Ẩm thực Thái Lan

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Ẩm thực Thái Lan
Pad Thai.JPG
Tên gọi: Ẩm thực Thái Lan

Ẩm thực Thái Lan (tiếng Thái: อาหารไทย) là sự hòa trộn tinh tế của thảo dược, gia vịthực phẩm tươi sống với những phong cách nấu nướng đặc biệt. Mỗi món ăn hay toàn thể bữa ăn đều có sự phối trộn tinh tế giữa vị cay, chua, ngọt và đắng. Ẩm thực Thái Lan là một phần của văn hóa Thái Lan và trở thành một trong những yếu tố thu hút khách du lịch.

Một món ăn có sử dụng nước cốt dừa khá béo

Người Thái Lan quan niệm bữa ăn là nơi giao tiếp thân mật của mọi người. Trong bữa ăn, món ăn chính là cơm tẻ hoặc xôi, ăn cùng với nhiều món được chế biến theo các cách khác nhau, theo khẩu vị của mỗi vùng. Đó là các món súp, cà ri, các món hầm hoặc rán, salad và thêm một hay nhiều thứ nước chấm cơ bản như nước mắmớt. Người Thái Lan ăn tráng miệng bằng hoa quả tươi hay những loại bánh truyền thống. Đặc biệt, người Thái Lan coi thú ẩm thực là cách giải trí ưa thích nhất. Mỗi miền có một cách ăn và chế biến món ăn riêng. Khi chúng ta nói đến “Ẩm thực Thái Lan”, thực tế là chúng ta đang nói đến 4 vùng miền ẩm thực khác biệt của Thái, mỗi vùng miền lại có một nét đặc trưng riêng trong cách chế biến truyền thống của họ.

Đây là Somtam - Gỏi đu đủ - món ăn quen thuộc của người Thái Lan

Ngoài ra khi nhắc đến ẩm thực Thái Lan chúng ta cũng phải nhắc đến ẩm thực cung đình Xiêm trước kia, ban đầu chỉ phổ biến trong hoàng tộc, ngày nay nó được lưu truyền rộng rãi.

Phong cách[sửa | sửa mã nguồn]

Ảnh hưởng[sửa | sửa mã nguồn]

Ẩm thực Thái Lan chịu ảnh hưởng từ ẩm thực của các nước lân cận như Trung Quốc, Ấn Độ, Malayxia, Myanma, v.v... Vùng Đông Bắc Thái Lan thì mang đậm phong cách tương tự Lào. Vùng núi phía Bắc mang đậm phong cách Myanma, trái lại vùng phía nam Thái Lan chịu ảnh hưởng của ẩm thực Hồi Giáo từ Maylaysia. Riêng vùng núi Korat vùng phía Đông ảnh hưởng của Campuchia.

Ớt sừng trâu- loại gia vị phổ biến trong hầu hết các món ăn Thái

Vị chính[sửa | sửa mã nguồn]

Món ăn Thái Lan mang nhiều hương vị khác nhau và mang 3 vị chính là : cay, chuangọt.

Tính cộng đồng[sửa | sửa mã nguồn]

Cùng nhau chia sẻ các bữa ăn chính là một yếu tố quan trọng trong đời sống hàng ngày của người Thái. Rất hiếm khi họ ăn một mình. Điều đó giải thích tại sao trong bữa ăn các món ăn được bày ra cùng một lúc và tại sao người Thái lại sử dụng chung một cái muôi[1] cho mỗi đĩa thức ăn.

Ẩm thực các miền[sửa | sửa mã nguồn]

Miền Trung[sửa | sửa mã nguồn]

Người dân ở đây thích ăn các loại cơm gạo tẻ thơm. Cơm là món chính đối với tất cả các gia đình miền Trung Thái Lan. Trung bình có từ 3 đến 5 món ăn như Kang Phed (cà ri đỏ Thái), Tom Yam (canh chua), rau, nước mắm, cá trích, trứng rán theo kiểu Thái, thịt lợn nướng. Đồ ăn Thái –Trung Quốc phổ biến ở các thành phố như Bangkok, đặc biệt là các món mì. Miền Trung cũng có những món ăn theo kiểu Hoàng gia, được chế biến phức tạp hơn các món ăn thông thường. Do chịu ảnh hưởng của món ăn trong cung vua nên phong cách nghệ thuật nấu nướng rất cầu kỳ. Người Thái ở miền Trung thích ăn món nấu mềm và nhừ với một chút vị ngọt. Cách bày biện món ăn cũng mang tính nghệ thuật. Bàn ăn thường được trang trí với rau và hoa quả tỉa. Ẩm thực miền Trung đôi khi là sự kết hợp những món ăn ngon nhất của các vùng khác. Tại miền Trung, người ta có thể tìm thấy mọi món ăn, và tại miền Trung, các món ăn vùng miền khác đạt đến tiêu chuẩn của nó.

