Người Thái (Thái Lan)

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Thái
คนไทย
Khon
Vũ điệu Khon được trình diễn tại Frankfurt, Đức
Tổng số dân
khoảng 52–59 triệu[a]
Khu vực có số dân đáng kể
 Thái Lan k. 51–57.8 triệu[nb 1][1][2][3]
Thái kiều
k. 1.1 triệu
 Hoa Kỳ 247,205[4] (2015)
 Hàn Quốc 92,417[5] (2016)
 Úc 72,250[6] (2016)
 Đài Loan 64,360[7] (2016)
 Đức 58,765[8] (2016)
 Malaysia 51,000[9] (2012)
 Singapore 47,700[9] (2012)
 Nhật Bản 47,647[10] (2016)
 Thụy Điển 39,877[11] (2016)
 Anh 39,000[12] (ước lượng, 2015)
 Pháp 30,000[9] (2012)
 Hồng Kông 28,336[9] (2012)
 Israel 28,000[9] (2011)
 Libya 24,600[9] (2011)
 Hà Lan 20,106[13] (2017)
 Na Uy 18,324[14] (2016)
 Lào 15,497[15] (2015)
 UAE 14,232[9] (2012)
 Đan Mạch 12,137[16] (tháng 1 năm 2017)
 Ả Rập Xê Út 11,240[9] (2012)
 Canada 10,015[17] (2006)
 Thụy Sĩ 9,058[18] (2015)
 Phần Lan 9,047[19] (2016)
 Trung Quốc 8,618[9] (2012)
 New Zealand 8,500[9] (2012)
 Ý 5,766[20] (2016)
 Brunei 5,466[9] (2012)
 Bỉ 3,811[9] (2012)
 Áo 3,773[9] (2012)
 Ấn Độ 3,715[9] (2012)
 Nam Phi 3,500[9] (2012)
Ngôn ngữ
Tiếng Thái: Thái Trung tâm (Thái tiêu chuẩn), Thái Nam, Thái Isản, Thái Làn Nà
Tôn giáo
Phật giáo - Thượng tọa bộ
Sắc tộc có liên quan
Các sắc tộc Tai khác, ví dụ: Lào, Shan, Tráng, Tai Ahom, Tai Phake, Tai Đăm, Tai Khao

Người Thái, hay còn gọi là người Xiêm trước kia, một dân tộc phân nhóm của nhóm sắc tộc Thái, là dân tộc chiếm đa số sống tại lãnh thổ Thái Lan và một số khu vực miền nam Trung Quốc.

Ngôn ngữ chính thức là tiếng Thái trung hay tiếng Xiêm. Tuy nhiên các nhóm địa phương ở Thái Lan vẫn có ngôn ngữ riêng của mình và các ngôn ngữ này có quan hệ gần gũi với ngôn ngữ chính thức. Tất cả chúng đều được phân loại vào hệ ngôn ngữ Tai-Kadai. Phần lớn người Thái theo Phật giáo Thượng tọa bộ. Người Thái phân làm bốn nhóm: Thái Trung tâm, Thái Nam (Tai), Thái Đông Bắc (Isản), Thái Bắc (Làn Nà).

Lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

Đã có nhiều giả thuyết đề xuất nguồn gốc của nhóm sắc tộc Tai-Kadai — mà trong đó Thái là một phân nhóm — bao gồm mối quan hệ giữa tập đoàn người Tai với vương quốc Nam Chiếu, nhưng bị bác bỏ và thiếu căn cứ. Các nghiên cứu ngôn ngữ cho thấy[21] rằng nguồn gốc của người Tai nằm quanh tỉnh Quảng Tây, nơi mà người Tráng vẫn chiếm đa số. Cũng có các giả thuyết khác rằng người Tai đã sáng lập nên vương quốc Nam Việt, vương quốc đã cai trị phần lớn phía nam Trung Quốc và phía bắc Việt Nam trong một thế kỷ. Nhà Tần lập nên tỉnh Quảng Đông năm 214 TCN, bắt đầu những làn sóng di cư từ bắc vào nam của người Hán. Với áp lực chính trị và văn hoá từ phía Bắc, một số dân tộc Tai cũng di cư về phía nam[22], nơi họ gặp gỡ được những nền văn hóa Ấn Độ cổ điển. Theo các bằng chứng ngôn ngữ và lịch sử, cuộc di cư về phía tây nam của những người nói tiếng Tai-Môn đã diễn ra vào thế kỷ thứ VIII cho đến thế kỷ thứ X.[23]

