Ngụy

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm

Ngụy là một từ gốc Hán trong tiếng Việt có nhiều nghĩa tùy thuộc vào văn cảnh và từ ghép với nó. Nghĩa hay gặp có nghĩa là làm một cách giả tạo như trong từ ngụy trang, ngụy tạo. Một nghĩa khác là chỉ sự không chính thống, không được công nhận, bất hợp pháp như là trong từ ngụy triều, ngụy binh, ngụy quân, ngụy quyền.

Tại Việt Nam, có hai từ ngụy đồng âm khác nghĩa thường được sử dụng trong văn hóa giao tiếp và văn học của người Việt. Một từ ngụy (偽) là giả, như "ngụy tạo, ngụy quân tử, ngụy trang, ngụy triều, ngụy quyền". Trong chính trị, từ này được dùng để chỉ một triều đình hoặc chính quyền do soán đoạt mà có, hoặc do quân xâm lược nước ngoài dựng lên để hợp thức hóa sự xâm lược, đô hộ và phục vụ cho sự đô hộ, xâm lược đó. Còn bản thân chính quyền đó không có thực quyền, thực lực, hữu danh vô thực [1], không đủ tiêu chuẩn, phẩm chất của một chính quyền hay triều đình đúng nghĩa, mang tính chất bất hợp pháp và không chính danh.[2] Trong lịch sử các nước Đông Á như Trung Quốc, Triều Tiên, Nhật Bản và Việt Nam, từ ngụy được sử dụng nhiều trong các văn bản lịch sử. Ở phương Tây, thuật ngữ này có cách gọi khác là chính quyền tay sai, hoặc Chính phủ bù nhìn (Puppet State).

Một từ Ngụy khác (魏) là danh từ dùng để chỉ nước Ngụy thời Chiến Quốc bên Trung Quốc, nhà Ngụy thời Tam Quốc bên Trung Quốc, hay họ Ngụy tại Đông Á, trong đó có Việt Nam. Từ này thường được viết hoa.

Việc sử dụng từ ngụy trong lịch sử các nước[sửa | sửa mã nguồn]


Trung Quốc[sửa | sửa mã nguồn]

Nước Ngụy (魏) thời Đông Chu, nước Ngụy (魏) thời Tam Quốc... là tên của một số triều đại hoặc nước cát cứ trong lịch sử Trung Quốc. Các chính quyền hoặc quốc gia sau trong lịch sử Trung Quốc có tên là "Ngụy":

Có một số triều đại và nhân vật được gọi là "ngụy" (偽 - viết khác từ "ngụy" ở trên) theo nghĩa là không chính thống, không được thừa nhận.

Trong chiến tranh Trung-Nhật, Trung Quốc bị Nhật bản xâm chiếm. Chính phủ Quốc dân Trung Hoa Dân Quốc của Uông Tinh Vệ và chính phủ Mãn Châu quốc của Phổ Nghi, bị cả Cộng sản ĐảngQuốc Dân Đảng gọi là "ngụy quyền", "ngụy quân", hoặc "chính phủ ngụy" do các chính phủ này là đồng minh của Đế quốc Nhật, thế lực đang xâm chiếm Trung Hoa khi đó. Thuật ngữ này cũng được gọi trên các kênh truyền thông, sách báo, phim ảnh của Trung QuốcĐài Loan (của Quốc Dân Đảng) sau này.

Việt Nam[sửa | sửa mã nguồn]

Lịch sử Việt Nam cũng có nét tương đồng với lịch sử Trung Quốc trong việc sử dụng từ ngụy. Sử gia Trần Trọng Kim giải thích sự tương đồng này như sau: "Những người làm quốc sử nước Tàu và nước ta thường chia những nhà làm vua ra chính thống và ngụy triều. Nhà nào, một là đánh giặc mở nước, sáng tạo ra cơ nghiệp, hai là được kế truyền phân minh, thần dân đều phục, ba là dẹp loạn yên dân, dựng nghiệp ở đất Trung Nguyên, thì cho là chính thống. Nhà nào, một là làm tôi cướp ngôi vua, làm sự thoán đoạt không thành, hai là xưng đế, xưng vương ở chỗ rừng núi, hay là ở đất biên địa, ba là những người ngoại chủng vào chiếm nước làm vua, thì cho là ngụy triều."[1]

Thời phong kiến[sửa | sửa mã nguồn]

Khi nhà Minh chiếm đóng Việt Nam, một số quan lại người Việt ra cộng tác với quân Minh. Những quan lại này bị nhà Hậu Trần và các triều đại sau gọi là "Ngụy quan".