Miền Bắc[sửa | sửa mã nguồn]

Tom yam - canh chua tôm, món ăn khá phổ biến

Ẩm thực miền Bắc hầu như mang đậm phong cách Myanma. Món ăn miền Bắc được nấu theo hương vị riêng, bữa ăn thông thường gồm có xôi, nhiều loại nước chấm khác nhau như namprik [2] noom, namprik dang, namprik ong và các loại xúp cay (kang) [3] như kang hangle, kang hoh, kang kae. Ngoài ra còn có xúc xích địa phương như sai ua, nham, thịt hầm, lợn nướng, lợn rán, gà rán và rau đi kèm. Món ăn miền Bắc khác biệt với các vùng khác. Xôi là món ăn được ưa thích; khi ăn, người ta thường nắm thành nắm tròn nhỏ. Món cà ri của miền Bắc ít cay hơn so với miền Trung và Đông Bắc Thái Lan.

Có thể thấy được ảnh hưởng của nước láng giềng Myanma lên một số món ăn phổ biến như: kaeng hang le, một món cà ri chế biến từ thịt lợn, gừng, me, nghệ và món khao soy, cũng là một món cà ri nấu với mì trứng, thịt, nhưng khi chín cho thêm hành tây, bắp cải dầm giấm và lá chanh thái chỉ. Người miền Bắc thích món ăn nấu vừa chín tới với một chút vị mặn và hầu như không có vị ngọt và chua. Họ thích ăn thịt lợn nhất sau đó là thịt bò, thịt gà, thịt vịt, thịt chim v.v...

Miền Đông Bắc[sửa | sửa mã nguồn]

Prik khi nu - ớt hiểm (ớt chuột) - gia vị cay xé lưỡi có thể tìm thấy trong rất nhiều món ăn Thái.

Nhiều món ăn của miền Đông Bắc thể hiện những ảnh hưởng của nước láng giềng Lào. Xôi là món ăn chính, thường ăn cùng với thịt, tiết lợn, nộm đu đủ, cá nướng, gà nướng... Món ăn của miền này thường ăn với món som tam [4] và món kai yang (gà nướng). Vì các loại thịt gia súc và gia cầm ít nên cá nước ngọt và tôm là nguồn cung cấp prôtêin chủ yếu. Người vùng Đông Bắc thích ăn thịt rán như thịt cóc, thằn lằn, rắn, chuột đồng, kiến đo, côn trùng... Thịt lợn, bò, gà cũng rất được ưa thích.

Miền Nam[sửa | sửa mã nguồn]

Ở miền Nam, dừa đóng vai trò quan trọng trong nhiều món ăn. Nước cốt dừa đun nóng được rưới vào xúp và cà ri. Dầu dừa dùng để rán. Cùi dừa làm gia vị. Hải sản tươi sống phổ biến như: , tôm, tôm hùm, cua, mực ống, , trai. Hạt điều có rất nhiều ở vùng này, dùng để ăn như món khai vị hoặc rán với thịt gà và ớt khô, cũng như loại đậu cay sator được người miền Nam ưa thích bởi vị hơi đắng. Đồ ăn Thái-Trung Quốc cũng phổ biến ở các thành phố lớn.

Ẩm thực miền Nam là sự kết hợp ảnh hưởng của các nước như Ấn Độ hay Inđônêxia như món cà ri Massaman (kaeng matsaman), món cà ri mang phong cách Ấn Độ nấu cùng bạch đậu khấu, đinh hương, quế và những xiên thịt nướng với nước xốt đậu phộng cay bắt nguồn từ Inđônêxia. Món ăn miền Nam có xu hướng cay nóng hơn nhiều so với món ăn ở các vùng khác của Thái Lan. Các món ăn mang hương vị đặc biệt của miền Nam là các món canh (xúp cay hay cà ri) như kang liang, kang tai plaxốt budu. Món khao yam[5], là một món ăn ngon của người miền Nam có vị mặn nên món khao yam được ăn cùng rau.