Bắt đầu từ thế kỷ thứ X trở đi, người Tai từ phía bắc dần dần định cư tại thung lũng Chao Phraya, vùng đất thuộc dòng văn hóa Dvaravati, đồng hóa người Mônngười Khmer, ngoài ra cũng giao thiệp với Đế quốc Khmer. Những người Tai đã định cư đến vùng đất thuộc Thái Lan ngày nay theo Phật giáo Thượng Tọa Bộ. Do đó, văn hóa của người Thái là sự pha trộn giữa Tai với Ấn, MônKhmer.[24]

Những lãnh thổ chủ quyền đầu tiên của người Thái bao gồm vương quốc SukhothaiSuphan Buri. Vương quốc Lavo, nơi từng là trung tâm của nền văn hóa Khmer tại thung lũng Chao Praya, cũng là nơi tập trung của người Thái. Đôi khi một số lãnh thổ của người Thái cũng chịu dưới sự kiểm soát của Angkor cai trị bởi một số vị quân chủ người Khmer (bao gồm Suryavarman IIJayavarman VII), tuy nhiên, hầu như những lãnh thổ này hầu như độc lập trên thực tế.

Vương quốc Ayutthaya — được đặt tên theo thành phố Ayodhya của Ấn Độ —, thành bang kiến lập bởi Ramathibodi I, nổi lên như trung tâm của sự phát triển của người Thái năm 1350. Ayutthaya tiếp tục những cuộc chinh phạt về phía đông nhằm vào đế quốc Khmer đã suy yếu thực sự từ sau năm 1431 với sự thất bại của Angkor.

Các dân tộc khác sống dưới sự cai trị của người Thái — mà phần lớn là Môn, KhmerLào cũng như những người nhập cư từ Trung Quốc, Ấn Độ hoặc các tín đồ Hồi Giáo — vẫn tiếp tục bị đồng hóa bởi người Thái, nhưng đồng thời họ cũng gây ảnh hưởng và tác động đến văn hóa, triết học, kinh tếchính trị. Trong một bài viết mang tên Jek pon Lao (เจ้กปนลาว—Trung Quốc lai tạo với Lào, Trung lai Lào) của mình, Sujit Wongthet, người thừa nhận mình là một người Trung lai Lào (Jek pon Lao), nói rằng người Thái ngày nay thực tế là những người gốc Hán lai với Lào.[25][26] Ông nhấn mạnh rằng người Thái không còn là một sắc tộc được xác định rõ ràng mà đã là một sắc tộc bao gồm nhiều sắc tộc và nền văn hóa khác.[25][27] Nhóm lớn nhất và có ảnh hưởng nhất là người Thái có nguồn gốc Trung Quốc. [cần dẫn nguồn] Cũng trong bài viết khác vị thế của những ngôn ngữ không phải tiếng Thái tại Thái Lan - the positions of non-Thai languages in Thailand (2007) của Theraphan Luangthongkum, một nhà ngôn ngữ học người Thái chuyên khai thác về đề tài Trung Quốc, có nói rằng 40% người Thái là hậu duệ sau này của những người di cư từ Trung Quốc sang từ nhiều thế kỷ trước.[28]

Cho dù những cuộc chiến lác đác và lẻ tẻ vẫn thường xuyên xảy ra giữa người Thái và Miến Điện và các nước láng giềng khác, chiến tranh giữa Trung Quốc với Miến Điện cùng với sự can thiệp của châu Âu vào các nước Đông Nam Á khác cho phép người Thái phát triển đất nước của họ theo một đường lối độc lập bằng cách giao thương với châu Âu cũng như đóng vai trò lớn chống lại nhau để duy trì sự độc lập. Vương triều Chakri dưới sự cai trị của Rama I luôn luôn khiến cho người Miến Điện không thể xâm lược, trong khi Rama IIRama III thì lại giúp định hình xã hội Thái bấy giờ, nhưng cũng dẫn đến những thất bại của người Thái khi các đế quốc thực dân châu Âu đương thời luôn lấy những vùng đất và quốc gia láng giềng của Xiêm làm mục tiêu và cản trở người Thái tuyên bố chủ quyền đối với Campuchia, đất nước bị tranh chấp ách thống trị giữa Xiêm, Việt NamMiến Điện.

