di hài về an táng ở quê nhà phủ Chương Đức. Diệp Thanh sau đó ốm chết, Quỳnh Anh cùng An thị cùng nhau nuôi dưỡng Trương Tiết trưởng thành.

Khi quân Kim nam phạt, Trương Tiết theo Ngô Giới đánh bại Kim Ngột Truật, quan thăng đến Xa Vệ tướng quân. Sau từ quan về quê phụng dưỡng mẹ già tới hết đời, được khen là gương hiếu nghĩa.

Trương Tường[sửa | sửa mã nguồn]

Trương Trọng Hùng[sửa | sửa mã nguồn]

Bài chi tiết: Trương Trọng Hùng

Trương Uy[sửa | sửa mã nguồn]

Trương Văn Viễn[sửa | sửa mã nguồn]

Trương Vượng[sửa | sửa mã nguồn]

Tú Xuân[sửa | sửa mã nguồn]

Tuân Chính[sửa | sửa mã nguồn]

Túc Nguyên Cảnh[sửa | sửa mã nguồn]

Tư Hành Phương[sửa | sửa mã nguồn]

Bài chi tiết: Tư Hành Phương

Từ Bạch[sửa | sửa mã nguồn]

Từ Cẩn[sửa | sửa mã nguồn]

Từ Hòa[sửa | sửa mã nguồn]

Từ Hòe[sửa | sửa mã nguồn]

Từ Kinh[sửa | sửa mã nguồn]

Bài chi tiết: Từ Kinh lạc thảo

Từ Nhạc[sửa | sửa mã nguồn]

Từ Ninh[sửa | sửa mã nguồn]

Bài chi tiết: Từ Ninh

Từ Phương[sửa | sửa mã nguồn]

Từ Tam[sửa | sửa mã nguồn]

Từ tham mưu[sửa | sửa mã nguồn]

Từ Thịnh[sửa | sửa mã nguồn]

Từ Thống[sửa | sửa mã nguồn]

Từ Uy[sửa | sửa mã nguồn]

Từ Uy[sửa | sửa mã nguồn]

Tương Thông[sửa | sửa mã nguồn]

Tưởng Ấn[sửa | sửa mã nguồn]

Tưởng Kính[sửa | sửa mã nguồn]

Bài chi tiết: Tưởng Kính

Tưởng Trúc Sơn[sửa | sửa mã nguồn]

Tưởng Trung[sửa | sửa mã nguồn]

U[sửa | sửa mã nguồn]

U Tây Bột Cẩn[sửa | sửa mã nguồn]

Úc Bảo Tứ[sửa | sửa mã nguồn]

Bài chi tiết: Úc Bảo Tứ

Ứng Bá Tước[sửa | sửa mã nguồn]

Bài chi tiết: Ứng Bá Tước

Ứng Bảo Giáp[sửa | sửa mã nguồn]

Ứng Minh[sửa | sửa mã nguồn]

V[sửa | sửa mã nguồn]

Văn Đạt[sửa | sửa mã nguồn]

Văn Hoán Chương[sửa | sửa mã nguồn]

Văn Nhân Thế Sùng[sửa | sửa mã nguồn]

Văn Nhân Thế Sùng (闻人世崇, Wénrén Shìchóng) là một nhân vật trong Tục Thủy hửGiản bản Thủy hử, xuất hiện tại hồi 109 của Tục Thủy hử[40] và hồi 102 của Giản bản Thủy hử.[41] Văn Nhân Thế Sùng là tướng lĩnh thủy quân dưới quyền Vương Khánh.

Trong Tục Thủy hử, Văn Nhân Thế Sùng giữ chức Thủy quân Đô đốc, được Vương Khánh giao phó bảo vệ đường sông, không cho quân Lương Sơn vượt sông tiến lên phía bắc. Tại eo sông Cù Đường, thủy quân của Văn Nhân Thế Sùng và Lý Tuấn đụng độ. Thủy quân Vương Khánh bị đánh tan, Văn Nhân Thế Sùng bị chém chết, phó tướng Hồ Tuấn bị bắt.

