Hillary Clinton

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
(đổi hướng từ Hillary Rodham Clinton)
Bước tới: menu, tìm kiếm
Hillary Rodham Clinton
Hillary Clinton official Secretary of State portrait crop.jpg
Chức vụ
Nhiệm kỳ 21 tháng 1 năm 2009 – 1 tháng 2 năm 2013
Tiền nhiệm Condoleezza Rice
Kế nhiệm John Kerry
Nhiệm kỳ 31 tháng 3 năm 2001 – 21 tháng 1 năm 2009
Tiền nhiệm Daniel Patrick Moynihan
Kế nhiệm Kirsten Gillibrand
Khu vực New York
Nhiệm kỳ 20 tháng 1, 1993 – 20 tháng 1, 2001
Tiền nhiệm Barbara Bush
Kế nhiệm Laura Bush
Thông tin chung
Đảng phái Dân chủ
Sinh 26 tháng 10, 1947 (67 tuổi)
Chicago, Illinois, Hoa Kỳ
Nơi ở Chappaqua, New York,
Hoa Kỳ
Tôn giáo Giám Lý
Chồng Bill Clinton
Con cái Chelsea
Trang web Senator Hillary

Hillary Rodham Clinton (nhũ danh Hillary Diane Rodham, sinh ngày 26 tháng 10 năm 1947) là cựu Bộ trưởng Ngoại giao của Hoa Kỳ từ ngày 21 tháng 1 năm 2009 đến ngày 1 tháng 2 năm 2013. Bà từng là thượng nghị sĩ Quốc hội Hoa Kỳ đại diện cho tiểu bang New York từ ngày 3 tháng 1 năm 2001 đến ngày 21 tháng 1 năm 2009. Hillary kết hôn với Tổng thống Bill Clinton, và vì vậy là Đệ nhất Phu nhân Hoa Kỳ từ năm 1993 đến năm 2001. Trước đó, bà là một luật sư danh tiếng, cũng từng là Đệ nhất Phu nhân của tiểu bang Arkansas. Bà là thành viên Đảng Dân chủ. Tháng 9 năm 2006, tên của Hillary Clinton được đưa vào danh sách 100 phụ nữ nhiều quyền lực nhất thế giới của tạp chí Forbes, ở vị trí thứ 18 [1].

Tuổi trẻ[sửa | sửa mã nguồn]

Hillary [1] Rodham chào đời tại Bệnh viện Edgewater, Chicago, tiểu bang Illinois,[2] trong một gia đình là tín hữu Giám Lý,[3] sống ở Park Ridge, Illinois. Cha bà, Hugh Ellworth Rodham, hậu duệ của những di dân xứ Anh và xứ Wales.[4] Ông là người có khuynh hướng bảo thủ, quản lý thành công một doanh nghiệp nhỏ trong công nghiệp dệt.[5] Mẹ bà, Dorothy Emma Howell Rodham, hậu duệ của những di dân gốc Anh, Scotland, Pháp, Canada gốc Pháp, và xứ Wales, là nội trợ.

Hillary có hai em trai, Hugh và Tony. Lúc nhỏ, Hillary thích thể thao, nhà thờ và trường học, và là một nữ hướng đạo sinh, bà học tại một trường công lập ở Park Ridge. Lớn lên, Rodham say mê các môn thể thao như quần vợt, trượt băng, vũ ba lê, bóng chuyềnbóng ném. Hillary theo học tại Trường trung học Maine South High School, là lớp trưởng, thành viên hội đồng học sinh, thành viên đội hùng biện, và là thành viên Hiệp hội Danh dự Quốc gia.[6][7][8][9] Sau khi chuyển đến trường Maine South High School, Hillary được trao giải nhất khoa học xã hội của trường khi đang học năm cuối. Hillary Rodham làm quen với chính trường vào năm 1964, năm 16 tuổi, tham gia ủng hộ cuộc vận động tranh cử tổng thống của Thượng nghị sĩ Đảng Cộng hòa Barry Goldwater.[10] Cha mẹ bà khuyến khích con gái theo đuổi nghề nghiệp mà bà muốn chọn. Quan điểm chính trị ban đầu của Hillary được định hình bởi giáo viên lịch sử tại trường trung học[11] và mục sư của bà; Hillary cũng có cơ hội gặp lãnh tụ Phong trào Dân quyền, Mục sư Martin Luther King, Jr., tại Chicago năm 1962.[12]

Sau khi hoàn tất chương trình trung học vào năm 1965, bà ghi danh vào Đại học Wellesley ở tiểu bang Massachusetts, chuyên ngành khoa học chính trị,[13] ở đây cô đóng góp tích cực cho các hoạt động chính trị, trong một thời gian là chủ tịch chi bộ sinh viên đảng Cộng hòa tại Đại học Wellesley.[14][15] Năm 1968, đang trong năm học thứ hai, Rodham bị tác động mạnh bởi cái chết của nhà lãnh đạo Phong trào Dân quyền Mỹ, Mục sư Martin Luther King, Jr. Dưới ảnh hưởng của giáo sư Alan Schechter, quan điểm chính trị của Rodham ngày càng thiên về khuynh hướng tự do và cô quyết định gia nhập Đảng Dân chủ. Được chọn đọc diễn văn ra trường cho lớp tốt nghiệp năm 1969, Rodham tốt nghiệp với văn bằng Cử nhân[16] hạng danh dự toàn khoa chuyên ngành khoa học chính trị. Cô là sinh viên đầu tiên trong lịch sử của Đại học Wellesley được chọn để đọc diễn văn trong lễ phát văn bằng,[17] Rodham cũng được giới thiệu trong một bài viết trên Tạp chí Life.[18] do cô đã dám lên tiếng chỉ trích Thượng Nghị sĩ Edward Brooke, phát biểu trước đó.[19]

Năm 1969, Rohdham vào học trường Luật thuộc Đại học Yale, ở đây cô làm việc trong ban biên tập của Tạp chí Luật và Hành động Xã hội của nhà trường,[20] cô cũng đến giúp đỡ trẻ bất hạnh tại Bệnh viện Yale-New Haven.[21] Trong mùa hè năm 1970, cô được tài trợ để đến làm việc tại Quỹ Bảo vệ Trẻ em ở Cambridge, tiểu bang Massachusetts. Mùa hè năm 1971, cô đến Washington, D.C. làm việc cho uỷ ban của Thượng nghị sĩ Walter Mondale về người lao động nhập cư, nghiên cứu những vấn đề của người nhập cư như nhà ở, vệ sinh, sức khoẻ và giáo dục.[22] Mùa hè năm 1972, Rodham làm việc tại các tiểu bang miền tây cho chiến dịch tranh cử của ứng cử viên tổng thống Đảng Dân chủ George McGovern. Suốt trong năm thứ hai tại trường luật, cô làm việc thiện nguyện cho Trung tâm Nghiên cứu Trẻ em Yale,[23] học biết về những nghiên cứu mới về sự phát triển não của trẻ.[21][24] Cô cũng nghiên cứu các trường hợp lạm dụng trẻ em ở Bệnh viện New Haven và làm việc tại văn phòng Dịch vụ Luật pháp của thành phố, cung ứng dịch vụ pháp lý miễn phí cho dân nghèo.[23] Năm 1973, Rodham nhận văn bằng Tiến sĩ Luật (J.D.)[16] tại Yale với luận án về quyền trẻ em, rồi bắt đầu một năm nghiên cứu trong chương trình cao học về trẻ em và y học tại Trung tâm Nghiên cứu Trẻ em Yale.