Địa lý và nhân khẩu học[sửa | sửa mã nguồn]

Đại đa số bộ phận người Thái phân bố tại Thái Lan, tuy nhiên một số khác cũng phân bố tại một số nước cùng khu vực. Có khoảng 51–57 triệu người Thái sinh sống tại Thái Lan.

Văn hóa và xã hội[sửa | sửa mã nguồn]

Bài chi tiết: Văn hóa Thái Lan

Tôn giáo[sửa | sửa mã nguồn]

Người Thái chủ yếu theo Phật giáo Thượng Tọa Bộ (Phật giáo Nguyên thủy). Hơn 90% tổng số người dân Thái Lan thừa nhận họ là tín đồ Phật giáo. Ngoài ra, Cơ Đốc giáo và các tôn giáo khác như Ấn Độ giáoHồi giáo cũng là những tôn giáo phổ biến tại Thái Lan.

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Ghi chú[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Con số được ước lượng.
  1. ^ Người Thái chiếm khoảng 75-85% dân số toàn Thái Lan (68 triệu).

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ McCargo, D.; Hongladarom, K. (2004). “Contesting Isan‐ness: Nghị luận về chính trị và nhận diện tại Đông Bắc Thái Lan” (PDF). Dân tộc châu Á 5 (2): 219. doi:10.1080/1463136042000221898. 
  2. ^ David Levinson (1998), Các nhóm sắc tộc trên toàn thế giới: Sổ tay, Oryx Pres, tr. 287, ISBN 1573560197 
  3. ^ Paul, Lewis M.; Simons, Gary F.; Fennig, Charles D. (2013), Ethnologue: Các ngôn ngữ trên thế giời, SIL International, ISBN 978-1-55671-216-6 
  4. ^ “Tổng số dân nhập cư tại Hợp Chủng Quốc theo quốc gia, 2000-nay” (XLSX). migrationpolicy.org. Truy cập 14 tháng 2, 2017. 
  5. ^ “Quản lý xuất nhập cảnh Hàn Quốc”. immigration.go.kr (bằng tiếng Hàn). 3 tháng 7, 2016. 
  6. ^ “Tổng dân số dự kiến theo quốc gia, 30 tháng 6, 1992 đến 2016”. stat.data.abs.gov.au. Truy cập 6 tháng 4, 2017. 
  7. ^ “Dân số ngoại quốc định cư theo quốc tịch (01/25/2017)”. immigration.gov.tw (bằng tiếng Trung). 31 tháng 12, 2016. 
  8. ^ “Ausländische Bevölkerung 2008 bis 2016” (PDF). Destatis. Truy cập 14 tháng 7, 2017. 
  9. ^ a ă â b c d đ e ê g h i k l m “รายงานจำนวนประมาณการคนไทยในต่างประเทศ 2012” (PDF). consular.go.th (bằng tiếng Thái). 5 tháng 3, 2012. 
  10. ^ “MOFA 2017 タイ王国(Vương quốc Thái Lan)”. Bộ Ngoại giao (Nhật Bản) (bằng tiếng Nhật). Truy cập 14 tháng 7, 2017. 
  11. ^ “Người ngoại quốc sống tại Thụy Điển - Tổng dân số theo quốc gia, độ tuổi và giới tính. 2000 - 2016”. Cục Thống kê Thụy Điển. 8 tháng 6 năm 2017. Truy cập 13 tháng 7, 2017. 
  12. ^ “Tổng dân số Vương quốc liên hiệp Anh và Bắc Ireland theo quốc gia sinh và quốc tịch 2015”. ons.gov.uk. 25 tháng 8, 2016. Truy cập 21 tháng 2, 2017. 
  13. ^ “Bevolking; generatie, geslacht, leeftijd en herkomstgroepering”. statline.cbs.nl (bằng tiếng Hà Lan). 18 tháng 7, 2017. 
  14. ^ “Befolkningen etter innvandringskategori og landbakgrunn (Innvandrere og Norskfødte med innvandrerforeldre)”. ssb.no (bằng tiếng Na Uy). 3 tháng 3, 2016. Truy cập 21 tháng 2, 2017. 