Trong Giản bản Thủy hử, Văn Nhân Thế Sùng là người Khúc Hà lộ Hoài Tây, xuất thân thuyền phu. Văn Nhân Thế Sùng có sức khỏe, có thể kéo nỏ cứng bảy mươi, tám mươi cân, dùng một cây phương thiên kích, giết người không chớp mắt.

Văn Nhân Thế Sùng là anh em kết nghĩa với Vương Khánh, giữ chức Binh mã Đô giám, cùng phó tướng Lưu Hắc Hổ, Tổ Cầu trấn giữ sông Cửu Loan. Khi quân Lương Sơn tấn công, Văn Nhân Thế Sùng ra ứng chiến An Nhân Mỹ, được 5 hiệp thì giả bại rút về. An Nhân Mỹ ham chiến đuổi theo, bị Văn Nhân Thế Sùng bắn chết. Văn Nhân Thế Sùng sau đó tiến hành tập kích doanh trại của Tôn An, Biện Tường, bị trúng mai phục. Văn Nhân Thế Sùng phá được vòng vây, rút về miếu Long Vương, lại gặp quân mai phục của Ngạc Toàn Trung. Văn Nhân Thế Sùng chạy trốn đến bờ sông Cửu Loan thì bị Ngạc Toàn Trung đuổi kịp một đao chém chết.

Văn Nhân Thế Sùng họ kép Văn Nhân, tương truyền là họ của con cháu Thiếu Chính Mão. Bản dịch Hậu Thủy hử của Nhà xuất bản Văn học đã dịch sai câu: ...trừ thủy quân tướng sĩ Văn Nhân Thế Sùng đẳng...'. Cụm từ tướng sĩ Văn Nhân Thế Sùng dịch thành tên hai nhân vật là Tưởng Sĩ VănNhân Thế Sùng.

Văn Ngạn Bác[sửa | sửa mã nguồn]

Bài chi tiết: Văn Ngạn Bác

Văn Ngạn Bác (文彦博) là một nhân vật trong Viên bản Thủy hử, xuất hiện tại hồi 1.[21] Văn Ngạn Bác là Tham chính thời Tống Nhân Tông.

Văn Trọng Dung[sửa | sửa mã nguồn]

Vân Lý Thủ[sửa | sửa mã nguồn]

Vân Tông Vũ[sửa | sửa mã nguồn]

Vận Ca[sửa | sửa mã nguồn]

Kiều Vận Ca (乔郓哥, Qiáo Yùngē) là một nhân vật trong Thủy hửKim Bình Mai. Xuất hiện trong cả hai tiểu thuyết, Vận Ca là một chú bé nhỏ tuổi bán trên phố huyện Dương Cốc kiếm tiền nuôi người cha già 60 tuổi. Vận Ca rất thân thiết với Võ Đại Lang, hai người thường đi cùng nhau bán hàng trên phố. Trong một lần đi bán lê, Vận Ca đã tình cờ biết tin Phan Kim Liên tằng tịu với Tây Môn Khánh ở quán trà của Vương Bà nên đã báo với Võ Đại Lang. Võ Đại Lang biết chuyện bèn rình bắt đôi gian phu dâm phụ, bị đôi tình nhân này hãm hại, bỏ độc giết chết. Vận Ca là một trong hai người biết rõ mọi chuyện (người còn lại là Hà Cửu), cậu giúp Võ Tòng vạch tội Tây Môn Khánh và Phan Kim Liên.

