Hoa hậu Thế giới 2003

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm
Hoa hậu Thế giới 2003
Mw2003.jpg
Ngày06 tháng 12 năm 2003
Dẫn chương trìnhPhil Keoghan, Amanda Byram, Angela Chow
Giải tríLuis Fonsi, Bryan Ferry
Địa điểmNhà hát Vương miện sắc đẹp, Tam Á, Trung Quốc
Tham dự106
Số lượng xếp hạng20
Đầu tiên tham dựAndorra, Ethiopia, Gruzia, Guadeloupe, Quần đảo Bắc Mariana
Bỏ cuộcAlgérie, Quần đảo Virgin (Mỹ), Ghana, Tahiti
Trở lạiBelarus, Quần đảo Cayman, Costa Rica, Đan Mạch, Cộng hoà Dominica, Guatemala, Iceland, Hàn Quốc, Lesotho, Mauritius, Moldova, Nepal, Paraguay, Bồ Đào Nha, Sri Lanka, Thụy Sĩ, Zambia
Người chiến thắngRosanna Davison
Đại diện cho Ireland
Kết quả cuộc thi Hoa hậu Thế giới 2003

Hoa hậu Thế giới 2003 là cuộc thi Hoa hậu Thế giới lần thứ 53 được diễn ra vào ngay 06 tháng 12 năm 2003 tại Nhà hát Vương miện sắc đẹp, thành phố Tam Á, Trung Quốc. Dẫn chương trình là Phil Keoghan, Amanda Byram, và Châu Anh Kỳ (Angela Chow). Các thí sinh đã có dịp được đi đến các địa danh nổi tiếng của Trung Quốc như: Hồng Kông, Tây An, Bắc Kinh, Thượng Hải. Azra Akın từ Thổ Nhĩ Kỳ đã trao lại vương miện cho Rosanna Davison đến từ Ireland, con gái của nhạc sĩ nổi tiếng Chris de Burgh và trở thành người Ireland đầu tiên chiến thắng danh hiệu Hoa hậu Thế giới. Đây cũng là lần đầu tiên Trung Quốc đăng cai cuộc thi.

Kết quả cuộc thi[sửa | sửa mã nguồn]

Các kết quả cuối cùng Thí sinh
Hoa hậu Thế giới 2003
Á hậu 1
Á hậu 2
Chung kết
Bán kết

Các nữ hoàng châu lục[sửa | sửa mã nguồn]

Châu lục Thí sinh
Châu Á & Đại dương
Châu Âu
Châu Mỹ
Châu Phi
Vùng biển Caribê

Các phần thi phụ[sửa | sửa mã nguồn]

Vẻ đẹp Bãi biển[sửa | sửa mã nguồn]

  • Chiến thắng: Rosanna Davison (Ireland)
  • Á hậu 1: Bianca Sissing (Thụy Sĩ)
  • Á hậu 2: Helen Aponte (Bolivia)
  • Top 10 bán kết: Julie Taton (Bỉ), Hayat Ahmed (Ethiopia), Jade Fulford (Jamaica), Melanie Paul (New Zealand), Maria Rafaela Yunon (Philippines), Karolina Gorazda (Ba Lan), Natalia Rodríguez (Uruguay)

Hoa hậu Thể thao[sửa | sửa mã nguồn]

  • Chiến thắng: Nazanin Afshin Jam (Canada)
  • Á hậu 1: Lucie Vachova (Cộng hoà Séc)
  • Á hậu 2: Patricia Filomena Chifor (Romania)

Hoa hậu Cá tính[sửa | sửa mã nguồn]

  • Chiến thắng: Helen Aponte (Bolivia)
  • Á hậu 1: Racquel Wilkinson (Barbados)
  • Á hậu 2: Anne-Marie Browne (Antigua & Barbuda)

Hoa hậu Tài Năng[sửa | sửa mã nguồn]

  • Chiến thắng: Irina Onashvili (Gruzia)
  • Á hậu 1: Joyceline Montero (Puerto Rico)
  • Á hậu 2: Kriistina Gabor (Estonia)
  • Top 20 bán kết: Anne-Marie Browne (Antigua & Barbuda), Grisel Hitoff (Argentina), Nathalie Biermans (Aruba), Boingotlo Motlalekgosi (Botswana), Nazanin Afshin-Jam (Canada), Quan Kỳ (Trung Quốc), Claudia Molina (Colombia), Julie Taton (Cộng hoà Séc), Maria Eugenia Vargas (Cộng hoà Dominica), Hayat Ahmed (Ethiopia), Ami Vashi (Ấn Độ), Rosanna Davison (Ireland), Park Ji-yea (Hàn Quốc), Irina Askolska (Latvia), Vaida Griksaite (Lithuania), Marija Vašik (Cộng hoà Macedonia), Kimberly Castro (Bắc Mariana), Valentina Patruno (Venezuela)