Pad Thai - mì xào Thái

Gia vị[sửa | sửa mã nguồn]

Một trong những nét vô cùng đặc sắc của ẩm thực Thái là cách dùng các loại rau thơm hay rau sống và các loại gia vị. Riêng về cách dùng gia vị, có một số món ăn cực kỳ cay, nhưng không có nghĩa là món nào cũng cay cả. Chính các gia vị đã làm nên điều đặc biệt của món ăn Thái. Hầu như món ăn nào người Thái cũng cho gia vị. Ớt hầu như là gia vị chủ đạo trong hầu hết các món ăn của Thái.

Một món ăn vùng Isan

Tinh dầu hoa nhài, nụ hoa sen, rau muống, đinh hương, nghệ tây, vừng và rất nhiều các thảo mộc và gia vị khác đem lại những hương vị tuyệt vời cho ẩm thực Thái Lan với nhiều hình thức chế biến khác nhau, thêm vào chất bổ dưỡng cho các món ăn.

Gà rán satế

Rau thơm[sửa | sửa mã nguồn]

Các loại rau thơm có tác dụng làm tăng thêm mùi vị cho món ăn và ngoài ra chúng có các tác dụng về mặt chữa bệnh. Trở lại thời kỳ xa xưa, Thái Lan có một lịch sử lâu dài về việc thảo mộc làm thuốc chữa bệnh và dần dần ngấm vào trong nghệ thuật ẩm thực. Các món ăn của Thái đều chứa hàm lượng chất béo thấp và chế biến từ các nguyên liệu tươi, điều này làm cho các món ăn Thái có lợi cho sức khoẻ. Ngoài việc ẩm thực Thái Lan là ăn ngon, ẩm thực Thái còn có tác dụng chữa bệnh.

Điều làm cho ẩm thực Thái ngày càng nổi tiếng thế giới chính là giá trị y học của các loại thảo mộc và các loại gia vị ngày càng được quốc tế quan tâm đến. Một số lớn các loại gia vị và thảo mộc là giống bản địa của đất nước này, nhưng một số lượng lớn hơn lại được mang từ nơi khác đến và được trồng tại đây từ xa xưa. Chúng được sử dụng rất lâu đời như các vị thuốc và dĩ nhiên các đầu bếp hiểu giá trị chữa bệnh của các loại thảo mộc và gia vị cũng như hương vị của chúng.

Khao Mun Kay - cơm gà

Chanh là loại gia vị mà người Thái ưu ái. Trong chả cá tod man plo của họ cũng nặng mùi lá chanh. Chanh được vắt vào rất nhiều món ăn, vỏ và lá của cây trấp (hay còn gọi là loại chanh kaffir) thì là nguyên liệu chế biến và để trang trí lên món ăn.

Trong bất kể hình thức nào, cây rau mùi (Coriandrum sativum) là một loại rau thơm được sử dụng nhiều nhất trong các món ăn. Lá với hương thơm đặc trưng được dùng trong vô số các món ăn, rễ được giã với tỏi và hạt tiêu đen để làm gia vị, trong khi đó hạt cũng được làm gia vị và nguyên liệu cho món ăn.

Húng cũng là một thứ không thể thiếu được, với 3 loại thường thấy: hương nhu trắng (hay é lớn lá, tên khoa học: Ocimum gratissimum) thường xuất hiện trong món súp và hải sản, húng quế chanh (Ocimum × citriodorum) lá nhỏ hơn thường đi kèm với món súp và là một thành phần của món xa lát và húng quế khác thì lại có trong các món xào.

bạc hà lục (Mentha spicata) được dùng trong các món xa lát và thường làm rau sống, như cây bạc hà.

Trứng gà nướng kiểu Thái

Củ sả là một nguyên liệu đồng hành với hầu hết các món ăn của Thái và cũng chính là tên của một nhà hàng nổi tiếng và được cho cùng với tinh dầu quýt để làm cho nên vị của món tom yam, món ăn quốc gia của Thái.

Cà cuống chiên giòn

Gừng được để tươi hay nghiền bột và riềng củ được cho vào món súp và cà ri. Cùng họ với gừng, nghệ đem lại màu vàng cam cho các món ăn miền Bắc Thái. Cây thì là, quếbạch đậu khấu được nhập cư từ Ấn Độ và được đem vào chế biến trong các món cà ri của Thái. Tỏi được dùng số lượng lớn cùng với hẹ. Hành thì có thể ăn sống hoặc nấu. Hành tím làm vỏ bọc hấp dẫn cho miếng thịt gà hay sườn lợn. Hạt tiêu đã từng được tin là đem lại sức nóng cho các món ăn trước khi ớt được nhập đến Thái Lan. Và nó luôn được coi là một gia vị rất quan trọng.