1972–1992[sửa | sửa mã nguồn]

Hillary Clinton, năm 1992

Trong thời gian làm nghiên cứu cao học, Rodham hoạt động với tư cách luật sư cho Quỹ Bảo vệ Trẻ em.[25] Suốt trong năm 1974, cô được mời làm việc trong ban thẩm tra luận tội tổng thống, cố vấn cho Uỷ ban Tư pháp của Hạ viện suốt trong vụ tai tiếng Watergate.[26] Tháng 8 năm 1974, Rodham gia nhập ban giáo sư (là một trong hai phụ nữ duy nhất ở đây) của Trường Luật thuộc Đại học Arkansas,[27]Fayettville, bạn trai cũng là bạn cùng lớp của cô, Bill Clinton, đang giảng dạy tại đây. Năm 1975, Rodham kết hôn với Clinton và đến sống ở Little Rock, tiểu bang Arkansas.[28] Ngày 11 tháng 10, hôn lễ tổ chức tại nhà theo nghi lễ Giám Lý.[29] Tháng 2 năm 1977, Hillary Rodham đến làm việc cho Công ty Luật Rose,[30] chuyên về các vụ án về quyền sở hữu trí tuệ[20] trong khi vẫn tiếp tục các hoạt động pháp lý bảo vệ trẻ em pro bono (thiện nguyện), nhưng hiếm khi tranh luận trước tòa.[31] Năm 1979, cô là phụ nữ đầu tiên trở nên thành viên chính thức của Công ty Luật Rose thế lực và nhiều uy tín. Năm 1978, Tổng thống Jimmy Carter bổ nhiệm Rodham vào ban giám đốc Công ty Dịch vụ Pháp lý.[32]

Đệ nhất Phu nhân Tiểu bang Arkansas[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 1978, khi Bill Clinton đắc cử thống đốc Arkansas, Rodham trở nên Đệ nhất Phu nhân của tiểu bang, danh hiệu này được kéo dài trong thời gian tổng cộng là 12 năm. Ngày 27 tháng 2 năm 1980, Rodham sinh Chelsea, con gái duy nhất của gia đình Clinton.

Năm 1980, Bill Clinton bị đánh bại khi ra tranh cử nhiệm kỳ hai, cả hai phải dọn ra khỏi công thự tiểu bang. Tháng 2 năm 1982, Clinton ra tranh cử lần nữa và thành công; lúc này Rodham bắt đầu sử dụng tên Hillary Rodham Clinton.

Với tư cách đệ nhất phu nhân, Clinton chủ tọa Uỷ ban Tiêu chuẩn Giáo dục Arkansas, vượt qua những chống đối để thông qua bảng tiêu chuẩn cho giáo viên mới.[33][34] Bà cũng lãnh đạo Uỷ ban Tư vấn Sức khoẻ Nông thôn[35] và giới thiệu chương trình thí điểm gọi là Chương trình hướng dẫn gia đình cho trẻ trước khi đến trường, huấn luyện cha mẹ phương pháp chuẩn bị trẻ đến trường.[36] Clinton được vinh danh là Phụ nữ của Năm bang Arkansas năm 1983 và Người mẹ của Năm bang Arkansas năm 1984.[37][38]

Trong thời gian giữ cương vị đệ nhất phu nhân, Clinton vẫn tiếp tục hành nghề luật với Công ty Luật Rose. Năm 19881991, Tạp chí Luật Quốc gia chọn Clinton vào trong danh sách 100 luật sư có ảnh hưởng lớn nhất nước Mỹ. Clinton đồng sáng lập Tổ chức Bảo vệ Gia đình và Trẻ em Arkansas và phục vụ trong ban giám đốc của Dịch vụ Pháp lý của Bệnh viện Nhi đồng Arkansas và Quỹ Bảo vệ Trẻ em.

Đệ nhất Phu nhân Hoa Kỳ (1993-2001)[sửa | sửa mã nguồn]

Gia đình Clinton tới Nhà Trắng năm 1993

Sau khi Bill Clinton thắng cử năm 1992 để chuẩn bị bước vào Nhà Trắng, năm 1993 Hillary Rodham Clinton trở nên Đệ nhất Phu nhân Hoa Kỳ. Bà là đệ nhất phu nhân đầu tiên có học vị thạc sĩ[39] và từng thành công trong nghề nghiệp chuyên môn.[39] Nhiều người xem bà là phu nhân tổng thống được chính thức dành cho nhiều quyền hạn nhất, hơn cả Eleanor Roosevelt.[40][41]

Năm 1993, Tổng thống bổ nhiệm phu nhân lãnh đạo Chương trình Cải cách Chăm sóc Sức khoẻ Quốc gia,[42] thường được gọi là kế hoạch chăm sóc sức khoẻ Clinton hoặc gọi theo cách dè bỉu bởi những người chống đối là "Hillarycare",[43] nhưng không giành đủ hậu thuẫn để được thông qua tại lưỡng viện của Quốc hội mặc dù Đảng Dân chủ chiếm đa số tại hai định chế này; đến tháng 9 năm 1994, kế hoạch này phải bỏ dở. Trong cuốn hồi ký Living History, Clinton thừa nhận sự thiếu kinh nghiệm của mình đã góp phần vào sự thất bại, nhưng bà cũng cho rằng còn có những yếu tố khác đã giúp làm chết đề án. Cùng lúc, Đảng Cộng hoà khai thác sự thất bại này trong cuộc bầu cử giữa nhiệm kỳ năm 1994 để dành thêm 53 ghế ở Hạ viện và 7 ghế tại Thượng viện.

Vào lúc này, có nhiều tiếng nói chỉ trích cho rằng thật bất xứng khi đệ nhất phu nhân đóng vai trò trọng tâm trong lĩnh vực hoạch định chính sách công, trong khi những người ủng hộ lập luận rằng Clinton không làm gì khác hơn những cố vấn của Nhà Trắng, hơn nữa, cử tri mong đợi đệ nhất phu nhân thủ giữ một vai trò tích cực trong nhiệm kỳ tổng thống của chồng. Thật vây, suốt trong chiến dịch vận động tranh cử, Bill Clinton đã nói rõ rằng khi cử tri bỏ phiếu cho ông tức là có được "hai trong một". Lời nhận xét dí dỏm này đã dẫn đến những suy diễn cho rằng cả hai đang hành xử quyền lực của "đồng Tổng thống", đôi khi còn được gọi với biệt danh "Billary".

Trong cương vị đệ nhất phu nhân, Clinton giành được sự ngưỡng mộ của nhiều người vì tính kiên định trong lập trường ủng hộ quyền phụ nữ trên khắp thế giới cũng như những cống hiến của bà cho các vấn đề trẻ em. Năm 1997, bà khởi xướng Chương trình Bảo hiểm Y tế Trẻ em,[44][45][46][47] một nỗ lực cấp liên bang nhằm hỗ trợ trẻ em có cha mẹ không đủ khả năng tài chính chi trả chi phí y tế cho con mình.[47]

Cùng với Bộ trưởng Tư pháp Janet Reno, Clinton giúp thành lập Văn phòng chống Bạo hành Phụ nữ thuộc Bộ Tư pháp. Đệ nhất phu nhân ở trong số một ít nhân vật quốc tế vào lúc ấy lên tiếng chỉ trích chính sách đối xử với phụ nữ tại Afghanistan của chính phủ Hồi giáo bảo thủ Taliban.[48][49] Một trong những chương trình bà góp phần kiến tạo là Vital Voices, cổ xuý sự tham gia tích cực của phụ nữ vào tiến trình chính trị tại đất nước của họ.[50]

"Chúng ta có mặt ở đây để đấu tranh cho quyền lợi của phụ nữ, để thăng tiến nền dân chủ, và để khẳng định rằng hai điều này không thể tách rời khỏi nhau. Không thể nào có một nền dân chủ chân chính trừ khi tiếng nói của phụ nữ được lắng nghe."

Hillary Clinton, Diễn văn đọc tại Hội nghị Vital Voices ở Vienna, Áo (11 tháng 7 năm 1997)

Trong cương vị đệ nhất phu nhân, Clinton xúc tiến nhiều hoạt động bên ngoài lĩnh vực chính trị như Đề án Thiên niên kỷ với những buổi diễn thuyết được tổ chức hằng tháng khảo cứu lịch sử để tiên báo tương lai của nước Mỹ. Một trong những bài diễn thuyết này được truyền trực tuyến lần đầu tiên từ Toà Bạch Ốc. Clinton cũng cho thiết lập Vườn Điêu khắc, trưng bày những tác phẩm nghệ thuật đương đại của nước Mỹ mượn từ các viện bảo tàng. Những tác phẩm này được đặt trong Vườn Jacqueline Kennedy.[51]

Trong Nhà Trắng, Clinton cho trưng bày đồ mỹ nghệ đương đại do các nghệ nhân Mỹ trao tặng trong các căn phòng nghi lễ. Bà cho phục hồi Phòng Xanh theo đúng những chi tiết lịch sử thời kỳ James Monroe,[52] và tái thiết Phòng Hiệp ước vào phòng làm việc của tổng thống trên tầng hai theo phong cách thế kỷ 19.[53] Trong những lều bạt lớn màu trắng đặt ở Bãi cỏ phía Nam có sức chứa vài ngàn khách mời, Clinton tổ chức những buổi tiếp tân cho các sự kiện lớn, như trong ngày lễ Thánh Patrick bà mở tiệc chiêu đãi những nhân vật tiếng tăm đến từ Trung Quốc, tổ chức một buổi hoà nhạc gây quỹ cho chương trình âm nhạc học đường. Tại đây, bà tổ chức buổi họp mặt Tất niên vào thời điểm chuyển giao thế kỷ, một quốc yến kỷ niệm Toà Bạch Ốc hai trăm năm vào tháng 11 năm 2000, với sự hiện diện của các cựu tổng thống và cựu đệ nhất phu nhân tại toà nhà này đông hơn hết trong lịch sử đất nước này.