Hoa hậu do khán giả bình chọn[sửa | sửa mã nguồn]

  • Chiến thắng: Olivia Stratton (Australia)

Các thí sinh[sửa | sửa mã nguồn]

106 Thí sinh tham dự cuộc thi Hoa hậu Thế giới 2003 tại Trung Quốc.

Một số thông tin cần lưu ý[sửa | sửa mã nguồn]

Lần đầu tiên tham dự[sửa | sửa mã nguồn]

  • Andorra, Ethiopia, Gruzia, GuadeloupeBắc Mariana tham dự Hoa hậu Thế giới lần đầu tiên trong lịch sử.

Sự trở lại của các quốc gia và vùng lãnh thổ[sửa | sửa mã nguồn]

  • Lesotho Lesotho tham dự lần trước là năm 1981
  • Mauritius Mauritius tham dự lần trước là năm 1998
  • Zambia Zambia tham dự lần trước là năm 1999
  • Belarus, Đan Mạch, Guatemala, Moldova, Nepal, ParaguaySri Lanka lần cuối cùng tham dự là năm 2000
  • Quần đảo Cayman, Costa Rica, Cộng hoà Dominica, Iceland, Hàn Quốc, Bồ Đào NhaThụy Sĩ lần trước tham dự là năm 2001

Các quốc gia có tham dự năm trước nhưng vắng mặt trong năm nay[sửa | sửa mã nguồn]

Bỏ cuộc[sửa | sửa mã nguồn]

  •  Armenia - Luysya Tovmasian
  •  Áo - Tanja Duhovich
  •  Fiji - Aishwarya Sukhdeo bỏ cuộc vào phút cuối không rõ lý do nhưng sẽ tham dự vào năm sau.

Quốc gia bị thay đổi[sửa | sửa mã nguồn]

  • Cộng hòa Liên bang Xã hội chủ nghĩa Nam Tư Nam Tư đổi tên thành Serbia và Montenegro Serbia & Montenegro

Cần lưu ý về các thí sinh[sửa | sửa mã nguồn]

  • Philippines là cháu gái của Maria Desiree Verdadero, Á hậu 3 Hoa hậu Hoàn vũ 1984
  • Ấn ĐộVenezuela lớn lên tại Hoa Kỳ, trong khi Hồng Kông lớn lên tại Vancouver, Canada
  • Canada, Nazanin Afshin-Jam, được sinh ra tại Iran
  • Uruguay, Natalia Rodríguez, đã xuất hiện trong một phần của seri truyền hình thực tế nổi tiếng The Amazing Race 5, trong khi Sri Lanka, Sachini Ayendra Stanley, xuất hiện tại The Amazing Race 6
  • Andorra, Angola, Argentina, Bolivia, Brazil, Bulgaria, Chile, Cộng hoà Dominica, Ecuador, Guadeloupe, Guatemala, Nhật Bản, Kazakhstan, Panama, Paraguay, Tây Ban Nha, Thổ Nhĩ KỳUruguay đã giới thiệu về bản thân mình bằng tiếng mẹ đẻ trong chương trình Hoa hậu Thế giới hãy bầu chọn cho tôi
  • Hoa Kỳ đã từng tham dự cuộc thi Hoa hậu Thiếu niên Mỹ 2002 đại diện cho bang Georgia và cô đứng vị trí thứ 4.
  • Quần đảo Bắc Mariana được cử tham dự cuộc thi Hoa hậu Hoàn vũ nhưng sau đó đã được cử tham dự Hoa hậu Thế giới
  • 14 thí sinh từng tham dự cuộc thi Hoa hậu Hoàn vũ:

Các lưu ý khác[sửa | sửa mã nguồn]

  • 13 trong tổng số 20 quốc gia vào bán kết không có tên trong vòng bán kết của năm trước: Thụy Sĩ (1985), Canada (1989), Ireland (1990), BoliviaTrinidad & Tobago (1995), Cộng hoà DominicaHy Lạp (1996), LibanNew Zealand (1997), và Jamaica (1998). EthiopiaGruzia, tham dự cùng năm và đều lọt vào vòng bán kết lần đầu tiên trong lịch sử

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]