Nhà Mạc bị các sử gia nhà Lê trung hưng gọi là "ngụy Mạc" vì đã soán ngôi vua Lê.

Trong suốt thời gian chiến tranh và sau khi đánh bại nhà Tây Sơn, Nguyễn Ánh và sau này là nhà Nguyễn thường hay dùng từ ngụy khi nhắc tới Tây Sơn. Những từ ghép có thể là "ngụy Tây Sơn",[3] "ngụy Tây",[4]"ngụy triều",[1] "ngụy Huệ",[5] "ngụy Nhạc[6].

Việc gọi tên này phổ biến trong suốt thời gian nhà Nguyễn còn mạnh, khi hầu hết các văn sử chính thống của triều đình đều dùng các từ trên mỗi khi nhắc đến nhà Tây Sơn, đơn cử là cuốn Ngụy Tây liệt truyện của Quốc Sử quán triều Nguyễn. Sử gia Trần Trọng Kim trong Việt Nam sử lược khi viết về Tây Sơn tỏ ra không đồng ý với kiểu gán ghép này. Theo ông, nhà Tây Sơn tuy đã lật đổ chúa Nguyễn nhưng triều đình này không phải do ngoại bang lập ra và có công lớn chống ngoại xâm, nên không thể gọi là ngụy. Ông viết: "..lấy công lý mà suy thì vua Quang Trung Nguyễn Huệ là một ông vua cùng đứng ngang vai với vua Đinh Tiên Hoàng, vua Lê Thái Tổ, mà nhà Nguyễn Tây Sơn cũng là một nhà chính thống như nhà Đinh và nhà Lê vậy.[1]

Thời Pháp thuộc[sửa | sửa mã nguồn]

Sau khi quân đội viễn chinh Pháp xâm lược và áp đặt chế độ thuộc địa ở Đông Dương (trong đó có Việt Nam), chính phủ Pháp đã dùng chính sách "chia để trị" và chia cắt Việt Nam ra làm 3 xứ riêng lẻ là Cochinchine (Nam Kỳ), Annam (Trung Kỳ), và Tonkin (Bắc Kỳ), 3 vùng cùng với Lào và Campuchia đã trở thành Liên bang Đông Dương (Union Indochinoise) hay còn được gọi với tên Đông Dương thuộc Pháp (Indochine française). Người Pháp tiếp tục duy trì các hoàng đế bù nhìn từ Đồng Khánh, Thành Thái, cho đến Bảo Đại. Vào năm 1887, hoàn tất quá trình xâm lược Việt Nam, người Pháp đã tổ chức ra một bộ máy cai trị khá hoàn chỉnh từ trung ương cho đến địa phương.

Trong thời gian cai trị Việt Nam, thực dân Pháp đã mua chuộc và sử dụng một số cộng sự người Việt, họ cũng cho xây dựng và thành lập một số đơn vị quân đội bản xứ, nhằm hỗ trợ quân chính quy người Pháp trong việc trấn áp nghĩa quân và các lực lượng nổi dậy ở Việt Nam, tiêu biểu là Quân đoàn bộ binh Bắc Kỳ, lính khố xanh, lính khố đỏ, lính khố vàng... Một số người Việt được toàn quyền Đông Dương tuyển dụng vào quân đội Lê dương Pháp. Tất cả các đội quân này đều do sĩ quan Pháp chỉ huy. Các lực lượng nghĩa quân và nhiều người dân bản xứ gọi các đội quân này là ngụy quân hoặc ngụy binh. Họ cũng gọi các triều đình bù nhìn ở Huế là ngụy triều, thường kết hợp với niên hiệu của hoàng đế bù nhìn, như đầu thế kỷ 20 các nhà nho thường gọi triều đình là ngụy triều Khải Định.[7]