Chuyện tình Clinton[sửa | sửa mã nguồn]

Hillary và Bill

Hillary Rodham và Bill Clinton gặp nhau tại Trường Luật Đại học Yale, khi ấy cả hai là sinh viên đang theo học tại đây. Ngày 11 tháng 10 năm 1975, Hillary 27 tuổi, Bill 28, kết hôn tại Fayetteville, Arkansas. Cặp vợ chồng mới về sống trong một căn nhà nhỏ mà Bill đã bí mật mua trước đó trong một thời gian ngắn trước khi dọn về Little Rock, Arkansas, khi Bill xúc tiến chiến dịch vận động tranh cử vào Quốc hội Hoa Kỳ.

Năm 1998, mối quan hệ trong gia đình Clinton trở thành mục tiêu của nhiều lời đồn đại và suy diễn về vụ tai tiếng Lewinsky khi tổng thống thừa nhận có quan hệ tình dục với cựu thực tập sinh tại Nhà Trắng, Monica Lewinsky.[54] Lúc đầu, Hillary cho rằng những cáo buộc chống lại chồng bà đến từ một "âm mưu của cánh hữu".[55] Sau những chứng cớ rõ ràng về mối quan hệ giữa tổng thống và Lewinsky, bà bày tỏ sự vững tin vào sự bền vững của mối quan hệ hôn nhân với chồng.[56] Về sau, cả hai thú nhận trong hồi ký đó là thời kỳ khó khăn và nhiều đau đớn trong hôn nhân của họ.

Suốt trong sự nghiệp chính trị của mình, Tổng thống Clinton luôn bị đeo đuổi bởi những tin đồn về các mối quan hệ ngoài hôn nhân. Những tin đồn ngày càng trở nên đáng tin, nhất là sau vụ tai tiếng Lewinsky. Trong cuốn hồi ký, Bill Clinton xác nhận "mối quan hệ lẽ ra không nên có" với Gennifer Flowers, một ca sĩ quán rượu ở Arkansas. Những điều này đem đến cho đệ nhất phu nhân một cảm giác lẫn lộn giữa sự đồng cảm và sự khinh miệt. Trong khi nhiều phụ nữ tỏ ra thông cảm với bà như là nạn nhân của cách cư xử vô cảm của ông chồng, những người khác xem bà như là tác nhân gây ra thái độ vô trách nhiệm của chồng do bà không hề quan tâm đến việc tìm kiếm sự ly dị, và cho rằng có thể bà đang sử dụng những điều này nhằm làm gia tăng ảnh hưởng chính trị của chính mình.[57] Trong cuốn Living History, Hillary Clinton giải thích rằng chính tình yêu đã khiến bà duy trì cuộc sống chung với chồng. "Không ai hiểu tôi hơn Bill, cũng không ai có thể làm tôi cười như cách Bill vẫn làm. Ngay cả sau những năm khó khăn ấy, Bill vẫn là người sinh động, đầy sinh lực và thú vị nhất mà tôi từng gặp. Mùa xuân năm 1971 là lúc Bill và tôi lần đầu trò chuyện với nhau, đã hơn ba mươi năm trôi qua, chúng tôi vẫn tiếp tục trò chuyện với nhau".[58]

Khi Bill Clinton phải giải phẫu tim vào tháng 10 năm 2004, Hillary, khi ấy là thượng nghị sĩ đại diện tiểu bang New York, huỷ bỏ lịch làm việc để có thể ở bên cạnh chồng tại Trung tâm Y khoa Đại học Columbia thuộc Bệnh viện Trưởng Lão New York.

Cuộc đua vào Thượng viện năm 2000[sửa | sửa mã nguồn]

Gia đình Clinton và gia đình Al Gore

Khi Thượng nghị sĩ Daniel Patrick Moynihan, trong nhiều năm đại diện cho tiểu bang New York tại Quốc hội, tuyên bố về hưu, các chính trị gia Đảng Dân chủ, trong đó có Charlie Rangel, cố thuyết phục Clinton tranh cử cho chiếc ghế của New York tại Thượng viện trong cuộc tuyển cử năm 2000.[59] Khi quyết định ra tranh cử, Clinton dọn về New York, trở thành đệ nhất phu nhân Hoa Kỳ đầu tiên ra tranh một chức vụ dân cử.[60] Lúc đầu, đối thủ của bà là Thị trưởng thành phố New York, Rudy Giuliani, nhưng về sau Giuliani rút lui sau khi được chẩn đoán mắc bệnh ung thư tuyến tiền liệt và sau khi nhận ra rằng ông đang mất dần sự ủng hộ của công chúng. Thay vào đó là một ứng viên ít tiếng tăm hơn, Rick Lazio, dân biểu đại diện hạt Suffolk ở Long Island. Cuộc đấu sức thu hút sự quan tâm toàn quốc và cả hai ứng viên đều được cung ứng ngân quỹ dồi dào. Cuối cuộc đua, Clinton của Đảng Dân chủ và các ứng viên Đảng Cộng hoà, Lazio và Giuliani, đã tiêu tốn tổng cộng 78 triệu USD.

Khi Clinton có hậu cứ vững chắc ở thành phố New York thì các ứng viên và những nhà quan sát chờ đợi cuộc đua sẽ được quyết định ở vùng thượng New York, nơi sinh sống của 45% cử tri tiểu bang New York. Suốt trong chiến dịch vận động tranh cử, Clinton thề sẽ cải thiện toàn cảnh kinh tế của vùng thượng New York, hứa hẹn kế hoạch của bà sẽ cung cấp 200.000 chỗ làm cho New York trong vòng sáu năm. Clinton đến thăm từng hạt khắp tiểu bang trong khuôn khổ "chuyến đi để lắng nghe" để tiếp xúc với từng nhóm nhỏ cử tri.[61]

Ngày 7 tháng 11 năm 2000, Clinton giành được chiến thắng với 55% số phiếu bầu trong khi Lazio chỉ có 43%.[62] Ngày 3 tháng 1 năm 2001, Hillary Clinton tuyên thệ nhậm chức Thượng nghị sĩ Hoa Kỳ.