Vệ Hạc[sửa | sửa mã nguồn]

Vệ Hạc (卫鹤) là một nhân vật trong Hậu Thủy hử, xuất hiện tại hồi 108.[42] Vệ Hạc là một tướng lĩnh dưới quyền Vương Khánh, giữ chức Thiên tướng. Vệ Hạc là một trong mười hai phó tướng theo Đỗ Mậu chặn đánh quân Lương Sơn. Tại núi Y Khuyết, Vệ Hạc giao chiến với Sơn Sĩ Kỳ, được hơn ba mươi hiệp, Sơn Sĩ Kỳ nâng thương đâm trúng chân ngựa. Vệ Hạc ngã ngựa, bị Sơn Sĩ Kỳ đâm chết.

Vệ Hanh[sửa | sửa mã nguồn]

Vệ Trung[sửa | sửa mã nguồn]

Viên bình sự[sửa | sửa mã nguồn]

Viên Lãng[sửa | sửa mã nguồn]

Vu Ngọc Lân[sửa | sửa mã nguồn]

Vu Trực[sửa | sửa mã nguồn]

Vu Trực (于直), có bản dịch là Can Trực, là một nhân vật trong Thủy hử, xuất hiện tại hồi 52.[26] Vu Trực là Thống chế quan của Cao Đường Châu, dưới quyền Cao Liêm. Khi quân Lương Sơn tấn công Cao Đường, Vu Trực giao chiến với Lâm Xung, được 5 hiệp thì bị Lâm Xung đâm chết. Vu Trực được nhận xét là người trung quân ái quốc, không sợ hy sinh, vị quốc vong thân, chết có ý nghĩa.

Võ Đại Lang[sửa | sửa mã nguồn]

Bài chi tiết: Võ Đại Lang

Võ Đại Lang hay Vũ Đại Lang (武大郎), biệt xưng Võ Đại, là một nhân vật trong Thủy hửKim Bình Mai, xuất hiện tại hồi 23[27] của Thủy hử và hồi 1 của Kim Bình Mai.[5] Võ Đại Lang được tác phẩm miêu tả là một người lùn, xấu xí nhưng hiền lành tốt bụng, bán bánh bao ở chợ, mang ngoại hiệu Tam Thốn Đinh Cốc Thụ Bì (vỏ kê ba tấc). Cha mẹ mất sớm, Võ Đại Lang nuôi em khôn lớn.

Vợ Võ Đại Lang là Phan Kim Liên là một người đàn bà đẹp và lẳng lơ, đã tư thông với Tây Môn Khánh, một nhân vật nổi tiếng hoang dâm vô độ. Dù biết nhưng Võ Đại Lang vẫn im lặng nhịn cho qua nhưng lại bị Phan Kim Liên và Tây Môn Khánh thông đồng hạ độc. Võ Tòng sau khi lo an táng cho anh mình xong, giết chết Tây Môn Khánh và Phan Kim Liên để tế anh.

Trong Kim Bình Mai, Võ Đại Lang có một con gái tên là Nghênh Nhi, con của đời vợ trước, trước khi lấy Phan Kim Liên.

Vũ Năng[sửa | sửa mã nguồn]

Vũ Năng (武能), là một nhân vật trong Tục Thủy hử, xuất hiện tại hồi 99.[3] Vũ Năng là thuộc tướng dưới quyền Mã Linh, được Mã Linh thu làm đệ tử, dạy cho phép thuật. Khi quân Lương Sơn bình Hà Bắc, Vũ Năng theo Mã Linh xuất chiến, bị Dương Xuân chém chết.

Vũ Thuận[sửa | sửa mã nguồn]

Vũ Thuận (武顺) là một nhân vật trong Hậu Thủy hử, xuất hiện trong hồi 107.[16] Vũ Thuận là tướng trấn thủ huyện thành Bảo Phong dưới quyền Vương Khánh. Khi Lư Tuấn Nghĩa đem quân đánh Tây Kinh, Vũ Thuận liền mở cửa thành đầu hàng. Lư Tuấn Nghĩa tiếp nhận, ủy thác Vũ Thuận tiếp tục trấn thủ Bảo Phong. Vũ Thuận và các tướng đều cảm động. Bản dịch Hậu Thủy hử của Nhà xuất bản Văn học bỏ sót tên nhân vật này.

