Hoa hậu Thế giới

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Hoa hậu Thế giới
Thành lập 1951
Loại hình Cuộc thi sắc đẹp
Trụ sở chính Luân Đôn
Địa điểm  Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland
Ngôn ngữ chính thức tiếng Anh
Giám đốc Julia Morley
Nhân vật chủ chốt Eric Morley
Trang web Trang chủ của cuộc thi

Hoa hậu Thế giới (tiếng Anh: Miss World) là cuộc thi sắc đẹp toàn cầu lâu đời nhất thế giới được tổ chức lần đầu tiên bởi Eric Morley vào năm 1951. Năm 2000 khi ông mất thì vợ của ông là bà Julia Morley đã thay ông lên nắm quyền điều hành cuộc thi.[1]

Cùng với các đối thủ của mình là Hoa hậu Hoàn vũ, Hoa hậu Quốc tế và cuộc thi non trẻ Hoa hậu Trái Đất, cuộc thi Hoa hậu Thế giới là một trong những cuộc thi sắc đẹp lớn nhất trên thế giới.[2][3]

Người đoạt vương miện Hoa hậu Thế giới sẽ đại diện cho Tổ chức Hoa hậu Thế giới tham gia những hoạt động từ thiện trên khắp thế giới. Các Hoa hậu Thế giới sẽ sống ở Anh trong suốt thời gian giữ vương miện[4].

Đương kim Tân Hoa hậu thế giới hiện nay là Mireia Lalaguna Royo, 23 tuổi, đến từ Tây Ban Nha.

Cuộc thi Hoa hậu Thế giới được bắt đầu từ cuộc thi áo tắm ở Anh vào năm 1951 chỉ với mục đích quảng bá các mốt áo tắm mới nhất lúc đó, nhưng được gọi là Hoa hậu Thế giới bởi các phương tiện truyền thông. Eric Morley, người khởi xuống cuộc thi áo tắm đó đã dự định sẽ chỉ tổ chức cuộc thi này một lần duy nhất nhưng khi nghe tin cuộc thi Hoa hậu Hoàn vũ sẽ được tổ chức tại Mỹ năm 1952, ông đã quyết định biến Hoa hậu Thế giới thành một cuộc thi sắc đẹp thường niên.[5][6]

Cuộc thi Hoa hậu Thế giới đã được phát sóng lần đầu tiên vào năm 1959 bởi đài BBC. Vào thập niên 1980, cuộc thi quyết định thay đổi khẩu hiện là "Sắc đẹp vì một mục tiêu" (Beauty with a purpose). Cuộc thi chú trọng hơn tới trí tuệ và nhân cách của những người đẹp tham gia cuộc thi. Từ thập niên 1990, cuộc thi đã thu hút hơn 2 tỉ người trên thế giới theo dõi cuộc thi này.

Thế kỉ 21[sửa | sửa mã nguồn]

Eric Morley đã mất. Vợ ông, bà Julia Morley đã thay ông trở thành chủ tịch của cuộc thi Hoa hậu Thế giới.[7]

Năm đầu tiên của thế kỉ 21 chứng kiến cô gái châu Phi da đen đầu tiên đăng quang danh hiệu Hoa hậu Thế giới, Agbani Darego. Trong quá trình thay đổi của mình, cuộc thi đã nêu khẩu hiểu "Bạn quyết định" (You decide) để tăng cường vai trò của khán giả trên khắp toàn cầu có cơ hội được chọn ra hoa hậu thế giới. Các cuộc thi Hoa hậu Bãi biển, Hoa hậu Thể thao, Hoa hậu Tài năngHoa hậu Nhân ái được tổ chức trong khuôn khổ cuộc thi này.

Năm 2002, cuộc thi Hoa hậu Thế giới được tổ chức tại Abuja, thủ đô của Nigeria, đất nước của người đẹp vừa đăng quang năm trước Agbani Darego. Tại Nigeria, cuộc thi đã bị chỉ trích mạnh mẽ vì Nigeria là một quốc gia theo đạo Hồi. Những cuộc bạo động đã nổ ra để phản đối cuộc thi Hoa hậu Thế giới khiến hàng trăm người chết và bị thương. Cuộc thi đã phải chuyển sang Anh. Đây được coi là sự cố đáng tiếc nhất trong lịch sử cuộc thi Hoa hậu Thế giới.[8][9]

Tổ chức Hoa hậu Thế giới[sửa | sửa mã nguồn]

Tổ chức Hoa hậu Thế giới sở hữu cuộc thi Hoa hậu Thế giới và tổ chức sự kiện này mỗi năm một lần. Kể từ khi bắt đầu hoạt động vào năm 1951, tổ chức Hoa hậu Thế giới đã quyên góp được 250 triệu bảng Anh cho các tổ chức từ thiện vì trẻ em. Tổ chức Hoa hậu Thế giới ký kết các bản quyền thương mại tới hơn 100 quốc gia. Công ty Trách nhiệm hữu hạn Hoa hậu Thế giới là một công ty tư nhân do đó các số liệu, các khoản thu nhập và chi phí đóng góp cho các quỹ từ thiện không cần công khai.