Thượng nghị sĩ Hoa Kỳ (2001-2009)[sửa | sửa mã nguồn]

Khi Clinton bước vào hàng ngũ 100 thượng nghị sĩ liên bang, nhiều người tin rằng bà buộc phải chấp nhận một vị trí thấp kém để học hỏi qui trình lập pháp cùng lúc với nỗ lực xây dựng các mối quan hệ với các thượng nghị sĩ từ cả hai chính đảng.[63] Trong thực tế, khi Elizabeth Dole (Cộng hoà-Bắc Carolina) gia nhập Thượng viện năm 2003 trong một tình thế tương tự, cũng phải chấp nhận cách tiếp cận giống như Clinton làm sau này, cũng giống chính trị gia hiện đang trên đà thăng tiến Barack Obama (Dân chủ- Illinois) trong năm 2005. Clinton mau chóng thiết lập mối quan hệ đồng minh với các đồng sự mộ đạo, và thường xuyên tham dự Bữa Ăn sáng Cầu nguyện tại Thượng viện.[64]

Thượng nghị sĩ Clinton có chân trong năm ủy ban của thượng viện và được phân nhiệm làm việc tại tám tiểu ban: Ủy ban Ngân sách (2001–2002),[65] Uỷ ban Quân bị (từ năm 2003),[66] với nhiệm vụ tại ba tiểu ban trực thuộc; Uỷ ban Môi trường và Công chánh (từ năm 2001),[65] cùng với ba tiểu ban trực thuộc; Uỷ ban Y tế, Giáo dục, Lao động và Hưu trí (từ năm 2001)[65] với hai tiểu ban; và Uỷ ban đặc biệt về Lão vụ.[67]

Sau Vụ Tấn công Khủng bố ngày 11 tháng 9 năm 2001, Clinton xem vấn đề an ninh nội địa là ưu tiên hàng đầu, chú trọng đặc biệt đến tiến trình gây quỹ tái thiết và cải thiện khả năng phòng thủ trong khu vực thành phố New York. Cộng tác với Thượng nghị sĩ Schumer, Clinton vận động ngân quỹ 21,4 tỉ USD nhằm hỗ trợ công tác thu dọn và tái thiết cũng như theo dõi tình trạng sức khoẻ của các nhân viên cứu hộ và người thiện nguyện đầu tiên có mặt tại khu bình địa, đồng thời xúc tiến các chương trình trợ giúp để tái phát triển.[64][68] Trong năm 2005, Clinton công bố cho các uỷ ban địa phương và những người tham gia cứu hộ hai bản nghiên cứu về các khoản tiền đã được chi trích từ quỹ an ninh nội địa.

Hillary Clinton diễn thuyết tại Chicago, 13 tháng 4 năm 2006.

Sử dụng vị thế của mình tại Uỷ ban Quân bị Thượng viện, Clinton bày tỏ lập trường mạnh mẽ ủng hộ việc quân đội Mỹ can thiệp vào Afghanistan - với lợi ích đi kèm là cơ hội cải thiện đời sống của phụ nữ tại xứ sở này, những người đã phải chịu đựng những bất hạnh khủng khiếp dưới quyền cai trị của Taliban[69] – và một sự ủng hộ không mạnh mẽ bằng liên quan đến hành động can thiệp của quân đội Mỹ tại Iraq.

Bà đã đến thăm binh sĩ Mỹ tham chiến tại Afghanistan và Iraq. Tháng 1 năm 2005, Clinton phát biểu rằng phần lớn tình hình tại Iraq đang tiến triển tốt, cuộc bầu cử tại đây đã thành công, và các cuộc nổi dậy sẽ tàn lụi dần.[70] Tháng 7 năm 2005, bà đồng đệ trình dự luật gia tăng lực lượng quân đội Mỹ lên đến 80 ngàn người. Đến cuối năm 2005, khi dấy lên các cuộc tranh cãi dữ dội về việc Hoa Kỳ có nên rút quân khỏi Iraq hay không, Clinton cho rằng triệt thoái lập tức sẽ là "một sai lầm lớn", sẽ biến Iraq thành một sự thất bại, nhưng cam kết của chính phủ Bush duy trì quân đội ở Iraq cũng sẽ khiến người Iraq hiểu sai tín hiệu và tiếp tục dựa dẫm vào người Mỹ. Lập trường trung dung và khá mơ hồ này gây không ít bối rối cho những người tích cực chống chiến tranh thuộc đảng Dân chủ.

Clinton là người lớn tiếng chống đối chủ trương cắt giảm thuế của chính phủ Bush.[71]

Tháng 5 năm 2005, Clinton hợp tác với đối thủ cũ của bà, Chủ tịch Hạ viện Newt Gingrich, trong dự luật chăm sóc sức khoẻ phổ quát. Tháng 6 năm 2005, bà liên minh với Thượng nghị sĩ Bill Frist đẩy mạnh việc hiện đại hoá bệnh án, cho rằng hàng ngàn cái chết do những sai lầm trong điều trị, chẳng hạn như đọc sai đơn thuốc, có thể được ngăn chặn bởi công nghiệp vi tính đáng tin cậy hơn.

Liên quan đến việc phê chuẩn ứng cử viên John Roberts vào Tối cao Pháp viện, tháng 9 năm 2005, Clinton bỏ phiếu chống,[72] "Tôi không tin là ông thẩm phán đã trình bày quan điểm của mình cách rõ ràng đủ để tôi, với lương tâm trong sáng, bỏ phiếu cho ông", nhưng bà cũng hi vọng rằng những nhận xét này là không chính xác. Việc bổ nhiệm Roberts được thông qua với đa số lớn, một nửa số thượng nghị sĩ Dân chủ bỏ phiếu thuận.

Trong trường hợp của Samuel Alito, trong tháng 1 và tháng 2 năm 2006, Clinton không tham gia với các thượng nghị sĩ Dân chủ bỏ phiếu chống, nhưng hợp tác với những thượng nghị sĩ Dân chủ khác ủng hộ việc ngăn cản bỏ phiếu, song nỗ lực này cũng thất bại và Alito được phê chuẩn vào chức vụ thẩm phán Toà án Tối cao.

Ngày 29 tháng 11 năm 2005, cùng Joe Lieberman và Evan Bayh, Clinton giới thiệu Đạo luật Bảo vệ Giải trí Gia đình nhằm bảo vệ trẻ em khỏi những nội dung không thích hợp trong các trò chơi điện tử. Các dự luật với nội dung tương tự đã được đệ trình tại một số tiểu bang như MichiganIllinois nhưng đã bị phủ quyết vì bị cho là vi hiến.

Tháng 7 năm 2004 và tháng 6 năm 2006, Clinton bỏ phiếu chống Tu chính án Hôn nhân Liên bang, tu chính án này cấm hôn nhân đồng tính.[71][73]

Tái tranh cử năm 2006[sửa | sửa mã nguồn]

Tháng 11 năm 2004, Clinton cho biết sẽ tìm kiếm nhiệm kỳ thứ hai tại Thượng viện trong cuộc bầu cử tại New York năm 2006. Có hai nhân vật nổi bật thuộc đảng Cộng hoà sẽ thách thức Clinton là luật sư Ed Cox (con rể của cựu Tổng thống Richard Nixon) và Biện lý Hạt Westchester Jeannine Pirro. Ngày 14 tháng 10 năm 2005, Thống đốc New York George Pataki chính thức ủng hộ Pirro, khiến Cox phải rời cuộc đua. Tuy nhiên, Pirro chỉ bám đuôi Clinton trong thăm dò dư luận và trong khả năng gây quỹ, cuối cùng, vì áp lực bên trong đảng, ngày 21 tháng 12 năm 2005, Pirro đã chính thức rút lui.[74]

Cũng có những thách thức bên trong đảng Dân chủ, đến từ nhóm chống chiến tranh lâu nay bất đồng với Clinton vì lập trường ủng hộ cuộc chiến Iraq của bà. Ngày 6 tháng 12 năm 2005, Jonathan Tasini tuyên bố tranh cử chống lại Clinton, kêu gọi rút quân lập tức khỏi Iraq, xúc tiến kế hoạch chăm sóc y tế phổ quát và điều ông gọi là "Những qui luật mới cho nền kinh tế", một chính sách kinh tế tập trung vào nhân lực đối nghịch với nền kinh tế tập trung vào các công ty của Clinton. Tuy nhiên, Clinton dễ dàng vượt qua Tasini để giành sự để cử của Đảng Dân chủ.[75]

Ngày 7 tháng 11 năm 2006, Clinton đánh bại đối thủ Đảng Cộng hòa John Spencer với 67% số phiếu; Spencer chỉ giành được 31% phiếu của cử tri.[76][77]

Clinton chi tiêu 36 triệu USD cho kỳ tái tranh cử này, nhiều hơn bất kỳ ứng viên nào khác tham dự cuộc đua vào Thượng viện năm 2006. Nhiều thành viên Đảng Dân chủ chỉ trích bà đã chi tiêu quá nhiều, trong khi những người tỏ ra quan ngại vì bà đã không chịu dành lại một phần trong số tiền này cho chiến dịch tranh cử tổng thống năm 2008. Trong những tháng kế tiếp, Clinton đã chuyển 10 triệu USD thuộc quỹ tranh cử Thượng viện vào chiến dịch tranh cử tổng thống của bà.[78]

Triển vọng năm 2008[sửa | sửa mã nguồn]

Clinton tỏ ra quan tâm đến cuộc đua giành ghế tổng thống năm 2008. Đến nay chưa có một chính đảng quan trọng nào đề cử một phụ nữ cho cuộc đua này.