Võ Tòng[sửa | sửa mã nguồn]

Bài chi tiết: Võ Tòng

Vương Anh[sửa | sửa mã nguồn]

Bài chi tiết: Vương Anh

Vương áp ty[sửa | sửa mã nguồn]

Vương bà[sửa | sửa mã nguồn]

Vương bà[sửa | sửa mã nguồn]

Vương bà[sửa | sửa mã nguồn]

Bài chi tiết: Vương Bà

Vương Bẩm[sửa | sửa mã nguồn]

Bài chi tiết: Vương Bẩm

Vương Cảnh[sửa | sửa mã nguồn]

Vương Cát[sửa | sửa mã nguồn]

Vương Cẩn[sửa | sửa mã nguồn]

Vương Chiêu Tuyên[sửa | sửa mã nguồn]

Vương Chính[sửa | sửa mã nguồn]

Vương Chính (王正) là một nhân vật trong Thủy hử, xuất hiện tại hồi 48.[7] Vương Chính là quan khổng mục Đăng Châu và là con rể của địa chủ Mao thái công.

Mao thái công cùng con trai Mao Trọng Nghĩa mưu toan cướp công lao trừ hổ dữ của anh em Giải Trân, Giải Bảo, tìm cách hãm hại anh em nhà họ Giải. Trên công đường, Vương Chính trước mặt Thái thú nói xàm, khiến anh em họ Giải bị đánh vào tử tù lao. Sau đó Vương Chính, Mao thái công lại cấu kết với Tiết cấp Bao Cát, muốn cho Bao Cát lén lút xử lý anh em họ Giải. Lính coi ngục Nhạc Hòa nhận ra anh em họ Giải là họ hàng, bèn tìm cách cầu cứu chị họ Cố Đại Tẩu. Tôn Lập, Tôn Tân, Cố Đại Tẩu tiến hành cướp ngục, Vương Chính bị Trâu Uyên, Trâu Nhuận giết chết.

Vương Công[sửa | sửa mã nguồn]

Vương Công[sửa | sửa mã nguồn]

Vương Dần[sửa | sửa mã nguồn]

Bài chi tiết: Vương Dần

Vương Đạo Nhân[sửa | sửa mã nguồn]

Vương Định[sửa | sửa mã nguồn]

Vương Định Lục[sửa | sửa mã nguồn]

Bài chi tiết: Vương Định Lục

Vương Giang[sửa | sửa mã nguồn]

Vương Hoạch[sửa | sửa mã nguồn]

Vương Hoán[sửa | sửa mã nguồn]

Bài chi tiết: Vương Hoán

Vương Khánh[sửa | sửa mã nguồn]

Vương Khánh[sửa | sửa mã nguồn]

Bài chi tiết: Vương Khánh

Vương Kiều Kiều[sửa | sửa mã nguồn]

Vương Luân[sửa | sửa mã nguồn]

Bài chi tiết: Vương Luân

Vương Luân (王倫) là một nhân vật trong Thủy hử, xuất hiện tại hồi 7.[43] Vương Luân ngoại hiệu là Bạch Y Tú Sĩ, đi thi nhưng không đỗ, sau đó bất mãn với văn chương nên chuyển sang nghiệp võ. Vương Luân rủ thêm hai huynh đệ kết nghĩa nữa lên lương sơn dựng cờ lập trại, chuyên cướp của nhà giàu để hưởng thụ. sau đó, vì tính tình hẹp hòi, không chịu thu nhận hảo hán để bổ sung cho doanh trại, Vương Luân bị Lâm Xung chém chết.