Ớt chính là gia vị chính trong các bữa ăn ở Thái. Cây ớt không phải xuất xứ từ Thái Lan mà được các thương nhân người Bồ Đào NhaTây Ban Nha mang đến từ Bắc Mỹ vào khoảng thế kỷ 16, 17. Ngày nay, tại Thái Lan có nhiều loại ớt được trồng khắp cả nước và chiếm ưu thế hơn hẳn là 3 loại ớt: phrik yuak (ớt chuối) - loại ớt to, được thấy rất nhiều ở Vân Nam, Trung Quốc, Lào, Thái Lan); phrik chi fa (ớt chỉ thiên, dài và mảnh có 3 màu đỏ, vàng và xanh); và loại ớt nổi tiếng prik khi nu (ớt phân chuột), vị cay thành phần chính trong món nam pla phrik.

Nước chấm[sửa | sửa mã nguồn]

Nước chấm phổ biến của người Thái là nước mắm ớt pha loãng hay không pha loãng. Đặc biệt là xì dầu, sa tế và các lọai nước chấm khác cũng được sử dụng trong các món ăn. Người Thái thích sử dụng nước mắm cà cuống – trích tinh dầu con cà cuống pha với nước mắm.

Côn trùng chiên

Gạo[sửa | sửa mã nguồn]

Thái Lan là nước xuất khẩu gạo lớn nhất thế giới và với loại gạo khao hom mali [6] là loại đắt giá nhất. Gạo Thái Lan ngon và hầu hết được ướp hương thơm.

Neua pad prik-thịt xào cay

Tráng miệng[sửa | sửa mã nguồn]

Dù người Thái ăn các món ngọt tráng miệng, thường là loại màu sắc sáng và hơi ngọt làm từ bột gạo, nhưng hoa quả chính là cách truyền thống để kết thúc một bữa ăn. Khách du lịch luôn bị thu hút bởi phong phú của các loại hoa quả. Riêng chuối có thể kể đến 20 loại chuối khác nhau.

Món tráng miệng được trang trí một cách cầu kỳ và lạ mắt. Nhiều món tráng tráng miệng được tỉa gọt khá kỹ lưỡng và sắc sảo.

Nuvola Thai flag.svg
Các chủ đề Thái Lan
Ẩm thực
Văn hóa
Âm nhạc
Kinh tế
Giáo dục
Chính trị
Ngày lễ
Tiếng Thái
Hành chính
Lịch sử
Văn hóa
Giáo dục
Du lịch
Dân số
Trang phục
Thể thao



edit box

Trái cây[sửa | sửa mã nguồn]

Dưa đỏ, đu đủ, dứa, xoài, ổi, mít, sầu riêng, chanh, quýt, dừa, bưởi, măng cụt, chôm chôm, quả gioi, vảinhãn luôn luôn có ở tất cả các khu chợ, ở quầy bán dạo, và ở các khu vườn. Một số loại có hương vị đặc biệt hơn khi ăn với muối trộn đường và ớt bột. Mứt trái cây là cả một nghệ thuật, đòi hỏi kỹ năng đặc biệt và hoa quả cũng được sử dụng làm nguyên liệu nấu ăn.

Có rất nhiều món ăn làm từ côn trùng được bày bán khắp đường phố Thái Lan

Chè[sửa | sửa mã nguồn]

Giống với đất nước Canmpuchia, chè Thái Lan ngon và có rất nhiều lọai. Chè Thái Lan ngọt đậm và hầu hết đều có nước cốt dừa. Các nguyên liệu phối hợp bao gồm các lọai trái cây và các lọai mứt hay củ quả. Ngon nhất vẫn là các món chè xôi [7] trộn sầu riêng pha nước cốt dừa. Ngoài ra còn có chè củ năng bọc bột lọc. Chè Thái Lan nổi tiếng là chè thập cẩm với hàng chục lọai trái cây, mứt và có sầu riêng phía trên cùng đá bào.