Quốc gia Việt Nam[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 1945, Hồ Chí Minh tuyên bố Việt Nam độc lập với tên gọi nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Tuy nhiên, tại miền Nam Việt Nam, chỉ bốn ngày sau khi Việt Nam tuyên bố độc lập, phái bộ quân sự Anh đã có mặt ở Sài Gòn, theo sau là liên quân Anh-Pháp. Quân Anh trên danh nghĩa là theo lệnh Đồng Minh vào giải giáp quân đội Nhật nhưng đồng thời cũng tạo điều kiện cho quân Pháp vào miền Nam của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Chính phủ Pháp muốn khôi phục thuộc địa Đông Dương. Pháp tuyên bố sẽ lập chính quyền tại miền Nam. Sau đó, với sự giúp đỡ của quân Anh, quân Pháp nổ súng chiếm quyền kiểm soát Sài Gòn. Nước Việt Nam vừa giành được độc lập lại đứng nạn ngoại xâm.

Ngày 9 tháng 10, tướng Pháp Leclerc đến Sài Gòn, theo ông là lực lượng gồm 40.000 quân Pháp để chiếm giữ miền Nam Việt Nam và Campuchia. Từ cuối tháng 10, quân Pháp bắt đầu đẩy mạnh kế hoạch phá vây, mở rộng đánh chiếm ra vùng xung quanh Sài Gòn và các tỉnh miền Nam Việt Nam, chiến tranh Đông Dương bùng nổ và kéo dài đến năm 1954 mới kết thúc sau trận Điện Biên Phủhiệp định Geneve 1954 về Đông Dương.

Cuộc diễn hành của một tiểu đoàn Quân đội Quốc gia Việt Nam. Ảnh chụp tại Hồ Gươm ngày 14 tháng 7 năm 1951.

Chiến tranh Việt - Pháp kéo dài từ năm 1945 đến 1954. Năm 1948, theo chiến lược Da vàng hóa chiến tranh, Tổng thống Pháp Vincent Auriol và Cựu hoàng Bảo Đại đã ký Hiệp ước Elysée tuyên bố xác nhận "nền độc lập của Việt Nam", chính thức thành lập Quốc gia Việt Nam trong khối Liên hiệp Pháp, đứng đầu là Quốc trưởng Bảo Đại để làm đối trọng với Việt Minh. Dù vậy, người Pháp đã khéo léo khi thực tế trong hiệp ước, nghĩa chính xác của từ "độc lập", quyền hạn cụ thể của chính phủ mới đã không được người Pháp xác định rõ để tránh bị vướng chân sau này.[8]. Theo Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, ý đồ của Pháp là muốn áp dụng chính sách Da vàng hóa chiến tranh, "Lấy chiến tranh nuôi chiến tranh, dùng người Việt đánh người Việt"[9] và để thuyết phục Mỹ viện trợ kinh tế và quân sự để Pháp có thể tiếp tục đứng chân tại Đông Dương [10].

Theo Nghị định Quốc phòng ngày 13 tháng 4 năm 1949, một lực lượng quân đội của Quốc gia Việt Nam được thành lập, lấy tên là Vệ binh Quốc gia[11][12] sẽ cùng phối hợp với quân Pháp để đánh lại Việt Minh. Ngày 11 tháng 5 năm 1950, Thủ tướng Trần Văn Hữu tuyên bố chính thức thành lập Vệ binh Quốc gia Việt Nam với quân số lúc đó là 60.000 người [13].

Ngày 8 tháng 12 năm 1950, Quốc gia Việt Nam và Pháp ký Hiệp định quân sự thành lập Quân đội Quốc gia Việt Nam bằng cách đặt một số đơn vị Liên hiệp Pháp tại Việt Nam dưới quyền chỉ huy của Quốc gia Việt Nam. Dự kiến quân đội này sẽ bao gồm 120.000 quân và 4.000 sĩ quan, tất cả sĩ quan đều phải là người Việt. Tuy nhiên, điều này không được thực hiện cho đến cuối năm 1951 khi Bộ Tổng tham mưu Quân đội Quốc gia Việt Nam được thành lập và dường như không có việc bổ nhiệm cho những đơn vị cụ thể cho đến cuối năm 1953.[14] Quốc trưởng Bảo Đại là tổng chỉ huy của Quân đội Quốc gia Việt Nam từ năm 1950 đến 1955.