Vương Nghĩa[sửa | sửa mã nguồn]

Vương Nghĩa[sửa | sửa mã nguồn]

Vương Nhân[sửa | sửa mã nguồn]

Vương Phủ[sửa | sửa mã nguồn]

Vương Tấn Khanh[sửa | sửa mã nguồn]

Vương thái thú[sửa | sửa mã nguồn]

Vương Thăng[sửa | sửa mã nguồn]

Vương Thắng[sửa | sửa mã nguồn]

Vương Tích[sửa | sửa mã nguồn]

Vương Tiến[sửa | sửa mã nguồn]

Vương Tiểu Nhị[sửa | sửa mã nguồn]

Vương Triều[sửa | sửa mã nguồn]

Vương Tứ[sửa | sửa mã nguồn]

Vương Văn Đức[sửa | sửa mã nguồn]

Vương Văn Bân[sửa | sửa mã nguồn]

Vương Văn Bân (王文斌) là một nhân vật trong Tục Thủy hử, xuất hiện trong hồi 88.[44] Vương Văn Bân là một tướng lĩnh của triều đình nhà Tống, giữ chức Trịnh Châu Đoàn luyện sứ, Ngự tiền 80 vạn Cấm quân thương bổng Giáo đầu, vốn là chức vị của Lâm Xung. Vương Văn Bân làm người gian xảo, giỏi về che giấu, lại được triều đình văn võ tôn kính nể trọng, được khen là người văn võ song toàn.

Quân Lương Sơn theo lệnh nhà Tống tiến lên phía bắc đánh Liêu, gặp phải mùa đông phương Bắc lạnh giá. Tống Giang nhiều lần gửi thư về xin áo ấm cho quân sĩ. Nhà Tống cử Vương Văn Bân mang 1 vạn quân hộ tống xa phu vận chuyển quân nhu. Đoàn xe lên tới hai trăm chiếc xe, phía trước cắm lá cờ vàng ghi Ngự tứ y áo. Văn Bân đến nơi đúng lúc Tống Giang bị Ngột Nhan Quang bày Thái Ất Côn Thiên trận đánh bại. Triệu an phủ thấy Vương Văn Bân có danh tiếng, bèn ngỏ lời xin trợ giúp.

Vương Văn Bân thấy đây là cơ hội lập công, bèn khoe khoang trước Tống Giang là bản thân từ nhỏ học binh pháp, hiểu biết trận pháp. Khi lên lầu quan sát trận quân Liêu, Văn Bân xem không hiểu gì, nhưng vẫn nói dối là bản thân biết cách phá trận. Vương Văn Bân mang quân tấn công, bị tướng Khúc Lợi Xuất Thanh, được 20 hiệp thì Văn Bân lui chiến, lộ ra sơ hở, bị tướng Liêu chém ngang, xác phanh làm hai.

Vương Viễn[sửa | sửa mã nguồn]

X[sửa | sửa mã nguồn]

Xương Thịnh[sửa | sửa mã nguồn]

Y[sửa | sửa mã nguồn]

Yến Thanh[sửa | sửa mã nguồn]

Bài chi tiết: Yến Thanh

Yến Thuận[sửa | sửa mã nguồn]

Bài chi tiết: Yến Thuận

Phân loại thế lực[sửa | sửa mã nguồn]

Lương Sơn Bạc[sửa | sửa mã nguồn]

Triều đình Bắc Tống[sửa | sửa mã nguồn]

Địa phương Bắc Tống[sửa | sửa mã nguồn]