Ngoài quyên góp hàng triệu bảng Anh cho các tổ chức từ thiện, tổ chức Hoa hậu Thế giới ra tiêu chí "Hoa hậu có tấm lòng nhân ái" và sau này cuộc thi có một giải thưởng riêng cho thí sinh có những đóng góp xuất sắc trong công việc từ thiện tại quê nhà.

Tiêu chuẩn dự thi[sửa | sửa mã nguồn]

Theo yêu cầu của tổ chức Miss World trước khi tham dự cuộc thi Hoa hậu Thế giới, các ứng cử viên của cuộc thi phải thắng trong một cuộc thi cấp quốc gia tại quê nhà để lấy được quyền đại diện cho quốc gia của mình tại Hoa hậu Thế giới. Các thí sinh chiến thắng sẽ được cấp giấy phép tham dự cuộc thi từ những nhà đăng ký chuyển nhượng bản quyền của cuộc thi ở quốc gia của họ. Và cuối cùng là đến tham gia cuộc thi Hoa hậu Thế giới với một số chương trình phúc khảo, tham gia các hoạt động ngoài trời, giao lưu với cư dân bản địa, tham gia các sự kiện truyền hình và cuối cùng xuất hiện trong đêm chung kết để công bố các giải thưởng, các danh hiệu và công bố tên của Hoa hậu Thế giới.

Các hoa hậu thế giới chiến thắng phần thi phụ[sửa | sửa mã nguồn]

  • 4 Hoa hậu Thế giới đã đoạt giải Hoa hậu Ảnh: Astrid Carolina Herrera (Venezuela, 1984), Aishwarya Rai (Ấn Độ, 1994), Jacqueline Aguilera (Venezuela, 1995) và Diana Hayden (Ấn Độ, 1997).

Giải thưởng bên lề[sửa | sửa mã nguồn]

Kể từ năm 2003 cuộc thi Hoa hậu Thế giới bắt đầu xuất hiện các phần thi phụ. Người chiến thắng tại các vòng thi phụ sẽ được lọt vào bán kết. Các sự kiện bên lề được sử dụng từ năm 2003 là:

  • Hoa hậu Bãi biển: từ năm 2003 - 2015
  • Hoa hậu Tài năng: từ năm 2003 - hiện nay
  • Hoa hậu Thể thao: từ năm 2003 - hiện nay
  • Hoa hậu nhân ái: từ năm 2005 - hiện nay
  • Hoa hậu Người mẫu: 2004, 2007 - hiện nay
  • Giải thưởng do khán giả bình chọn (2003)
  • Hoa hậu cá tính (2003)
  • Hoa hậu do các thí sinh bình chọn (2004)
  • Hai Hoa hậu Thế giới từng chiến thắng trong phần thi Hoa hậu Bãi biển: Rosanna Davison (Ireland, 2003), Kaiane Aldorino (Gibraltar, 2009).
  • Hai Hoa hậu Thế giới từng chiến thắng trong phần thi Hoa hậu Người mẫu: Trương Tử Lâm (Trung Quốc, 2007), Ksenia Sukhinova (Nga, 2008).

Các thí sinh chiến thắng[sửa | sửa mã nguồn]

Các kỉ lục[sửa | sửa mã nguồn]

Thời gian giữ vương miện lâu nhất[sửa | sửa mã nguồn]

  • Kiki Håkansson từ Thụy Điển, Hoa hậu Thế giới 1951 là người có nhiệm kỳ giữ vương miện lâu nhất trong lịch sử: 1 năm, 3 tháng, 16 ngày từ khi đoạt vương miện ngày 29 tháng 07 năm 1951 tại Luân Đôn, Vương quốc Anh[10][11].

Thời gian giữ vương miện ngắn nhất[sửa | sửa mã nguồn]

Các vị trí[sửa | sửa mã nguồn]

Xem danh sách đầy đủ: Danh sách Hoa hậu Thế giới.

Hành trình đến Miss World[sửa | sửa mã nguồn]

Cuộc Miss World thường được tổ chức vào khoảng thời gian cuối năm, tháng 11 hoặc 12.

Cuộc hành trình đến chiếc vương miện Hoa hậu Thế giới vô cùng khó khăn. Đầu tiên, thí sinh tham dự cuộc thi này phải là người đã chiến thắng tại cuộc thi hoa hậu quốc gia. Đến cuộc thi, các thí sinh sẽ tham dự vào các sự kiện được tổ chức trong cuộc thi, các gala, những buổi dạ hội và các hoạt động trước khi ban giám khảo chọn ra top cuối cùng.

Ngoài quyên góp hàng triệu bảng Anh cho các tổ chức từ thiện, tổ chức Hoa hậu Thế giới ra tiêu chí "Hoa hậu có tấm lòng nhân ái" và sau này cuộc thi có một giải thưởng riêng cho thí sinh có những đóng góp xuất sắc trong công việc từ thiện tại quê nhà.