Hiệp ước Elysee đã ghi rõ về vai trò chỉ huy của Pháp: "Trong thời chiến, toàn thể quân đội Quốc gia Việt Nam và Liên hiệp Pháp được đặt chung dưới quyền chỉ huy của Uỷ ban quân sự mà Tư lệnh sẽ là một sĩ quan Pháp có một Tham mưu trưởng phụ tá." Mặt khác, Pháp không chấp nhận trang bị vũ khí cho những đơn vị Quân đội Quốc gia Việt Nam trừ khi Việt Nam chấp nhận một tỷ lệ nhất định sĩ quan Pháp trong Quân đội Quốc gia Việt Nam trong thời gian sĩ quan Việt Nam đang được đào tạo.[14].

Theo đánh giá của Spencer C.Tucker, quân đội này được huấn luyện kém và không có sĩ quan chỉ huy cấp cao người Việt[15]. Pháp chỉ đơn giản là đưa những người lính bản địa mới tuyển mộ được vào các quân đoàn viễn chinh của Pháp, tại đó, người chỉ huy là các sĩ quan Pháp [16]. Quân đội Quốc gia Việt Nam phụ thuộc hoàn toàn vào hệ thống hậu cần của Pháp. Do thiếu sĩ quan người Việt nên có đến 20% đơn vị bộ binh và 50% đơn vị hỗ trợ và kỹ thuật vẫn còn sử dụng sĩ quan Pháp. Quân đội này thiếu những chỉ huy được huấn luyện tốt, thiếu kỷ luật, tinh thần chiến đấu thấp. Trong các chiến dịch lớn như trận Nà Sản hay trận Điện Biên Phủ, các đơn vị của quân đội này trên danh nghĩa là do sĩ quan người Việt độc lập chỉ huy, nhưng các sĩ quan này lại vẫn nằm dưới sự điều động của Bộ Tư lệnh quân đội Liên hiệp Pháp (ví dụ như trận Điện Biên Phủ, các tiểu đoàn dù Quốc gia Việt Nam phải chịu sự chỉ huy chung của trung tá Pháp Pierre Langlais).[14]

Hai vấn đề quan trọng nhất là tài chínhquân đội của Quốc gia Việt Nam thì vẫn do Pháp nắm giữ. Mục đích như tướng Henri Navarre đã viết: "...cuộc chiến tranh này phải được chỉ đạo và muốn như vậy sự thống nhất hành động chính trị và quân sự phải được thực hiện trong hàng ngũ của chúng ta cũng như bên đối phương đã từng làm… Cuối cùng, tôi yêu cầu là cần phải làm tất cả để các quốc gia liên kết (trong đó có Quốc gia Việt Nam) phải thực sự tham gia chiến tranh... Đồng thời Mỹ phải từ bỏ ý định thay thế ảnh hưởng của họ."[17]

Trong thời gian chiến tranh, Hồ Chí Minh và chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa gọi chính quyền Quốc gia Việt Namngụy quyềnQuân đội Quốc gia Việt Namngụy binh, ngụy quân, quân ngụy, hoặc lính ngụy.

Trong Hội nghị lần 2 Ban Chấp hành Trung ương Đảng Lao động Việt Nam khóa II họp từ ngày 27-9 đến ngày 5-10-1951, Hội nghị nhận định tình hình chiến sự và đề ra nhiệm vụ phải phá chính sách "lấy chiến tranh nuôi chiến tranh, dùng người Việt đánh người Việt" của thực dân Pháp và nhấn mạnh công tác "ngụy vận", đặc điểm của công tác này là phải: Coi công tác ngụy vận là một công tác vận động quần chúng, nhằm mục đích lâu dài. Phải biết gắn liền ngụy vận với dân vận trong vùng tạm chiếm. Phải phối hợp ngụy vận với tác chiến, khi có những điều kiện thuận lợi thì mở những cuộc tấn công chính trị để làm tan ra hàng ngũ ngụy binh. Cách thức tuyên truyền và vận động ngụy binh đều phải nhằm những điểm nói trên mà định cho thích hợp. Đi đôi với công tác vận động ngụy binh, phải tăng cường công tác vận động binh sĩ Âu - Phi.[18]