Clinton đã thành công trong việc quảng bá hình ảnh của bà trên toàn quốc đến nỗi khả năng tranh cử tổng thống năm 2008 của bà trở nên một vấn đề thời sự hàng đầu được tranh cãi trong vòng các nhà phê bình và trong công chúng. Tháng 12 năm 2005, CNN, USA TodayGallup phối hợp tổ chức một cuộc thăm dò với kết quả cho thấy 41% đảng viên Dân chủ ủng hộ Clinton cho việc đề cử làm ứng viên tổng thống năm 2008. Trước đó, trong tháng 5 năm 2005, trong một cuộc thăm dò cũng được thực hiện bởi các tổ chức truyền thông trên, khi được hỏi có chắc chắn bỏ phiếu cho Clinton không, câu trả lời của 29% cử tri là rất chắn chắn, 24% khá chắc, 7% là không rất chắc và 39% là không chắc.

Chạy đua vào Nhà Trắng (2008)[sửa | sửa mã nguồn]

Hillary Rodham Clinton

Từ tháng 10 năm 2002, Hillary Clinton đã được xem là ứng cử viên tiềm năng cho chức vụ Tổng thống Hoa Kỳ,[79] khi một bài viết đăng trên New York Times đề cập đến triển vọng này. Sau đó, Clinton được tạp chí Forbes chọn vào danh sách những nhân vật thế lực nhất thế giới, tên của bà cũng xuất hiện trong số 100 nhân vật có nhiều ảnh hưởng nhất thế giới (Time 100) của tạp chí Time. Những cuộc thăm dò dư luận liên tiếp đặt Clinton vào vị trí các chính trị gia được lòng dân nhất của tiểu bang New York. Cùng lúc, Clinton được nhiều người xem là một trong số các nhân vật gây nhiều phân hóa nhất trong chính trường nước Mỹ.

Ngày 20 tháng 1 năm 2007, Thượng Nghị sĩ Hillary Clinton tuyên bố bà sẽ thành lập một ủy ban thăm dò để ứng cử tổng thống năm 2008,[80] với lời tuyên bố "Tôi quyết định nhập cuộc. Tôi tham gia cuộc đua là để chiến thắng".[80] Chưa hề có phụ nữ nào được một chính đảng quan trọng đề cử tranh chức Tổng thống Hoa Kỳ.

Clinton tập hợp một nhóm các cố vấn và những nhà điều hành cho chiến dịch của bà. Patti Solis-Doyle là người phụ nữ Hispanic (các dân tộc nói tiếng Tây Ban Nha) đầu tiên được chọn để điều hành chiến dịch. Làm phó cho Solis-Doyle là Mike Henry, người đã điều hành thành công chiến dịch tranh cử Thống đốc Virginia năm 2005 cho Tim Kaine. Howard Wolfson, một cựu binh của chính trường New York, đảm trách nhiệm vụ phát ngôn nhân. Evelyn S. Lieberman, từng làm việc cho Clinton khi còn là Đệ nhất Phu nhân, cũng từng là Phụ tá Chánh Văn phòng Tòa Bạch Ốc, được chọn làm ủy viên thường trực cho chiến dịch.

Trong sáu tháng đầu năm 2007, Clinton luôn dẫn đầu trong cuộc đua tranh sự đề cử của Đảng Dân chủ. Thượng nghị sĩ Barack Obama đại diện tiểu bang Illinois, và cựu Thượng nghị sĩ John Edwards đến từ Bắc Carolina, là những đối thủ bám sát Clinton.[81] Bà đã lập kỷ lục gây quỹ trong giai đoạn đầu của chiến dịch tranh cử, kế cận bà là Obama.[82]

Tháng 9 năm 2007, các cuộc thăm dò dư luận tại sáu tiểu bang sẽ tổ chức các cuộc bầu cử sơ bộ đầu tiên cho thấy Clinton ở vị trí dẫn đầu.[83] Tháng 10 năm 2007, các cuộc thăm dò toàn quốc đưa ra những chỉ dấu cho thấy Clinton đang bứt trước các đối thủ. Tuy nhiên, đến cuối tháng 10, các cây bút của The Washington Post, ABC News, The Politico, và những phương tiện truyền thống khác đã gây không ít thiệt hại cho hình ảnh của Clinton khi miêu tả bà là phản ứng kém cỏi khi bị tấn công bởi Obama, Edwards, và các đối thủ khác trong cuộc tranh luận tổ chức tại Philadelphia dành cho các ứng cử viên thuộc Đảng Dân chủ.[84][85][86] Đến tháng 12, Clinton mất vị trí dẫn đầu trong các cuộc thăm dò dư luận.[87]

Trong cuộc bầu cử sơ bộ đầu tiên của Đảng Dân chủ năm 2008 diễn ra ở Iowa ngày 3 tháng 1, Clinton về thứ ba với 29, 45% phiếu bầu, sau Obama (37, 58%), và Edwards (29, 75%).[88] Năm ngày sau ở New Hampshire, Clinton giành chiến thắng đáng kinh ngạc với 39% phiếu bầu so với 37% phiếu dành cho Obama.[89] Nhưng khi Bill Clinton và Hillary Clinton đưa ra những nhận xét liên quan đến Martin Luther King, Jr.Lyndon B. Johnson,[90] nhiều người xem đây là những ám chỉ cho rằng Obama là ứng cử viên thiên vị chủng tộc, hoặc chí ít cũng là chối bỏ mọi thành quả hòa hợp chủng tộc của Obama. Mặc dù Clinton, và cả Obama, ra sức làm lắng dịu vấn đề, đã nảy sinh tình trạng phân cực trong vòng cử tri Đảng Dân chủ, kết quả là Clinton đánh mất sự ủng hộ từ nhiều người Mỹ gốc Phi.[91] Clinton thất bại trước Obama trong cuộc bầu cử sơ bộ ngày 26 tháng 1Nam Carolina với tỷ số 55% và 27%.[92] Đến lúc này, Edwards tuyên bố rút lui, để đấu trường chỉ còn lại Clinton và Obama nỗ lực cho ngày Thứ Ba Trọng đại (5 tháng 2). Những tuyên bố của Bill Clinton chỉ thu hút thêm sự chỉ trích, khiến ông trở nên một tai họa cho chiến dịch tranh cử của vợ đến nỗi nhiều ủng hộ viên lên tiếng yêu cầu vị cựu tổng thống nên im lặng.[93] Đến ngày Thứ Ba Trọng đại, Clinton thắng phiếu ở các tiểu bang lớn như California, New York, New Jersey, và Massachusetts, nhưng Obama chiến thắng ở nhiều tiểu bang hơn;[94] số phiếu cử tri đoàn và phiếu phổ thông hầu như chia đều cho cả hai.[94][95]

Rồi Obama chiến thắng trong mười một cuộc bầu cử sơ bộ và bầu kín kế tiếp, thường với cách biệt lớn, và bứt lên dẫn trước Clinton.[96][97][98] Suốt trong chiến dịch tranh cử, Obama thắng trong các cuộc bầu kín, và có kết quả tốt trong các cuộc bầu cử sơ bộ tại những vùng có nhiều người Mỹ gốc Phi, giới trẻ, những người tốt nghiệp đại học, hoặc các cử tri giàu có, trong khi Clinton thành công tại những vùng có nhiều người Hispanic (nói tiếng Tây Ban Nha), người già, người có trình độ học vấn dưới đại học, hoặc giới thợ thuyền da trắng.[99][100] Lời thú nhận của Clinton về tiết lộ đưa ra trong chiến dịch tranh cử nói rằng bà bị bắn sẻ khi đến thăm binh sĩ Mỹ trú đóng ở Căn cứ Không quân Tuzla, Bosnia-Herzegovina là không đúng sự thật[101] thu hút sự chú ý của giới truyền thông, và ảnh hưởng xấu đến uy tín cũng như làm dấy lên những hoài nghi về năng lực của đệ nhất phu nhân trong lĩnh vực ngoại giao.[102] Chiến thắng của Clinton tại Pennsylvania ngày 22 tháng 4 khiến bà nuôi hi vọng,[103] nhưng thắng lợi mong manh ở Indiana, và thất bại cay đắng ở Bắc Carolina hủy hoại các cơ may, và dẫn đến những suy diễn về quyết định rời bỏ cuộc đua.[104] Song, Clinton cho biết bà muốn ở lại để đi cho hết các cuộc bầu cử sơ bộ còn lại,[105], và chiến thắng 41 điểm ở Tây Virginia khiến bà "quyết tâm hơn bao giờ hết".[106]

Trong các cuộc bầu cử sơ bộ sau cùng diễn ra ngày 3 tháng 6 năm 2008, Obama giành đủ số phiếu cần thiết để có thể trở nên ứng cử viên của Đảng Dân chủ.[107] Ngày 7 tháng 6, trong diễn từ đọc trước những người ủng hộ, Clinton tuyên bố chấm dứt cuộc vận động tranh cử, và ủng hộ Obama, "Nay phương cách của chúng ta nhằm hoàn thành những mục tiêu mà chúng ta vẫn luôn đấu tranh là sử dụng năng lực, tình cảm, sức mạnh và mọi điều chúng ta có thể làm để giúp Barak Obama thắng cử."[108].