Cuộc thi HHTG sẽ chọn ra Top bán kết, top 5->6 (hoặc 7) và cuối cùng là Hoa hậu thế giới và 2 á hậu.

Số lượng thí sinh trong top bán kết có sự thay đổi nhỏ qua mỗi năm, thông thường nằm trong khoảng từ 15-20.

Kể từ năm 2003, để sự lựa chọn kỹ lưỡng và chính xác, các phần thi phụ được Miss World tổ chức một cách bài bản. Các thí sinh dự thi phải trải qua các phần thi Hoa hậu biển, Hoa hậu thể thao, Hoa hậu tài năng, Hoa hậu mặc trang phục dân tộc đẹp nhất.

  • Hoa hậu Biển (Beach Beauty): Chọn ra những thí sinh có hình thể đẹp nhất. Trong phần thi này, vóc dáng, vẻ đẹp hình thể và các chỉ số 3 vòng là tiêu chí để chấm điểm. Ngoài danh hiệu HH Biển, phần thi này còn chọn ra top 10, top 5. Người đoạt danh hiệu Hoa hậu Biển được đặc cách thẳng vào top bán kết cuộc thi.
  • Hoa hậu Thể thao (Miss Sport): Là phần thi mà các thí sinh sẽ phải trải qua các hoạt động thể thao như chạy, bơi lội, bóng chuyền... để bộc lộ khả năng chơi thể thao và rèn luyện sức khỏe, thể hình của mình. Các phần thi thường được tổ chức theo nhóm ứng với mỗi khu vực. Thí sinh giành giải "Hoa hậu thể thao" được một suất đặc cách thẳng vào top 16 cuộc thi. Phần thi cũng chọn ra top 15, top 5.
  • Hoa hậu Tài năng (Talent Show): Là phần thi mà các thí sinh có cơ hội thể hiện tài năng, năng khiếu, sở trường của mình. Mỗi thí sinh có thể đăng ký một tiết mục trình diễn trên sân khấu. Thông thường, phần thi tài năng các thí sinh Miss World thường lựa chọn là hát, múa, chơi đàn, thổi sáo, diễn kịch, kể chuyện... Thí sinh đoạt giải "Hoa hậu tài năng" được một suất đặc cách thẳng vào top bán kết cuộc thi.
  • Hoa hậu Thời trang, hoặc Trang phục Dân tộc, (Top Model): Là phần thi mà thí sinh sẽ trình diễn các mẫu thiết kế thời trang hoặc trang phục truyền thống của dân tộc mình. Đây là phần thi mà khán giả sẽ phải choáng ngợp bởi rất nhiều bộ trang phục rực rỡ, nhiều màu sắc được trình diễn bởi các người đẹp. Thí sinh đoạt giải "Hoa hậu thời trang" (hoặc Hoa hậu mặc trang phục dân tộc đẹp nhất) được một suất đặc cách thẳng vào top bán kết cuộc thi. Phần thi cũng công bố top 10, top 5.

Ngoài ra, ở Miss World còn có thêm giải phụ Hoa hậu có tấm lòng nhân ái (Beauty with a Purpose). Đây là giải thưởng dành cho hoa hậu trước khi đến với cuộc thi đã có những hoạt động xã hội có ý nghĩa cao cả. Những việc làm đó sẽ phải được minh chứng bằng một video clip ghi lại hoạt động của thí sinh gửi cho Ban tổ chức. Giải thưởng này được công bố trong đêm chung kết.

Hoa hậu Thế giới không có giải Hoa hậu Thân Thiện như Hoa hậu hoàn vũ. Tuy nhiên, đôi khi người ta hay nhầm lẫn giữa "Hoa hậu có tấm lòng nhân ái" với "Hoa hậu thân thiện".

Đêm chung kết cuộc thi, mở đầu đồng loạt các thí sinh sẽ có màn trình diễn váy và áo tắm, sau đó từng tốp thí sinh (theo từng khu vực) được xướng tên quốc gia sẽ lần lượt ra mắt khán giả.

Sau đó tất cả các thí sinh, trong trang phục áo dạ hội, sẽ được tập hợp lại để chuẩn bị nghe công bố kết quả. Mở đầu là màn xuất hiện của 4 thí sinh được đặc cách do đoạt các danh hiệu Hoa hậu Biển, Hoa hậu Thể thao, Hoa hậu Mặc trang phục dân tộc đẹp nhất), sau đó Ban giám khảo công bố thí sinh đoạt danh hiệu Hoa hậu nhân ái. Tất cả các thí sinh đoạt các giải phụ này đều được đặc cách thẳng vào top Bán kết. Tiếp đến, BGK Miss World sẽ chọn ra những người còn lại lọt vào top bán kết. Các thí sinh còn lại này được ban giám khảo lựa chọn ngẫu nhiên (không tính yếu tố vùng miền) hoặc lựa chọn theo vùng miền (mỗi khu vực thường có khoảng 2 đại diện).