Năm 1951, Quốc hội Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra lời hiệu triệu nhân ngày kỷ niệm toàn quốc kháng chiến, lên án chính sách "dùng người Việt đánh người Việt" của thực dân Pháp: "Không đủ sức chống kháng chiến, đế quốc Mỹthực dân Pháp lợi dụng bọn bù nhìn vong bản thi hành chính sách "lấy chiến tranh nuôi chiến tranh, dùng người Việt đánh người Việt", dùng độc lập giả hiệu để mê muội, đốt làng cướp của làm cho dân ta bần cùng trụy lạc để dễ áp bức lừa phỉnh, bắt thanh niên đi lính ngụy để đánh lại đồng bào."[19][20]

Cùng năm, Hồ Chí Minh liên tục viết ba bức thư gửi binh lính trong Quân đội Quốc gia Việt Nam để thuyết phục họ về với Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và Quân đội Nhân dân Việt Nam. Tháng 6 năm đó ông viết bức thư "Vận động ngụy binh" [21]. Tháng 9 ông viết bức thư "Thư gửi các ngụy binh" [22]. Tháng 11 ông viết bức thư "Lời kêu gọi ngụy binh quay về với Tổ quốc" [23].

Tháng 3 năm 1952, Hồ Chí Minh viết bức thư "Ngụy binh giác ngộ" nêu một số tấm gương lính người Việt trong quân đội Liên hiệp Pháp rời bỏ hàng ngũ theo về với Việt Minh. Nội dung tuyên truyền chính sách khoan hồng của Đảng Lao độngViệt Minh.[24][25]

Năm 1953, nhân ngày Quốc tế Lao động, Đảng Lao động Việt Nam và chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa kêu gọi binh lính Quân đội Quốc gia Việt Nam đào ngũ, trở về với Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Họ tuyên bố luôn khoan hồng đối với những người "lầm lỗi biết hối cải và lập công". Chính phủ chủ trương chia ruộng đất công cho lính người Việt bỏ hàng ngũ Pháp trở về với Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.[26]

Việt Nam Cộng hòa[sửa | sửa mã nguồn]

Từ ngụy quyền/quân có nghĩa là chính quyền/quân đội bất hợp pháp.[27] Cụm từ này được sử dụng rộng rãi trên các nghị quyết, văn kiện Đảng, phương tiện truyền thông chính thức của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam [28][29][30][31][32].

Người biểu tình phản chiến Mỹ với sự châm biếm "Đế quốc Mỹ và Con rối Sài Gòn (Saigon Puppet)"

Việt Nam Cộng hòa được Hoa Kỳ thành lập trên cơ sở kế thừa từ Quốc gia Việt Nam. Cũng giống như tiền thân là Quốc gia Việt Nam, chế độ Việt Nam Cộng hòa bị Việt Nam Dân chủ Cộng hòaMặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam gọi là "ngụy quyền Sài Gòn" hay "ngụy quyền"; và quân lực Việt Nam Cộng hòa thì được gọi là "ngụy quân".

Trong thập niên 1960, Hồ Chí Minh có nhiều bài báo, bài diễn văn gọi Việt Nam Cộng hòa là "ngụy". Tiêu biểu là bài thơ Chúc Tết năm 1969 của Hồ Chí Minh có câu "Vì độc lập, vì tự do/Đánh cho Mỹ cút, đánh cho Ngụy nhào"[33][34]

Năm 1960, Mặt Trận Dân tộc Giải Phóng Miền Nam Việt Nam được thành lập trên danh nghĩa "Đoàn kết toàn dân đánh bại chiến tranh xâm lược của đế quốc Mỹ, đánh đổ ngụy quyền tay sai của chúng, giải phóng miền Nam, tiến tới thống nhất Tổ quốc"[35]. Chính sách học tập cải tạo sau năm 1975 của Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam cũng được thực hiện trên danh nghĩa: "Việc tổ chức cho ngụy quân, ngụy quyền và các đối tượng phản động ra trình diện học tập cải tạo thể hiện chính sách nhân đạo của ĐảngNhà nước, có tác dụng phân hóa hàng ngũ bọn phản động, cô lập bọn đầu sỏ ngoan cố, đập tan luận điệu tuyên truyền chiến tranh tâm lý của địch, tranh thủ được sự đồng tình và ủng hộ của nhân dân."[36]

Theo Arthur J. Dommen, từ "ngụy quyền" không xuất hiện từ đầu cuộc chiến, nó chỉ xuất hiện từ sau sự kiện đảo chính ở Việt Nam Cộng hòa năm 1963 để thay thế cho cụm từ "chế độ Mỹ-Diệm".[27] Sau khi chiến tranh Việt Nam kết thúc năm 1975, các từ "ngụy quân", "ngụy quyền" vẫn tiếp tục được sử dụng một cách rộng rãi trong truyền thông Việt Nam để chỉ chính quyền Quốc gia Việt Nam, Quân đội Quốc gia Việt Nam[37][38] và chính quyền Việt Nam Cộng hòa, Quân lực Việt Nam Cộng hòa.