Ngoại trưởng Hoa Kỳ (2009-2013)[sửa | sửa mã nguồn]

Ngày 1 tháng 12 năm 2008, Tổng thống Mỹ mới đắc cử Barack Obama cho biết ông sẽ đề cử Hillary Clinton làm ngoại trưởng Hoa Kỳ khi ông nhậm chức vào ngày 20 tháng 1 năm 2009[109]. Ngày 21 tháng 1 năm 2009, bà được Thượng viện phê chuẩn và trở thành Ngoại trưởng thứ 67 của Hoa Kỳ. Bà từ chức ghế Ngoại trưởng vào ngày 1 tháng 2 năm 2013. Người kế thừa của bà làm Ngoại trưởng là thượng nghị sĩ John Kerry.

Chính kiến[sửa | sửa mã nguồn]

Chữ ký của Hillary Rodham Clinton

Trong cương vị thượng nghị sĩ quốc hội và cựu đệ nhất phu nhân, Clinton luận giải cách linh hoạt quan điểm của bà về nhiều vấn đề từ khủng bố đến phá thai.

Trong một cuộc khảo sát của Gallup trong tháng 5, năm 2005, 54% người trả lời xem Thượng nghị sĩ Clinton là có quan điểm cấp tiến, 30% cho bà là trung dung và 9% xem bà là bảo thủ.[110]

Một số tổ chức tìm cách xác lập vị trí của Clinton trên thang điểm biểu thị khuynh hướng chính trị của các chính khách:

  • Tập san National Journal (năm 2004) cho Clinton 30 điểm trên thang điểm từ 1 (có quan điểm tự do nhất) đến 100 (bảo thủ nhất).[111]
  • Một bảng phân tích thực hiện bởi các nhà khoa học chính trị như Joshua D. Clinton thuộc Đại học Princeton, Simon Jackman và Doug Rivers thuộc Đại học Stanford xếp Clinton vị trí thứ 6 đến thứ 8 trong số các thượng nghị sĩ có khuynh hướng cấp tiến nhất.[112]
  • The Almanac of American Politics, do Michael Barone và Richard E. Cohen biên tập, xem xét các phiếu bầu của Clinton từ năm 2003 đến 2066 để phân loại cấp tiến hay bảo thủ, theo thang điểm 100, trong ba lĩnh vực Kinh tế, Xã hội, và Ngoại giao; và điểm trung bình trong bốn năm: Kinh tế = 75 cấp tiến, 23 bảo thủ; Xã hội = 83 cấp tiến, 6 bảo thủ; Ngoại giao = 66 cấp tiến, 30 bảo thủ. Trung bình = 75 cấp tiến, 20 bảo thủ.[113]

Tác phẩm[sửa | sửa mã nguồn]

Khi còn là đệ nhất phu nhân, Clinton cho xuất bản Talking It Over, gồm những bài viết hằng tuần đăng trên nhật báo, tập chú vào kinh nghiệm bản thân và những quan sát của bà về phụ nữ, trẻ em và gia đình mà bà thu thập được khi du hành khắp nơi trên thế giới.[9]

Tác phẩm của Clinton xuất bản năm 1996 It Takes a Village: And Other Lessons Children Teach Us được đưa vào bản liệt kê sách bán chạy nhất của New York Times,[114] đến năm 1997 bà được trao giải thưởng Grammy cho album đọc hay nhất nhờ phần ghi âm giọng đọc của bà cho tác phẩm trên.[114] Tựa đề cuốn sách lấy từ một câu châm ngôn đến từ châu Phi "cần cả một làng để nuôi dạy một đứa trẻ".

Những cuốn sách khác được xuất bản khi Clinton còn là đệ nhất phu nhân gồm có An Invitation to the White House: At Home with History (Lời mời đến Toà Bạch Ốc: Sống với lịch sử) phát hành năm 2000 và Dear Socks, Dear Buddy: Kid’s Letter to the First Pets (năm 1998).

Hồi ký của Clinton là một tác phẩm dày 562 trang Living History, phát hành năm 2003, bán hơn một triệu ấn bản ngay trong tháng đầu tiên. Nhà xuất bản Simon & Schuster trả trước cho bà 8 triệu USD,[115] con số kỷ lục vào lúc ấy. Phần ghi âm của bà cho quyển Living History giúp giành được đề cử lần thứ hai giải Grammy cho album đọc hay nhất.[116] Living History đã được dịch sang vài ngôn ngữ khác, trong đó có tiếng Hoa.

Dù vậy, Clinton bị chỉ trích là đã không thừa nhận đúng mức những đóng góp của những người viết văn thuê trong các tác phẩm đã xuất bản của bà.