Sau đó chọn tiếp top 5 (hoặc 6) và cuối cùng, 3 ngôi vị cao nhất cuộc thi được trưởng Ban tổ chức, bà Julia Morley công bố. Các giải thưởng được công bố liên tục vào cuối đêm chung kết, không có màn trình diễn riêng của các thí sinh đoạt thành tích như Hoa hậu Hoàn vũ.

Từ năm 2009, trong đêm chung kết Hoa hậu Thế giới có thêm phần trình diễn Dances of the World (Các điệu nhảy của thế giới). Đây là một phần trình diễn không tính điểm. Phần trình diễn luôn luôn được chờ đợi trong mỗi đêm chung kết và là một trong số những đặc sắc của Miss World. Cùng với đó, phần trình diễn trang phục áo tắm mở màn của đêm chung kết cũng dần được tối giản và bỏ khỏi nội dung đêm chung kết. Năm 2015, Hoa hậu Thế giới chính thức sẽ không có phần thi áo tắm.

Những năm gần đây, cuộc thi Miss World có thêm phần Bình chọn thí sinh qua trang web chính thức cuộc thi (www.missworld.tv). Kết quả bình chọn có năm chỉ là một căn cứ hỗ trợ cho sự đánh giá tính điểm của Ban giám khảo, có năm giải thưởng Bình chọn nhiều nhất được đặc cách thẳng vào bán kết.

Danh sách các người đẹp từng biểu diễn tại phần trình diễn Dances of the World[sửa | sửa mã nguồn]

Quốc gia Năm Tên người đẹp Danh hiệu chính thức
BarbadosBarbados 2012 Marielle Wilkie -
BoliviaBolivia 2014 Andrea Forfori Top 25
BotswanaBotswana 2010 Emma Wareus Á hậu 1
BrasilBrazil 2010 Kamilla Salgado -
BulgariaBulgaria 2010 Romina Andonova -
CanadaCanada 2012 Tara Teng -
ChileChile 2013 Camila Andrade -
Trung QuốcChina PR - Trung Quốc 2011 Liu Chen -
2013 Yu Weiwei -
2015 Yuan Lu Top 20
Costa RicaCosta Rica 2012 Silvana Sánchez -
Cộng hòa DominicaDominican Republic - Cộng hòa Dominican 2013 Joely Bernat Top 20
Ai CậpEgypt - Ai Cập 2010 Sarah Khouly -
Guinea Xích đạoEquatorial Guinea - Guinea Xích Đạo 2012 Jennifer Riveiro Ilende -
FijiFiji 2012 Koini Elesi Vakaloloma -
Phần LanFinland - Phần Lan 2014 Krista Haapalainen Top 25
PhápFrance - Pháp 2012 Delphine Wespiser -
2015 Hinarere Taputu Top 11
GruziaGeorgia - Gruzia 2012 Salome Khomeriki -
GibraltarGibralta 2012 Jessica Baldachino -
GuamGuam 2012 Jeneva Bosko -
Hồng KôngHong Kong, China - Hồng Kông 2010 Sau Man Cheung -
HungaryHungary 2012 Tamara Cserháti -
Ấn ĐộIndia - Ấn Độ 2010 Manasvi Mamgai -
2012 Vanya Mishra Top 7
2014 Koyal Rana Top 11
IndonesiaIndonesia 2013 Vania Larissa Top 11
Cộng hòa IrelandIreland 2013 Aoife Walsh -
KenyaKenya 2014 Idah Nguma Top 11
Hàn QuốcKorea - Hàn Quốc 2009 Kim Joo Ri Top 16
2012 Kim Sung-min -
LatviaLatvia 2009 Ieva Lase -
2011 Alise Miškovska -
2012 Anastasija Skibunova -
LibanLebanon - Li Băng 2012 Sonia-Lynn Gabriel -
MéxicoMexico 2009 Perla Beltrán Á hậu 1
2011 Gabriela Palacio -
2012 Mariana Berumen Top 15
Mông CổMongolia - Mông Cổ 2012 Bayarmaa Huselbaatar -
2014 Battsetseg Turbat -
NamibiaNamibia 2013 Paulina Malulu -
NepalNepal 2011 Malina Joshi -
2012 Shristi Shrestha Top 30
2013 Ishani Shrestha Top 11
2015 Evana Manandhar -
NicaraguaNicaragua 2012 Lauren Lawson -
ParaguayParaguay 2015 Giovanna Cordeiro -
PhilippinesPhilippines 2013 Megan Young Hoa hậu Thế giới 2013
Puerto RicoPuerto Rico 2011 Amanda Vilanova Á hậu 2
SamoaSamoa 2015 Latafale Auva'a -
ScotlandScotland 2011 Jennifer Reoch Top 7
2014 Ellie McKeating Top 25
Sierra LeoneSierra Leone 2009 Mariatu Kargbo Top 16
2011 Swadu Natasha Beckley -
SlovakiaSlovakia 2013 Karolína Chomisteková Top 20
2015 Lujza Straková -
SloveniaSlovenia 2014 Julija Bizjak -
Cộng hòa Nam PhiSouth Africa - Nam Phi 2011 Bokang Montjane Top 7
2012 Remona Moodley -
Tây Ban NhaSpain - Tây Ban Nha 2010 Fátima Jiménez -
Sri LankaSri Lanka 2009 Gamya Wijayadasa -
Polynésie thuộc PhápTahiti 2009 Nanihi Bambridge -
2010 Mihilani Teixeira Top 25
UkrainaUkraine 2011 Yaroslava Kuriacha Top 15
Hoa KỳUnited States - Hoa Kỳ 2014 Elizabeth Safrit Á hậu 2
Quần đảo Virgin thuộc MỹQuần đảo Virgin thuộc Mỹ 2013 Petra Cabrera-Badia -
VenezuelaVenezuela 2011 Ivian Sarcos Hoa hậu Thế giới 2011
2013 Karen Soto -
ZambiaZambia 2015 Michelo Malambo -