  15. ^ “Bảng P4.8 Tổng số dân bằng hoặc hơn 10 tuổi nhập cư từ nước ngoài theo quốc gia và tỉnh gốc” (PDF). lsb.gov.la. Truy cập 14 tháng 2, 2017. 
  16. ^ “FOLK2 Folketal 1. januar efter køn, alder, herkomst, oprindelsesland og statsborgerskab (1980-2017)”. statistikbanken.dk (bằng tiếng Đan Mạch). Truy cập 20 tháng 2, 2017. 
  17. ^ “Ethnic origins, 2006 counts, for Canada, provinces and territories”. statcan.ca. 6 tháng 10, 2010. 
  18. ^ “Ständige ausländische Wohnbevölkerung nach Staatsangehörigkeit”. bfs.admin.ch (bằng tiếng Đức). 26 tháng 8, 2016. 
  19. ^ “Väestö kielen mukaan”. stat.fi (bằng tiếng Finnish). 3 tháng 4, 2017. Truy cập 6 tháng 4, 2017. 
  20. ^ “Cittadini Stranieri. Popolazione residente per sesso e cittadinanza al 31 dicembre 2016”. Istat (bằng tiếng Ý). Truy cập ngày 14 tháng 7 năm 2017. 
  21. ^ Luo, Wei; Hartmann, John; Li, Jinfang; Sysamouth, Vinya (tháng 12 năm 2000). “Lập bản đồ GIS, phân tích các mô hình ngôn ngữ học và sự tập trung ở miền nam Trung Quốc” (PDF). Địa tin học (DeKalb: Đại học Bắc Illinois) 6 (2): 129–136. Truy cập 28 tháng 5, 2013. Trừu tượng. Bằng cách tích hợp thông tin ngôn ngữ và các đặc điểm địa lý vật lý trong môi trường GIS, bài báo này mô tả sự thay đổi về không gian của các thuật ngữ liên quan đến việc trồng lúa nước của các sắc tộc Tai ở phía nam Trung Quốc và cho thấy rằng nguồn gốc của người Tai nguyên thủy nằm ở khu vực Quảng Tây-Quý Châu, chứ không phải là Vân Nam hoặc khu vực trung lưu sông Dương Tử như mọi người thường đề xuất.... 
  22. ^ Du Yuting; Chen Lufan (1989). “Có phải cuộc chinh phạt vương quốc Đại Lý của Hốt Tất Liệt đã khiến cho làn sóng di cư về nam của người Thái trở nên ồ ạt hơn” (PDF). Journal of the Siam Society (Siam Heritage Trust). JSS Vol. 77.1c (digital). image 7 of p. 39. Truy cập 17 tháng 3, 2013. 
  23. ^ Pittayaporn, Pittayawat (2014). Layers of Chinese Loanwords in Proto-Southwestern Tai as Evidence for the Dating of the Spread of Southwestern Tai. MANUSYA: Journal of Humanities, Special Issue No 20: 47-64.
  24. ^ Charles F. Keyes (1997), “Sự đa dạng về văn hóa và đặc tính quốc gia ở Thái Lan”, Government policies and ethnic relations in Asia and the Pacific (MIT Press): 203 
  25. ^ a ă Thak Chaloemtiarana. Chúng ta có phải là họ? Đại diện nguyên văn và văn học của người Trung Quốc tại Thái Lan thế kỷ 20. CHINESE SOUTHERN DIASPORA STUDIES, VOLUME SEVEN, 2014-15, p. 186.
  26. ^ Baker, Chris; Phongpaichit, Pasuk. A History of Thailand. Cambridge University Press (2009), p. 206. ISBN 978-1-107-39373-8.
  27. ^ Thak Chaloemtiarana (2007), Thái Lan: Chính trị chủ nghĩa vô thần dã man, Ithaca, NY: Cornell Southeast Asia Program, tr. 245–246, ISBN 978-0-8772-7742-2 
  28. ^ Theraphan Luangthongkum (2007), “Vị thế của những ngôn ngữ không phải tiếng Thái tại Thái Lan”, Language, Nation and Development in Southeast Asia (ISEAS Publishing): 191