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Năm 1995, Clinton nói rằng mẹ bà đã đặt tên bà theo Edmund Hillary, người cùng với Sherpa Tenzing trèo lên đỉnh Everest đầu tiên, và là lý do tên bà có hai chữ "L", một điều hiếm có. Tuy nhiên, việc trèo lên đỉnh Everest không xảy ra cho đến năm 1953, trên 5 năm sau khi bà đã sinh ra. Tháng 10 năm 2006, một phát ngôn nhân của Clinton nói rằng bà không được đặt theo nhà leo núi, mà câu chuyện này chỉ là một "câu chuyện gia đình đáng yêu mà mẹ bà đã kể để tạo nguồn cảm hứng cho sự vĩ đại của con gái mình, và tôi muốn nói rằng nó rất hiệu quả." See Hakim, Danny (17 tháng 10 năm 2006). “Hillary, Not as in the Mount Everest Guy”. The New York Times. Truy cập ngày 25 tháng 4 năm 2008.  and “Hillary vs. Hillary”. Snopes.com. 26 tháng 10 năm 2006. Truy cập ngày 23 tháng 11 năm 2007. 
  2. ^ O'Laughlin, Dania (Summer 2003). “Edgewater Hospital 1929–2001”. Edgewater Historical Society. Truy cập ngày 10 tháng 6 năm 2007. 
  3. ^ Clinton 2003, p. 7.
  4. ^ Roberts, Gary Boyd. “Notes on the Ancestry of Senator Hillary Rodham Clinton”. New England Historic Genealogical Society. Truy cập ngày 25 tháng 5 năm 2008. 
  5. ^ Clinton 2003, p. 8.
  6. ^ Morris 1996, p. 113.
  7. ^ Bernstein 2007, p. 29.
  8. ^ Bernstein 2007, pp. 30–31.
  9. ^ a ă “Hillary Rodham Clinton”. The White House. Truy cập ngày 22 tháng 8 năm 2006. 
  10. ^ Middendorf, J. William (2006). Glorious Disaster: Barry Goldwater's Presidential Campaign And the Origins of the Conservative Movement. Basic Books. ISBN 0-465-04573-1.  p. 266.
  11. ^ Troy 2006, p. 15.
  12. ^ Gerth and Van Natta Jr. 2007, pp. 18–21. The teacher, Paul Carlson, and the minister, Donald Jones, came into conflict in Park Ridge; Clinton would later see that "as an early indication of the cultural, political and religious fault lines that developed across America in the [next] forty years" (Clinton 2003, p. 23).
  13. ^ Clinton, Hillary Rodham (29 tháng 5 năm 1992). “Hillary Rodham Clinton Remarks to Wellesley College Class of 1992”. Wellesley College. Bản gốc lưu trữ ngày 5 tháng 8 năm 2012. Truy cập ngày 1 tháng 6 năm 2007. 
  14. ^ Clinton 2003, p. 31.
  15. ^ “Wellesley College Republicans: History and Purpose”. Wellesley College. 16 tháng 5 năm 2007. Bản gốc lưu trữ ngày 6 tháng 8 năm 2012. Truy cập ngày 2 tháng 6 năm 2007.  Gives organization's prior name.
  16. ^ a ă “Hillary Rodham Clinton”. The New York Times. Truy cập ngày 13 tháng 4 năm 2008. 
  17. ^ Rodham, Hillary (1969-05-31). “Wellesley College 1969 Student Commencement Speech”. Wellesley College. Bản gốc lưu trữ ngày 25 tháng 5 năm 2012. Truy cập ngày 22 tháng 8 năm 2006. 
  18. ^ “The Class of '69”. Life. 20 tháng 6 năm 1969.  The article features Rodham and two student commencement speakers from other schools, with photos and excerpts from their speeches.
  19. ^ Gerth and Van Natta Jr. 2007, pp. 34–36.
  20. ^ a ă “Hillary Diane Rodham Clinton (1947–)”. The Encyclopedia of Arkansas History & Culture. Truy cập ngày 8 tháng 4 năm 2007. 
  21. ^ a ă Bernstein 2007, p. 75.
  22. ^ Morris 1996, pp. 142–143.
  23. ^ a ă Gerth and Van Natta Jr. 2007, pp. 42–43.
  24. ^ The authors of Beyond the Best Interests of the Child were Center director Al Solnit, Yale Law professor Joe Goldstein, and Anna Freud.
  25. ^ Bernstein 2007, pp. 91–92.
  26. ^ Clinton 2003, pp. 65–69.
  27. ^ Clinton 2003, p. 70.
  28. ^ Bernstein 2007, p. 120.
  29. ^ Clinton 2003, p. 75.
  30. ^ Bernstein 2007, pp. 128, 130. The firm was actually called Rose, Nash, Williamson, Carroll, Clay & Giroir at the time; it simplified its name to Rose Law Firm in 1980.
  31. ^ Bernstein 2007, pp. 131–132.
  32. ^ “Jimmy Carter: Nominations Submitted to the Senate, Week Ending Friday, December 16th, 1977”. American Presidency Project. Truy cập ngày 3 tháng 9 năm 2007. 
  33. ^ Bernstein 2007, pp. 170–175. Bernstein states that "the political battle for education reform... would be her greatest accomplishment in public life until she was elected to the U.S. Senate."
  34. ^ “Hillary Clinton Guides Movement to Change Public Education in Arkansas”. Old State House Museum. Spring 1993. Truy cập ngày 22 tháng 8 năm 2006. 
  35. ^ Kelly, Michael (20 tháng 1 năm 1993). “The First Couple: A Union of Mind and Ambition”. The New York Times. Truy cập ngày 26 tháng 4 năm 2008. 
  36. ^ Kearney, Janis F. (2006). Conversations: William Jefferson Clinton, from Hope to Harlem. Writing Our World Press. ISBN 0976205815.  p. 295.
  37. ^ Morris 1996, p. 330.
  38. ^ Brock 1996, pp. 176–177.
  39. ^ a ă Williams, Jasim K (30 tháng 10 năm 2006). “Hillary Rodham Clinton”. New York Post. Truy cập ngày 27 tháng 4 năm 2008.  Clinton had the first post-graduate degree through regular study and scholarly work. Eleanor Roosevelt had been previously awarded a post-graduate honorary degree. Clinton's successor Laura Bush became the second First Lady with a post-graduate degree.
  40. ^ Troy 2006, p. xii.
  41. ^ Rajghatta, Chidanand (January-tháng 2 năm 2004). “First Lady President?”. Verve magazine. 
  42. ^ Bernstein 2007, pp. 170–175.
  43. ^ Klein, Joe (4 tháng 12 năm 2005). “The Republican Who Thinks Big on Health Care”. Time. Truy cập ngày 22 tháng 8 năm 2006. 
  44. ^ Fouhy, Beth (6 tháng 10 năm 2007). “Clinton Claims Credit for Child Program”. Associated Press published by The Boston Globe. Truy cập ngày 28 tháng 4 năm 2008. 
  45. ^ Milligan, Susan (14 tháng 3 năm 2008). “Clinton role in health program disputed”. The Boston Globe. Truy cập ngày 15 tháng 3 năm 2008. 
  46. ^ Tumulty, Karen; Duffy, Michael; Calabresi, Massimo (13 tháng 3 năm 2008). “Assessing Clinton's "Experience": Children's Health Care”. Time. Truy cập ngày 17 tháng 3 năm 2008. 
  47. ^ a ă Jackson, Brooks (18 tháng 3 năm 2008). “Giving Hillary Credit for SCHIP”. FactCheck.org. Truy cập ngày 19 tháng 3 năm 2008. 
  48. ^ Taliban: Islam, Oil and the New Great Game in Central Asia. I.B. Tauris. 2002. ISBN 1860648304.  Đã bỏ qua văn bản “ author[[Ahmed Rashid|Rashid, Ahmed]] ” (trợ giúp) pp. 70, 182.
  49. ^ “Feminist Majority Joins European Parliament's Call to End Gender Apartheid in Afghanistan”. Feminist Majority. Spring 1998. Truy cập ngày 26 tháng 9 năm 2007. 
  50. ^ “Vital Voices — Our History”. Vital Voices. 2000. Truy cập ngày 23 tháng 3 năm 2007. 
  51. ^ “Remarks By First Lady Hillary Rodham Clinton at The Sculpture Garden Reception”. The White House. 5 tháng 1 năm 1996. Truy cập ngày 23 tháng 3 năm 2007. 
  52. ^ Graff, Henry Franklin (2002). The Presidents: A Reference History. Simon & Schuster. ISBN 0684312263.  p. liii.
  53. ^ Lindsay, Rae (2001). The Presidents' First Ladies. R & R Writers/Agents. ISBN 0965375331.  pp. 248–249.
  54. ^ Troy 2006, pp. 176–177.
  55. ^ Troy 2006, p. 183.
  56. ^ Bernstein 2007, p. 517.
  57. ^ Gerth and Van Natta Jr. 2007, p. 195.
  58. ^ Clinton 2003, p. 94.
  59. ^ Bernstein 2007, p. 530.
  60. ^ Gerth and Van Natta Jr. 2007, p. 204.
  61. ^ Gerth and Van Natta Jr. 2007, p. 210.
  62. ^ Gerth and Van Natta Jr. 2007, pp. 212–213.