Các hoa hậu[sửa | sửa mã nguồn]

Sau đây là danh sách các Hoa hậu Thế giới từ năm 1999 đến năm 2015. Để xem đầy đủ hơn Danh sách Hoa hậu Thế giới.
Năm Hoa hậu Thế giới Quốc gia Nơi chiến thắng
2015 Mireia Lalaguna  Tây Ban Nha Tam Á, Trung Quốc
2014 Rolene Strauss Flag of South Africa.svg Nam Phi Luân Đôn, Vương quốc Anh
2013 Megan Young  Phillippines Bali, Indonesia
2012 Vu Văn Hà  Trung Quốc Ordos, Trung Quốc
2011 Ivian Sarcos  Venezuela Luân Đôn, Vương quốc Anh
2010 Alexandria Mills  Hoa Kỳ Tam Á, Trung Quốc
2009 Kaiane Aldorino  Gibraltar Johannesburg, Nam Phi
2008 Ksenia Sukhinova  Nga Johannesburg, Nam Phi
2007 Trương Tử Lâm  Trung Quốc Tam Á, Trung Quốc
2006 Taťána Kuchařová  Cộng hòa Séc Warsaw, Ba Lan
2005 Unnur Birna Vilhjálmsdóttir  Iceland Tam Á, Trung Quốc
2004 María Julia Mantilla  Peru Tam Á, Trung Quốc
2003 Rosanna Davison  Ireland Tam Á, Trung Quốc
2002 Azra Akin  Thổ Nhĩ Kỳ Luân Đôn, Vương quốc Anh
2001 Agbani Darego  Nigeria Sun City, Nam Phi
2000 Priyanka Chopra Flag of India.svg Ấn Độ Luân Đôn, Vương quốc Anh
1999 Yukta Mookhey Flag of India.svg Ấn Độ Luân Đôn, Vương quốc Anh

Những quốc gia đã từng chiến thắng tại cuộc thi Hoa hậu Thế giới[sửa | sửa mã nguồn]

Bản đồ các quốc gia và vùng lãnh thổ chiến thắng trong cuộc thi Hoa hậu Thế giới tính đến năm 2011.
Số lần Quốc gia
6 Venezuela
5 Ấn Độ
4 Vương quốc Anh,
3 Iceland, Jamaica, Hoa Kỳ, Thụy Điển, Nam Phi
2 Argentina, Úc, Áo, Hà Lan, NgaTrung Quốc
1 Bermuda, Brasil, Cộng hòa Séc, Cộng hòa Dominican, Ai Cập, Phần Lan, Pháp, Đức, Gibraltar, Hy Lạp, Grenada, Guam, Ireland, Israel, Nigeria, Ba Lan, Puerto Rico, Trinidad và Tobago, Thổ Nhĩ Kỳ, PhilippinesTây Ban Nha

Số liệu ở trên tính tới năm 2015.

Số lượng thí sinh chiến thắng[sửa | sửa mã nguồn]

Quốc gia / Vùng lãnh thổ Số lần Các năm chiến thắng
 Venezuela
6
1955, 1981, 1984, 1991, 1995, 2011
 Ấn Độ
5
1966, 1994, 1997, 1999, 2000
 Vương quốc Anh
4
1961, 1964, 1965, 1983
 Hoa Kỳ
3
1973, 1990, 2010
 Iceland 1985, 1988, 2005
 Jamaica 1963, 1976, 1993
 Nam Phi 1958, 1974, 2014
 Thụy Điển 1951, 1952, 1977
 Trung Quốc
2
2007, 2012
 Nga 1992, 2008
 Peru 1967, 2004
 Áo 1969, 1987
 Argentina 1960, 1978
 Úc 1968, 1972
 Hà Lan 1959, 1962
 Gibraltar
1
2009
 Cộng hòa Séc 2006
 Ireland 2003
 Thổ Nhĩ Kỳ 2002
 Nigeria 2001
 Israel 1998
 Hy Lạp 1996
 Ba Lan 1989
 Trinidad & Tobago 1986
 Cộng hòa Dominican 1982
 Guam 1980
 Bermuda 1979
 Puerto Rico 1975
Flag of Brazil.svg Brasil 1971
 Grenada 1970
 Phần Lan 1957
 Đức 1956
 Ai Cập 1954
 Pháp 1953
 Philippines 2013
 Tây Ban Nha 2015