  • Phủ Đại Danh:
    • Quan văn: Lương trung thư, Vương thái thú
    • Võ tướng: Lý Thành, Văn Đạt, Dương Chí, Sách Siêu, Vương Nghĩa, Chu Cẩn, Cao Xung Hán
  • Tế Châu: Trương Thúc Dạ, Hà Đào, Hoàng An, Trương Bá Phấn, Trương Trọng Hùng
  • Giang Châu: Thái Đắc Chương, Hoàng Văn Bính
  • Cao Đường: Cao Liêm, Vu Trực, Ôn Vân Bảo, Tiết Nguyên Huy
  • Thanh Châu: Mộ Dung Ngạn Đạt, Lưu Cao, Cáp Lan Sinh, Cáp Vân Sinh, Sa Chí Nhân, Miện Dĩ Tín
  • Phủ Đông Bình (Vận Châu): Trình Vạn Lý
  • Đăng Châu: Vương Chính, Bao Cát, Dương Kham, Mao Trĩ
  • Phủ Kiến Khang: Lưu Mộng Long
  • Lai Châu: Hầu Phát
  • Lăng Châu: Kha Thủ
  • Tào Châu: Cái Thiên Tích, Tất Ứng Nguyên, Lương Hoành
  • Nghi Châu: Cao Phong, Nguyễn Kỳ Tường, Hoàng Khôi, Lý Phi Báo, Lưu Quảng, Lưu Kỳ, Lưu Lân, Lưu Huệ Nương, Vạn Phu Hùng, Khổng Hậu, Triệu Long, Tiền Phi Hổ, Tôn Lân, Lý Phượng Minh, Âu Dương Thọ Thông, Vân Thiên Bưu, Đặng Tông Bật, Tùng Trung, Trương Ứng Lôi, Đào Chấn Đình

Triều đình Đại Liêu[sửa | sửa mã nguồn]

  • Quân chủ: Gia Luật Huy
  • Đàn Châu: Động Tiên thị lang, A Lý Kỳ, Giảo Nhi Duy Khang, Sở Minh Ngọc, Tào Minh Tế, Gia Luật Quốc Trân, Gia Luật Quốc Bảo
  • Kế Châu: Gia Luật Đắc Trọng, Gia Luật Tông Vân, Gia Luật Tông Điện, Gia Luật Tông Lôi, Gia Luật Tông Lâm, Bảo Mật Thánh, Thiên Sơn Dũng
  • Bá Châu: Khang Lý Định An, Kim Phúc thị lang, Diệp Thanh thị lang
  • U Châu: Quỳnh Yêu Nạp Diên, Khấu Trấn Viễn
  • Thượng Kinh: Gia Luật Huy, Ngột Nhan Quang, Hàn Trọng Bảo

Hà Bắc Điền Hổ[sửa | sửa mã nguồn]

  • Châu Phần Dương: Điền Hổ, Phòng Học Độ, Phạm Quyền, Lý Thiên Tích, Trịnh Chi Thụy, Tiết Thì, Lâm Hân, Hồ Anh, Đường Hiển
    • Huyện Tương Viên: Ô Lê, Diệp Thanh, Từ Uy, Đường Hiển, Quỳnh Anh, An thị
  • Cái Châu: Nữu Văn Trung, Phương Quỳnh, An Sĩ Vinh, Chử Hanh, Vu Ngọc Lân, Dương Đoan, Quách Tín, Trương Tường, Phương Thuận, Thẩm An, Lư Nguyên, Vương Cát, Thạch Kính, Tần Thăng, Mạc Chân, Thịnh Bản, Hác Nhân, Tào Hồng, Thạch Tốn, Tang Anh
    • Huyện Lăng Xuyên: Đổng Trừng, Thẩm Ký, Cảnh Cung
    • Huyện Cao Bình: Trương Lễ, Triệu Năng
  • Minh Châu: Trương Địch
  • Châu Uy Thắng: Điền Định
  • Châu Phần Dương: Điền Báo, Mã Linh, Vũ Năng, Từ Cẩn, Sách Hiền, Đảng Thế Long, Lăng Quang, Đoàn Nhân, Miêu Thành, Trần Tuyên
    • Hồ Quan, Sơn Sĩ Kỳ, Lục Huy, Sử Định, Ngô Thành, Trọng Lương, Vân Tông Vũ, Ngũ Túc, Trúc Kính
    • Bão Độc Sơn: Đường Bân, Văn Trọng Dung, Thôi Dã
  • Phủ Tấn Ninh: Điền Bưu, Điền Thực, Vương Viễn, Diêu Ước, Tôn An, Mai Ngọc, Tần Anh, Kim Trinh, Lục Thanh, Tất Tiệp, Phan Tấn, Dương Phương, Phùng Thăng, Hồ Mại, Lục Phương, Khấu Phu, Trần Khải
  • Châu Chiêu Đức: Tôn Kỳ, Diệp Thanh, Kim Đĩnh, Hoàng Việt, Lãnh Ninh, Đái Mỹ, Ông Khuê, Dương Xuân, Ngưu Canh, Thái Trạch, Kiều Đạo Thanh, Nhiếp Tân, Phùng Kỷ, Lôi Chấn, Nghê Lân, Phí Trân, Tiết Xán