Sau khi chính sách Đổi mới được thi hành năm 1986, ngôn ngữ dùng để miêu tả chế độ Việt Nam Cộng hòa cũng được mềm dẻo hóa.[39] Cụm từ "ngụy quyền Sài Gòn" trong một số tài liệu được thay thế bằng cụm từ "chế độ Sài Gòn". Các từ khác như "ngụy quân", "ngụy quyền", "có nợ máu với nhân dân", "tên bù nhìn Nguyễn Văn Thiệu" cũng giảm lược đi.[39]

Trong một số tài liệu, sách sử của phương Tây hiện nay, chế độ Việt Nam Cộng hòa cũng được sử gia nước ngoài gọi là "chính phủ bù nhìn", một từ có ý nghĩa tương tự như từ "Ngụy"[40]

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ a ă â b Trần Trọng Kim (1971), Việt Nam sử lược 2, Sài Gòn: Trung tâm Học liệu Xuất bản thuộc Bộ Giáo dục, tr. 127 .
  2. ^ Hồ Ngọc Đức, Free Vietnamese Dictionary Project
  3. ^ Quốc sử quán triều Nguyễn (1992). Đại Nam nhất thống chí , tập 2. Nhà xuất bản Giáo dục. tr. 144. 
  4. ^ Phạm Thế Ngũ (1961). Việt Nam văn học sử giản ước tân biên. Quốc Học Tùng Thư. tr. 193. 
  5. ^ Phạm Khắc Hòe (1992). Kể chuyện vua quan nhà Nguyễn. Nhà xuất bản Thuan Hoa. tr. 20. 
  6. ^ Quách Tấn và Quách Giao (2000). Nhà Tây Sơn. Nhà xuất bản Trẻ. tr. 18. 
  7. ^ GIỚI THIỆU VỀ ANH HÙNG DÂN TỘC NGUYỄN TRUNG TRỰC, 18-02-2009, Tỉnh Đoàn Kiên Giang
  8. ^ William Duiker, Ho Chi Minh: A Life, Hyperion, 2000, tr.411
  9. ^ LỜI HIỆU TRIỆU CỦA BAN THƯỜNG TRỰC QUỐC HỘI NGÀY 19-12-1951 NHÂN KỶ NIỆM NGÀY TOÀN QUỐC KHÁNG CHIẾN, BAN THƯỜNG TRỰC QUỐC HỘI VIỆT NAM, Lưu tại Trung tâm Lưu trữ quốc gia III
  10. ^ William Duiker, Ho Chi Minh: A Life, Hyperion, 2000, tr.412-413
  11. ^ Trần Hội & Trần Ðỗ Cẩm, Khái lược lịch sử hình thành quân lực Việt Nam CỘNG HÒA
  12. ^ Vương Hồng Anh, Hiệp Định Genève, 50 Năm Nhìn Lại
  13. ^ Khái lược lịch sử hình thành quân lực Việt Nam CỘNG HÒA - Thời kỳ thành lập (1950-1952)
  14. ^ a ă â A Brief Overview of the Vietnam National Army and the Republic of Vietnam Armed Forces (1952-1975), PERSPECTIVES ON RVNAF FROM FRUS, Stephen Sherman and Bill Laurie
  15. ^ Spencer C.Tucker, Encyclopedia of the Vietnam War, ABC-CLIO, 2000, tr. 474.
  16. ^ Spencer C.Tucker, Encyclopedia of the Vietnam War, ABC-CLIO, 2000, tr. 189.
  17. ^ Thời điểm của những sự thật (trích hồi ký Nava về Điện Biên Phủ/ Herri Navarre). Nguyễn Huy Cầu; Nhà xuất bản: Công an nhân dân 1994. Trang 77
  18. ^ Hội nghị lần thứ hai Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa II từ ngày 27-9 đến ngày 5-10-1951, 31/08/2006, Báo điện tử Đảng Cộng sản Việt Nam
  19. ^ LỜI HIỆU TRIỆU CỦA BAN THƯỜNG TRỰC QUỐC HỘI NGÀY 19-12-1951 NHÂN KỶ NIỆM NGÀY TOÀN QUỐC KHÁNG CHIẾN, BAN THƯỜNG TRỰC QUỐC HỘI VIỆT NAM, Lưu tại Trung tâm Lưu trữ quốc gia III.
  20. ^ Đại tướng Võ Nguyên Giáp, Tổng tập hồi ký - Điện Biên Phủ điểm hẹn lịch sử trang 871, 872