Các món ăn nổi tiếng[sửa | sửa mã nguồn]

Canh chua Thái[sửa | sửa mã nguồn]

Tom yam là món canh chua của Thái Lan, một món ăn không thể lẫn vào đâu bởi hương vị chua cay của nó. Vị chính trong món này là lá chanh. Tom Yam Kung mỗi miền mỗi khác và mang đặc trưng phong cách riêng. Nhưng cái chua dịu dàng hơn chua miền Nam dẫu là chua me, mạnh hơn chua miền Trung, gắt hơn chua mơ miền Bắc một chút.

Tom yam nấu với tôm gọi là tom yam goong (goong nghĩa là tôm), nấu với thịt già gọi là tom yam gai, nấu với cá gọi là tom yam pla.

Dừa nướng[sửa | sửa mã nguồn]

Trái dừa nguyên trái được người Thái đem nướng trên bếp lửa. Dừa nướng kiểu Thái này đem hương vị thơm và rất lạ miệng. Dừa nướng Thái Lan có thể tìm thấy trên hầu hết nẻo đường của Thái.

Gỏi đu đủ Thái[sửa | sửa mã nguồn]

Gỏi đu đủ Thái Lan- som tam là món salad đu đủ trộn với nước mắm, nước chanh, tỏi, ớt, mắm tôm, v.v... Món này có nguồn gốc từ vùng Đông Bắc Thái Lan.

Bài chi tiết: Gỏi đu đủ Thái

Các món khác[sửa | sửa mã nguồn]

  • Jok (Thai: โจ๊ก) - Đây là món ăn sáng của người Thái gọi là ChốK
  • Khao Tom (Thai: ข้าวต้ม): Cơm gà - món ăn phổ biến dùng với soup và sườn non.
  • Pad Thai (ผัดไทย): Rau xào
  • Khao mun gai: Cơm gà, nguyên liệu chính đa dạng.
  • Khao Pad (Thai: ข้าวผัด): Món ăn phổ biến của người Thái gọi là "Kháo phak"
  • Rad na (Thai: ราดหน้า)
  • Khao pad naem (Thai: ข้าวผัดแหนม)
  • Pad see ew (Thai: ผัดซีอิ๊ว)
  • Pad kee mao (Thai: ผัดขี้เมา)
  • Khao khluk kapi (Thai: ข้าวคลุกกะปิ)
  • Khanom chin namya (Thai: ขนมจีนน้ำยา)
  • Khao soi (Thai: ข้าวซอย)
  • Khao pad gai (Thai: ข้าวผัดไก่)
  • Khao mun gai (Thai: ข้าวมันไก่)
  • Gai pad grapao (Thai: ไก่ผัดกะเพรา)
  • Gai pad med mamoung himaphan (Thai: ไก่ผัดเม็ดมะม่วงหิมพานต์)
  • Gai Pad Khing (Thai: ไก่ผัดขิง)
  • Tom kha gai (Thai: ต้มข่าไก่)
  • Saté (Thai: สะเต๊ะ)
  • Gaeng khiew-waan, Thai: แกงเขียวหวาน) -
  • Cà ri Massaman (Thai: แกงมัสมั่น)
  • Pad prik (Thai: ผัดพริก)
  • Pad kaphrao (Thai: ผัดกะเพรา)
  • Pad pak ruam (Thai: ผัดผักรวม)
  • Panaeng (Thai: พะแนง)
  • Tod man (Thai: ทอดมัน)
  • Boo Jah (Thai: ปูจ๋า)
  • Choo-Chee Plah Ga-Pong (Thai: ฉู่ฉี่ปลากระพง)
  • Lạp (Lao: ລາບ, Thai: ลาบ)
  • Nam Tok (Thai: น้ำตก)
  • Yam (Thai: ยำ)
  • Tom saep (Thai: ต้มแซบ)
  • Gai yang (Thai: ไก่ย่าง)
  • Suea Rong Hai (Thai: เสือร้องไห้)
  • Sticky rice (Thai: ข้าวเหนียว)
  • Nam prik num (Thai: น้ำพริกหนุ่ม)
  • Mo Geng,(Thai: ข้าวเหนียวมะม่วง)
  • Lod Chong Nam Ka Ti (Thai: ลอดช่องน้ำกะทิ)
  • Kanom Tan (Thai: ขนมตาล)
  • Ruam Mit (Thai: รวมมิตร)
  • Kanom Chun (Thai: ขนมชั้น) – một loại bánh làm bằng gạo nếp trộn với bột sữa dừa
  • Kanom Bua Loy (Thai: ขนมบัวลอย) - giữa bột và sữa dừa cho ra một loại bánh khá ngon theo kiều Thái