Hoài Tây Vương Khánh[sửa | sửa mã nguồn]

  • Nam Phong: Vương Khánh, Đoàn Tam Nương, Lưu Dĩ Kính, Thượng Quan Nghĩa, Văn Nhân Thế Sùng, Đoàn Ngũ, Khâu Tường, Phương Hàn
  • Uyển Châu: Lưu Mẫn, Lỗ Thành, Trịnh Tiệp, Khấu Mãnh, Cố Sầm, Hàn Triết, Ban Trạch, Tất Thắng, Trương Thọ, Bá Nhân, Trương Di
  • Sơn Nam: Đoàn Nhị, Tả Mưu, Hạ Cát, My Sảnh, Quách Cán, Trần Vân, Tiền Tân, Tiền Nghi, Khuyết Chứ, Ông Phi, Quý Tam Tư, Nghê Triệp, Chư Năng
    • Kỷ Sơn quân: Lý Hoài, Mã Cương, Mã Kính, Viên Lãng, Đằng Quỳ, Đằng Kham
  • Tây Kinh: Cung Đoan, Hề Thắng, Đỗ Học, Tạ Ninh, Vệ Hạc, Phong Thái, Trác Mậu, Khấu Uy
    • Huyện Bảo Phong: Vũ Thuận
  • Phủ Kinh Nam: Lương Vĩnh
  • Châu Vân An: Thi Tuấn, Hồ Tuấn
  • Châu An Đức: Liễu Nguyên, Phan Trung
  • Đông Xuyên: Lý Hùng, Tất Tiên, Hồ Hiển

Giang Nam Phương Lạp[sửa | sửa mã nguồn]

  • Gia tộc: Phương Lạp, Phương Thiên Định, Phương Kim Chi, Phương Bách Hoa, Phương Mạo, Phương Kiệt
  • Bang Nguyên: Lâu Mẫn Trung, Thẩm Thọ, Phùng Hỉ, Hoàn Dật, Phương Kiệt, Đỗ Vi, Bàng Thu Hà, Phương Phì
  • Dương Châu:
  • Hấp Châu: Phương Hậu, Vương Dần, Cao Ngọc
    • Ải Dục Lĩnh: Bàng Vạn Xuân, Lôi Quýnh, Kế Tắc
  • Mục Châu:
  • Hàng Châu: Đặng Nguyên Giác
  • Hồ Châu:
  • Tuyên Châu:
  • Nhuận Châu:
  • Thường Châu: Lã Sư Nang
  • Tô Châu: Phương Mạo, Quách Thế Quảng

Triều đình Đại Kim[sửa | sửa mã nguồn]

  • Hoàng thất: Thằng Quả, Oát Ly Bất

Thổ phỉ[sửa | sửa mã nguồn]

Triều đình Nam Tống[sửa | sửa mã nguồn]