Thí sinh xuất sắc nhất tại các châu lục[sửa | sửa mã nguồn]

Tính đến năm 2015:

Châu lục Các quốc gia xuất sắc
Châu Âu 28 lần chiến thắng bởi Vương quốc Anh (4), IcelandThụy Điển (3), Áo, Hà Lan, NgaThổ Nhĩ Kỳ (2), Cộng hòa Séc, Phần Lan, Pháp, Đức, Gibraltar, Hy Lạp, Ireland, Israel, Ba LanTây Ban Nha (1).
Châu Mỹ 16 lần chiến thắng bởi Venezuela (6), Mỹ (3), Argentina, Peru (2), BermudaBrasil (1).
Châu Á - Thái Bình Dương 10 lần chiến thắng bởi Ấn Độ (5), ÚcTrung Quốc (2), GuamPhilippines (1).
Vùng Caribê 7 lần chiến thắng bởi Jamaica (3), Cộng hòa Dominican, Grenada, Puerto RicoTrinidad và Tobago (1).
Châu Phi 5 lần chiến thắng bởi Nam Phi (3), Ai CậpNigeria (1).

Hoa hậu các châu lục[sửa | sửa mã nguồn]

2004
 Peru
Maria Julia Mantilla
 Nigeria
Anita Uwagbale
 Philippines
Maria Karla Bautista
 Cộng hòa Dominica
Claudia Cruz
 Ba Lan
Katarzyna Borowicz
2005
Dafne Molina
Nancy Sumari
Oh Eun-young
Ingrid Marie Rivera
(Bắc Âu)
Sofia Bruscoli
(Nam Âu)
2006
 Brazil
Jane Borges
 Angola
Stiviandra Oliveira
 Úc
Sabrina Houssami
 Jamaica
Sara Lawrence
 Cộng hòa Séc
(Bắc Âu)
 România
Ioana Boitor
(Nam Âu)
2007
 México
Carolina Morán
 Angola
Micaela Reis
 Trung Quốc
Trương Tử Lâm
 Trinidad & Tobago
Valene Maharaj
 Thụy Điển
Annie Oliv
2008
 Venezuela
Hannely Quintero
 Angola
Brigith Dos Santos
 Ấn Độ
Parvathy Omanakuttan
 Trinidad & Tobago
Gabrielle Walcott
 Nga
Ksenia Sukhinova
2009
 México
Perla Beltrán
 Nam Phi
Tatum Keshwar
 Hàn Quốc
Kim Joo-ri
 Barbados
Leah Marville
 Gibraltar
Kaiane Aldorino
2010
 Hoa Kỳ
Alexandria Mills
 Botswana
Emma Wareus
 Trung Quốc
Đường Tiêu
 St. Lucia
Aiasha Gustave
 Ireland
Emma Britt Waldron
2011
 Venezuela
Ivian Sarcos
 Nam Phi
Bokang Montjane
 Philippines
Gwendoline Ruais
 Puerto Rico
Amanda Vilanova
 Anh
Alize Lily Mounter
2012
 Brazil
Mariana Notarangelo
 Nam Sudan
Atong Demarch
 Trung Quốc
Vu Văn Hà
 Jamaica
Deanna Robins
 Wales
Sophie Moulds
2013
 Brasil
Sancler Frantz
 Ghana
Carranzar Naa Okailey Shooter
 Philippines
Megan Young
 Jamaica
Gina Hargitay
 Pháp
Marine Lorphelin
2014
 Brasil
Julia Gama
 Nam Phi
Rolene Strauss
 Ấn Độ
Koyal Rana
 Mỹ
Elizabeth Safrit
 Hungary
Edina Kulcsár

Nữ hoàng sắc đẹp theo quốc gia[sửa | sửa mã nguồn]

Country Titles Awarded as Winning years
 Venezuela
12
Châu Mỹ 1981, 1984, 1987, 1988, 1991, 1992, 1993, 1994, 1995, 1999, 2008, 2011
 Nam Phi
11
Châu Phi 1991, 1992, 1993, 1994, 1995, 1996, 1997, 1998, 1999, 2009, 2011,2014
 Jamaica
9
Vùng biển Caribê 1990, 1991, 1993, 1997, 1998, 1999, 2003, 2006, 2012
 Úc
6
Châu Đại Dương 1981, 1982, 1983, 1984, 1988, 1989
1
Châu Á & Đại Dương 1991
1
Châu Á-Thái Bình Dương 2006
Flag of India.svg Ấn Độ
7
Châu Á & Đại Dương 1994, 1996, 1997, 1999, 2000, 2008
 Israel
3
Châu Á 1983, 1984, 1985
2
Châu Âu 1998, 1999
 Croatia
3
Châu Âu
1993, 1994, 1995
 Iceland 2005 (xem là Bắc Âu), 1988, 1985
 Ireland 1990, 2003, 2010
 Thổ Nhĩ Kỳ 1991, 1997, 2002
 Anh Quốc 1981, 1983, 1984