Món ăn từ côn trùng[sửa | sửa mã nguồn]

Loại thức ăn giàu đạm này được tìm thấy rất nhiều trên đất nước CampuchiaThái LanLào. Người Thái Lan rất thích dùng côn trùng đẻ chế biến nhiều món ăn. Từ dế cơm, trứng kiến đến con cà cuống, nhền nhện trong các món chiên, xào, dồn đậu phộng đến hấp cơm hay ngâm giấm đều rất ngon. Đắt nhất vẫn là con cà cuống - một loại côn trùng có ích sống nhiều ở đồng ruộng Campuchia với hương vị thơm cay. Cà cuống hiện nay đang trên đà tuyệt chủng vì nạn săn bắt quá mức và do lạm dụng các loại thuốc bảo vệ thực vật trên cây trồng. Cà cuống hiện nay đang bày bán tại các chợ côn trùng Campuchia hầu hết đã được lấy túi hương ra, chỉ còn lại thân mà thôi, còn túi hương người ta sẽ bán riêng với giá khá cao. Cà cuống từ Campuchia được xuất khẩu sang Thái Lan cả phần xác và túi hương. Món ăn từ côn trùng của người Thái Lan khác LàoCampuchia ở chỗ, món ăn từ côn trùng của Thái Lan chế biến nhiều món hơn, cầu kỳ hơn và sử dụng khá nhiều gia vị cho món ăn này. Đặc biệt ở Thái Lan, có móm ăn từ bò cạp được xem là đặc trưng rất riêng.[8]

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Cái vá lớn
  2. ^ Nám là nước; prik là ớt.
  3. ^ Kang là canh chứ không phải gang.
  4. ^ Có thể gọi là nộm đu đủ.
  5. ^ Gồm cơm trộn với nước sốt budu.
  6. ^ kháo tiếng Thái là gạo - Khao hom mali là gạo hoa nhài- tên tiếng Anh là : jasmine rice
  7. ^ Món này có thể thưởng thức tại " nhà hàng Con Voi Vàng " - 34 Hai Bà Trưng, Q. 1, TP.Hồ Chí Minh.
  8. ^ Xem phần món ăn từ côn trùng của Ẩm thực LàoẨm thực Campuchia để có sự so sánh

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  • Ẩm thực Thái Lan - nhiều tác giả - Nhà xuất bản Phụ Nữ.
  • Bài viết trích từ khóa luận tốt nghiệp "Bài thuyết minh xây dựng tuyến điểm đất nước Thái Lan" - tác giả Phan Minh Châu - Lưu tại thư viện trường Đại học Dân lập Hùng Vương.[1]
  • G.S Nguyễn Tấn Đắc, Văn hóa Đông Nam Á, nhà Xuấn Bản Khoa Học Xã Hội.
  • Trịnh Huy Hóa (biên dịch), Đối thoại với các nền văn hóa – Thái Lan, Nxb Trẻ.
  • Hoàng Văn Quang (sưu tầm và biên soạn), Hướng dẫn tham quan thủ đô Bangkok – Nhà xuất bản Phương Đông.
  • Nguyễn Chí Thông, Từ điển Thái Lan-Việt, Nhà xuất bản văn hóa thông tin.
  • Ts. Đỗ Quốc Thông, Giáo trình địa lý du lịch thế giới.
  • Ts.Trần Văn Thông, Quy hoạch du lịch, Nhà xuất bản giáo dục.
  • Elvis,English – Thai – English, Top. Bk.th
  • Khumudriemsop, Hi-ed publishing, Spicy Co.ltd.
  • Nangsudonthang, Panrawat Sumkhuthong, Bangkok Book.
  • Puangsonbat Yubin Puangsombat, English – Thai, Spicy Co.ltd.
  • Mrs Juthamas Siriwan,Thailand Mice, Planding Guide.
  • Rajdammri, Thailand Traditation Isan and the Northeast, Duty Free Shop.
  • Rajdammri, Bangkok and the central Plains, Duty Free Shop.
  • Rajdammri, Thailand Hat Yai And the Far South,Duty Free Shop.Rajdammri, Thailand a golden Wonderland, Duty Free Shop.
  • Rajdammri, Amazing Thai Festival and Event, Duty Free Shop.