  21. ^ http://123.30.49.74:8080/tiengviet/tulieuvankien/4lanhtu/details.asp?topic=3&subtopic=91&leader_topic=9&id=BT150366483
  22. ^ http://123.30.49.74:8080/tiengviet/tulieuvankien/4lanhtu/details.asp?topic=3&subtopic=91&leader_topic=9&id=BT150364926
  23. ^ http://123.30.49.74:8080/tiengviet/tulieuvankien/4lanhtu/details.asp?topic=3&subtopic=91&leader_topic=&id=BT150364150
  24. ^ http://123.30.49.74:8080/tiengviet/tulieuvankien/tulieuvedang/details.asp?topic=168&subtopic=464&leader_topic=982&id=BT2911042759
  25. ^ Nguyên văn bài viết trên báo điện tử ĐCSVN
  26. ^ Lời kêu gọi của Đảng Lao động Việt Nam nhân ngày Quốc tế Lao động 1953
  27. ^ a ă Dommen, Arthur J. (2001). The Indochinese experience of the French and the Americans: nationalism and communism in Cambodia, Laos, and Vietnam. Bloomington: Đại học Indiana Press. tr. 573. ISBN 0-253-33854-9. 
  28. ^ Chứng tích chiến tranh trận Mỹ - Ngụy thảm sát thường dân ở vàm Cái Cao, Sở Giáo dục và Đào tạo Sóc Trăng
  29. ^ Thời cơ chiến lược không thể bỏ lỡ, 20/04/2009, Báo điện tử Công An Nhân dân - An Ninh Thế giới
  30. ^ TÀI LIỆU TUYÊN TRUYỀN kỷ niệm 35 năm Ngày giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất Tổ quốc (30/4/1975 - 30/4/2010), BAN TUYÊN GIÁO, TỈNH ỦY BÌNH THUẬN, ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM
  31. ^ Báo cáo chính trị của Ban Chấp hành Trung ương Đảng tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IV, Nhà xuất bản. Sự thật, Hà Nội, 1977, tr.25-26
  32. ^ Lịch sử Kháng chiến chống Mỹ cứu nước 1954-1975 - Tập 3 Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, 1997, Trung tướng, PGS. NGUYỄN ĐÌNH ƯỚC
  33. ^ "Lời kêu gọi cả nước tiến lên đánh thắng giặc Mỹ xâm lược" của Hồ Chí Minh năm 1968
  34. ^ Bài viết của Hồ Chí Minh trên báo Nhân dân, số 4308, ngày 20-1-1966
  35. ^ Lịch sử Mặt trận Dân tộc Thống nhất, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam
  36. ^ Địa chí Tiền Giang, Chương tám: Xây dựng và bảo vệ quê hương Tiền Giang, Phần I: Hàn gắn vết thương chiến tranh, ổn định đời sống nhân dân (1975 - 2005), Trang thông tin điện tử tỉnh Tiền Giang
  37. ^ Xây dựng khu du kích Cam Đường và những bài học kinh nghiệm, 01/10/2008, Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Lào Cai
  38. ^ Quân và dân Vĩnh Phúc với chiến thắng Điện Biên Phủ, Nguyễn Đức Tẩm (UVTV-Trưởng ban Tuyên giáo Tỉnh uỷ Vĩnh Phúc), 27/04/2009, Báo điện tử Đảng Cộng sản Việt Nam
  39. ^ a ă Clyne, Michael G. (1997). Undoing and Redoing Corpus Planning (Contributions to the Sociology of Language). Berlin: Mouton de Gruyter. tr. 155 – 156. ISBN 3-11-015509-5. 
  40. ^ The Trouble with America: Flawed Government, Failed Society. Kenneth J. Long, P. 98