Đại diện Việt Nam[sửa | sửa mã nguồn]

Year Miss World Vietnam Hometown Placement in Miss World Special awards
Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland 2002 Phạm Thị Mai Phương Hải Phòng Top 20 Semi-finalist None
Trung Quốc 2003 Nguyễn Đình Thụy Quân Thành phố Hồ Chí Minh Did not place None
Trung Quốc 2004 Nguyễn Thị Huyền Hải Phòng Top 15 Semi-finalist None
Trung Quốc 2005 Vũ Hương Giang Hà Nội Did not place None
Ba Lan 2006 Mai Phương Thúy Hà Nội Top 17 Semi-finalist People's Choice Award

World Fashion Designer Dress Award (Top 20)

Trung Quốc 2007 Đặng Minh Thu Nam Định Did not place None
Cộng hòa Nam Phi 2008 Dương Trương Thiên Lý Đồng Tháp Did not place People's Choice Award

Miss Golf Sport

Cộng hòa Nam Phi 2009 Trần Thị Hương Giang Hải Dương Top 16 Semi-finalist Top Model (1st Runner-up)

Beach Beauty (Top 12)

Trung Quốc 2010 Nguyễn Ngọc Kiều Khanh Munich, Germany Did not place None
Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland 2011 Victoria Phạm Thúy Vy California, USA Did not place None
Trung Quốc 2012 Vũ Thị Hoàng My Đồng Nai Did not place Beach Beauty (Top 40)

Best in Interview (Top 30)

Indonesia 2013 Lại Hương Thảo Quảng Ninh Did not place None
Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland 2014 Nguyễn Thị Loan Thái Bình Top 25 Semi-finalist Sport & Fitness (Top 30)

Beauty with Purpose (Top 20)

Trung Quốc 2015 Trần Ngọc Lan Khuê Thành phố Hồ Chí Minh Top 11 Semi-finalist People's Choice Award

World Fashion Designer Dress Award

Top Model (Top 30)

 2016 Trương Thị Diệu Ngọc Đà Nẵng TBA TBA

- Năm 2007, Hoa hậu Thế giới người Việt 2007 Ngô Phương Lan được đề cử dự thi nhưng cô đã từ chối do bận việc học. Á hậu 1 Hoa hậu thế giới người Việt 2007 Teresa Sam cũng không thể thay thế dự thi bởi cô không mang quốc tịch Việt Nam. Cuối cùng, Á hậu 2 Hoa hậu thế giới người Việt 2007 Đặng Minh Thu trở thành đại diện Việt Nam tại cuộc thi hoa hậu Thế giới năm 2007

- Năm 2008, Hoa hậu Việt Nam 2008 Trần Thị Thuỳ Dung do gặp trục trặc về vấn đề cô chưa tốt nghiệp Trung học Phổ Thông nên Á hậu 2 Hoa hậu Hoàn vũ Việt Nam 2008 Dương Trương Thiên Lý đã thay thế cô dự thi Hoa hậu Thế giới 2008.

- Năm 2009, Á hậu 2 Hoa hậu VN toàn cầu 2009 Trần Thị Hương Giang, Hoa hậu Du lịch Việt Nam 2008 Phan Thị Ngọc DiễmHoa hậu phụ nữ Việt Nam Qua Ảnh 2006 Dương Thị Mỹ Linh được xem xét lựa chọn ai sẽ đại diện Việt Nam tại cuộc thi Hoa hậu Thế giới năm 2009. Sau khi vượt qua nhiều ứng cử viên nặng ký Trần Thị Hương Giang trở thành đại diện chính thức của Việt Nam tại cuộc thi này.

- Năm 2011, Theo thông tin công bố trên website cuộc thi thì đại diện Việt Nam xếp hạng 76 trong tổng số thí sinh dự thi.

- Năm 2012, Sau khi vượt qua 2 ứng cử viên nặng ký (Hoa hậu Việt Nam 2008 Trần Thị Thuỳ Dung, Hoa hậu Thế giới người Việt 2010 Lưu Thị Diễm Hương) Á hậu 1 Hoa hậu Việt Nam 2010 Vũ Thị Hoàng My chính thức trở thành đại diện của Việt Nam tại cuộc này.

- Năm 2013, Hoa khôi thể thao Lại Hương Thảo chính thức đeo tấm sash của Việt Nam tại Miss World 2013

- Năm 2014, Á hậu 2 các dân tộc Việt Nam 2013 Nguyễn Thị Loan giành tấm vé đại diện Việt Nam tham dự Miss world. Tại đây, cô vinh dự ghi danh trong top 25 Miss World 2014 (xếp hạng 12/121).