Động Đình Dương Ma[sửa | sửa mã nguồn]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  • Thủy hử, lời bình Kim Thánh Thán, Trần Tuấn Khải dịch, Nhà xuất bản Văn học, Hà Nội, 2001.
  • Hậu Thủy hử, Ngô Đức Thọ, Nguyễn Thúy Nga dịch, Nhà xuất bản Văn học, Hà Nội, 2002.
  • Đãng khấu chí, Ông Văn Tùng dịch, Nhà xuất bản Đà Nẵng, Đà Nẵng, 1999.
  • Kim Bình Mai, Phan Văn Các hiệu đính, Nhà xuất bản Lao động, Hà Nội, 2002.
  • Lý Mộng Hà, 108 anh hùng Lương Sơn Bạc, Nhà xuất bản Tổng hợp Đồng Nai, Đồng Nai, 2002.
  • Thủy hử toàn truyện toàn văn (open-lit)

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ a ă Thủy hử toàn truyện, Hồi 87
  2. ^ Đãng khấu chí, Hồi 117
  3. ^ a ă â b Thủy hử toàn truyện, Hồi 99
  4. ^ a ă Cổ bản Thủy hử toàn truyện, Hồi 3
  5. ^ a ă â b c d đ e ê Kim Bình Mai, Hồi 1
  6. ^ a ă â Kim Bình Mai, Hồi 7
  7. ^ a ă Thủy hử truyện, Hồi 48
  8. ^ a ă Thủy hử truyện, Hồi 1 Lỗi chú thích: Thẻ <ref> không hợp lệ: tên “THT1” được định rõ nhiều lần, mỗi lần có nội dung khác
  9. ^ a ă Thủy hử toàn truyện, Hồi 118
  10. ^ Cổ bản Thủy hử truyện, Hồi 5
  11. ^ a ă Thủy hử toàn truyện, Hồi 98
  12. ^ a ă Thủy hử toàn truyện, Hồi 85
  13. ^ a ă Thủy hử toàn truyện, Hồi 73
  14. ^ Thủy hử truyện, Hồi 67
  15. ^ Chữ 壆 là phiên âm là Học, bính âm là xué nên một số bản dịch sai là Đỗ Huyệt.
  16. ^ a ă â Thủy hử toàn truyện, Hồi 107
  17. ^ Thủy hử toàn truyện, Hồi 60
  18. ^ Đãng khấu chí, Hồi 118
  19. ^ a ă â b Thủy hử toàn truyện, Hồi 116
  20. ^ a ă â Thủy hử toàn truyện, Hồi 94
  21. ^ a ă â b c d Thủy hử toàn truyện, Hồi 1
  22. ^ Thủy hử trung nghĩa chí truyện, Hồi 84
  23. ^ Thủy hử toàn truyện, Hồi 101
  24. ^ Thủy hử truyện, Hồi 61
  25. ^ a ă â b Đãng khấu chí, Hồi 85
  26. ^ a ă â Thủy hử truyện, Hồi 52
  27. ^ a ă â Thủy hử truyện, Hồi 23
  28. ^ a ă Thủy hử toàn truyện, Hồi 76
  29. ^ Đãng khấu chí, Hồi 100
  30. ^ Thủy hử truyện, Hồi 9
  31. ^ a ă Thủy hử toàn truyện, Hồi 113
  32. ^ a ă Thủy hử toàn truyện, Hồi 84
  33. ^ Thủy hử truyện, Hồi 14
  34. ^ Thủy hử toàn truyện, Hồi 74
  35. ^ Thủy hử truyện, Hồi 67
  36. ^ Tam triều Bắc minh Hội biên, Quyển 142.
  37. ^ Thủy hử truyện, Hồi 68
  38. ^ Nay là Vĩnh Niên, Hà Bắc.
  39. ^ Thủy hử toàn truyện, Hồi 110
  40. ^ Thủy hử toàn truyện, Hồi 109
  41. ^ Thủy hử trung nghĩa chí truyện, Hồi 102
  42. ^ Lỗi chú thích: Thẻ <ref> sai; không có nội dung trong thẻ ref có tên THTT108
  43. ^ Thủy hử truyện, Hồi 7
  44. ^ Thủy hử toàn truyện, Hồi 88