- Năm 2014, Việt Nam chính thức tổ chức cuộc thi Hoa khôi áo dài Việt Nam - Đường đến vương miện hoa hậu thế giới (gọi tắt là Miss World Việt Nam) nhằm tìm ra đại diện thiện chiến cho Việt Nam tại Miss World 2015 và người đẹp Trần Ngọc Lan Khuê đã xuất sắc giành vương miện của Hoa khôi áo dài mùa đầu tiên (á khôi 1 Phạm Hồng Thúy Vân, á khôi 2 Nguyễn Thị Lệ Quyên) và được quyền chinh chiến tại đấu trường sắc đẹp lớn nhất hành tinh.Tại đây, cô đã xuất sắc ghi tên mình vào top 11 (giải People's choice) nối tiếp thành công in-top của Nguyễn Thị Loan năm ngoái.

- Năm 2016, người đẹp Trương Thị Diệu Ngọc vượt qua 18 thí sinh khác để giành lấy vương miện Hoa khôi áo dài mùa 2 và được quyền đại diện cho Việt Nam tại Miss World

Có thể bạn chưa biết[sửa | sửa mã nguồn]

Cuộc thi Hoa hậu Thế giới từng gây ra nhiều tranh cãi từ khi ra đời.

  • Năm 1970, người biểu tình đã ném bom bột mì để phản đối trong suốt quá trình truyền hình trực tiếp tại Royal Albert Hall ở Luân Đôn. Danh hài Bob Hope đã nói đùa rằng " Đây có phải bản sao của Việt Nam không?" (Việt Nam đang trong thời kì chiến tranh lúc bấy giờ.)[12][13]
  • Năm 1973, Marjorie Wallace, người Mỹ đầu tiên chiến thắng trong cuộc thi Hoa hậu đã không hoàn thành nhiệm vụ và chỉ giữ được vương miện có 104 ngày. Ban tổ chức thông báo Cô Wallace "đã không hoàn thành các nhiệm vụ cơ bản được giao." Trách nhiệm của công việc từ thiện được chuyển sang cho Á hậu 1 Evangeline Pascual đến từ Philippines.
  • Helen Morgan đại diện cho Vương quốc Anh chiến thắng năm 1974 đã từ bỏ ngôi vị sau 4 ngày giữ vương miện khi bị phát hiện là bà mẹ độc thân.
  • Năm 1976, một số quốc gia tẩy chay cuộc thi, bởi vì có một người da trắng và một người da đen đại diện cho Nam Phi. Để chống lại tình trang phân biệt chủng tộc khủng khiếp ở quốc gia của mình, Nam Phi đã ngừng tham dự cuộc thi từ năm 1977, trước khi tiếp tục tham dự trở lại vào năm 1991 vì vấn đề chính trị đã thay đổi.
  • Gabriella Brum từ Đức chiến thắng năm 1980 bỏ ngôi sau một ngày giữ vương miện, thông tin ban đầu là do bạn trai của cô không đồng ý. Một vài ngày sau bắt đầu xuất hiện thông tin cô từng chụp hình khoả thân cho các tạp chí.[14]
  • Năm 1996, một cuộc chống đối với quy mô lớn diễn ra tại Bangalore, Ấn Độ. Phần thi áo tắm được chuyển đến quần đảo Seychelles, và được bảo vệ nghiêm ngặt. Bất chấp hỗn loạn, buổi truyền hình trực tiếp chung kết của cuộc thi vẫn suôn sẻ.[15][16][17]
  • Chỉ vài ngày sau khi chiến thắng trong năm 1998, Linor Abargil từ Israel cho biết cô đã bị cưỡng hiếp chỉ hai tháng trước khi cuộc thi này diễn ra. Người đàn ông cưỡng hiếp cô đã chịu sự trừng phạt của pháp luật.[18]
  • Hoa hậu Thế giới 1983 có thí sinh Unnur Steinsson từ Iceland đã mang thai ba tháng khi tham gia cuộc thi (chung kết diễn ra ngày 17/11/1983) đã vi phạm các nguyên tắc cấm là không được kết hôn hoặc có thai. Tuy nhiên, điều đó đã không được phát hiện khi bà tham dự cuộc thi mặc dù bà lọt vào chung kết và là người Iceland đầu tiên lọt vào Top 5. Con gái bà, sinh ngày 25/05/1984 và có tên là Unnur Birna Vilhjálmsdóttir, 22 năm sau đã đăng quang Hoa hậu Thế giới 2005 và Hoa hậu Thế giới Bắc Âu 2005. Steinsson cũng tham dự cuộc thi Hoa hậu Trẻ Quốc tế 1980 tổ chức tại Manila. Bà cũng tham dự cuộc thi Hoa hậu Hoàn vũ 1983. Cả hai mẹ con bà đều là diễn viên.

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]

5 cuộc thi hoa hậu lớn nhất thế giới

Hoa hậu Hoàn vũ | Hoa hậu Thế giới | Hoa hậu Quốc tế | Hoa hậu Trái đất | Nữ hoàng Du lịch Quốc tế |