  63. ^ Chaddock, Gail Russell (10 tháng 3 năm 2003). “Clinton's quiet path to power”. Christian Science Monitor. Truy cập ngày 22 tháng 8 năm 2006. 
  64. ^ a ă Bernstein 2007, p. 548.
  65. ^ a ă â “Senate Temporary Committee Chairs”. University of Michigan Documents Center. 24 tháng 5 năm 2001. Truy cập ngày 30 tháng 5 năm 2007. 
  66. ^ Gerth, Jeff; Van Natta Jr., Don (29 tháng 5 năm 2007). “Hillary's War”. The New York Times Magazine. Truy cập ngày 30 tháng 5 năm 2007. 
  67. ^ “Committees”. Official Senate web site. Truy cập ngày 27 tháng 9 năm 2007. 
  68. ^ Gerth and Van Natta Jr. 2007, pp. 231–232.
  69. ^ Clinton, Hillary (24 tháng 11 năm 2001). “New Hope For Afghanistan's Women”. Time. Truy cập ngày 22 tháng 8 năm 2006. 
  70. ^ “Clinton says insurgency is failing”. Associated Press published for USA Today. 19 tháng 2 năm 2005. Truy cập ngày 29 tháng 8 năm 2006. 
  71. ^ a ă “Senator Hillary Rodham Clinton - Voting Record”. Project Vote Smart. Truy cập ngày 14 tháng 4 năm 2008. 
  72. ^ “Statement of Senator Hillary Rodham Clinton on the Nomination of John Roberts to be Chief Justice of the United States”. Clinton.Senate.gov. 2005-09-22. Truy cập ngày 22 tháng 8 năm 2006. 
  73. ^ “Gay marriage ban defeated in Senate vote”. Associated Press for MSNBC. 7 tháng 6 năm 2006. Truy cập ngày 14 tháng 4 năm 2008. 
  74. ^ Hirschkorn, Phil (21 tháng 12 năm 2005). “Sen. Clinton's GOP challenger quits race”. CNN. Truy cập ngày 22 tháng 8 năm 2006. 
  75. ^ “GOP Primary Turnout Was Lowest In More Than 30 Years”. Newsday. 17 tháng 9 năm 2006. 
  76. ^ “New York State Board of Elections, General Election Results”. New York State. 2006-12-14. Truy cập ngày 16 tháng 12 năm 2006. 
  77. ^ “Is America Ready?”. Newsweek. 25 tháng 12 năm 2006. Truy cập ngày 27 tháng 9 năm 2007. 
  78. ^ “Record millions roll in for Clinton White House bid”. CNN. 1 tháng 4 năm 2007. Truy cập ngày 2 tháng 4 năm 2007. 
  79. ^ Bernstein 2007, pp. 550–552.
  80. ^ a ă Gerth and Van Natta Jr. 2007, p. 5.
  81. ^ Langer, Gary; Craighill, Peyton M (21 tháng 1 năm 2007). “Clinton Leads '08 Dems; No Bounce for Obama”. ABC News. Truy cập ngày 5 tháng 2 năm 2007. 
  82. ^ “Clinton outpaces Obama in fundraising for third quarter”. CNN. 2 tháng 10 năm 2007. Truy cập ngày 12 tháng 5 năm 2008. 
  83. ^ “Hillary Clinton Leaps Ahead In Latest Democratic Poll”. Fox News. 3 tháng 10 năm 2007. Truy cập ngày 4 tháng 10 năm 2007. 
  84. ^ Kornblut, Anne E.; Balz, Dan (1 tháng 11 năm 2007). “Clinton Regroups As Rivals Pounce”. The Washington Post. Truy cập ngày 2 tháng 11 năm 2007. 
  85. ^ Tapper, Jake (31 tháng 10 năm 2007). “Hillary Gets Poor Grades at Drexel Debate”. Political Punch (ABC News). Truy cập ngày 2 tháng 11 năm 2007. 
  86. ^ Simon, Roger (31 tháng 10 năm 2007). “Obama, Edwards attack; Clinton bombs debate”. The Politico. Truy cập ngày 2 tháng 11 năm 2007. 
  87. ^ “Clinton shouldn't worry just about IA”. MSNBC. 9 tháng 12 năm 2007. Truy cập ngày 10 tháng 12 năm 2007. 
  88. ^ “Iowa Democratic Party Caucus Results”. Iowa Democratic Party. Truy cập ngày 23 tháng 1 năm 2008. 
  89. ^ “Official Results”. Associated Press. 10 tháng 1 năm 2008. Truy cập ngày 13 tháng 1 năm 2008. 
  90. ^ Hillary Clinton said to a news correspondent asking for reaction to an Obama remark earlier in the day about his possibly representing false hope: "I would point to the fact that that Dr. King’s dream began to be realized when President Johnson passed the Civil Rights Act of 1964, when he was able to get through Congress something that President Kennedy was hopeful to do, the President before had not even tried, but it took a president to get it done. That dream became a reality, the power of that dream became real in people’s lives because we had a president who said we are going to do it, and actually got it accomplished." See for transcript: Hulse, Carl; Healy, Patrick (11 tháng 1 năm 2008). “Bill Clinton Tries to Tamp Down ‘Fairy-Tale’ Remark About Obama”. The New York Times. Truy cập ngày 28 tháng 1 năm 2008.  See for actual interview: Garrett, Major (7 tháng 1 năm 2008). “Clinton’s Candid Assessment”. Fox News. Truy cập ngày 28 tháng 1 năm 2008. 
  91. ^ Luce, Edward (17 tháng 1 năm 2008). “'Truce' has little impact on black vote”. Financial Times. Truy cập ngày 18 tháng 1 năm 2008. 
  92. ^ “Obama claims big win in South Carolina”. CNN. 26 tháng 1 năm 2008. Truy cập ngày 26 tháng 1 năm 2008. 
  93. ^ Crowley, Candy (28 tháng 1 năm 2008). “Clinton campaign advisers: Bill Clinton 'needs to stop'”. CNN. Truy cập ngày 28 tháng 1 năm 2008. 
  94. ^ a ă “Results: February 5 - Super Tuesday”. CNN. 25 tháng 2 năm 2008. Truy cập ngày 15 tháng 3 năm 2008. 
  95. ^ Tumulty, Karen (6 tháng 2 năm 2008). “Super Tuesday: The Most Interesting Number of All”. Time.com. Truy cập ngày 7 tháng 2 năm 2008. 
  96. ^ Adams, Glenn (11 tháng 2 năm 2008). “Obama defeats Clinton in Maine caucuses”. ABC News. Truy cập ngày 24 tháng 4 năm 2008. 
  97. ^ Broder, John M.; Sussman, Dalia (13 tháng 2 năm 2008). “Obama and McCain Sweep 3 Primaries”. The New York Times. Truy cập ngày 14 tháng 2 năm 2008. 
  98. ^ “Obama, McCain extend winning streaks”. CNN. 20 tháng 2 năm 2008. Truy cập ngày 20 tháng 2 năm 2008. 
  99. ^ Phillips, Matt (18 tháng 3 năm 2008). “Pennsylvania Pitch: Can Obama Connect With Lower-Income Whites?”. The Wall Street Journal. Truy cập ngày 22 tháng 4 năm 2008. 
  100. ^ Seelye, Katherine Q (22 tháng 4 năm 2008). “In Clinton vs. Obama, Age Is a Great Predictor”. The New York Times. Truy cập ngày 22 tháng 4 năm 2008. 
  101. ^ “New CBS Video Contradicts Clinton Again”. CBS News. 25 tháng 3 năm 2008. 
  102. ^ “Hillary Clinton backtracks over 'misleading' Bosnia sniper story”. Times Online. 25 tháng 3 năm 2008. Truy cập ngày 27 tháng 3 năm 2008. 
  103. ^ “Pennsylvania Win Helps Clinton Raise Millions, Adds to Obama Questions”. Voice of America. 25 tháng 4 năm 2008. Truy cập ngày 25 tháng 4 năm 2008. 
  104. ^ Healy, Patrick (7 tháng 5 năm 2008). “Uncertainties Mark Clinton’s Itinerary”. The New York Times. Truy cập ngày 7 tháng 5 năm 2008. 
  105. ^ Mason, Jeff (8 tháng 5 năm 2008). “Hillary Clinton hoping for late comeback”. Reuters. Truy cập ngày 8 tháng 5 năm 2008. 
  106. ^ “Clinton Wins West Virginia Primary by Decisive Margin”. Fox News. 13 tháng 5 năm 2008. Truy cập ngày 14 tháng 5 năm 2008. 
  107. ^ “Obama: I will be the Democratic nominee”. CNN. 3 tháng 6 năm 2008. Truy cập ngày 3 tháng 6 năm 2008. 
  108. ^ “Clinton ends historic bid, endorses Obama”. Associated Press for MSNBC. 7 tháng 6 năm 2008. Truy cập ngày 7 tháng 6 năm 2008. 
  109. ^ “Bà Clinton được chọn làm ngoại trưởng”. BBC Việt ngữ. 1 tháng 12 năm 2008. Truy cập ngày 2 tháng 12 năm 2008. 
  110. ^ “Poll: Mixed messages for Hillary Clinton”. CNN. 26 tháng 5 năm 2005. Truy cập ngày 5 tháng 2 năm 2007. 
  111. ^ Curry, Tom (14 tháng 7 năm 2005). “Clinton burnishes hawkish image”. MSNBC.com. Truy cập ngày 23 tháng 8 năm 2006. 
  112. ^ Clinton, Joshua D.; Jackman, Simon; Rivers, Doug (tháng 10 năm 2004). “"The Most Liberal Senator"? Analyzing and Interpreting Congressional Roll Calls” (PDF). Political Science & Politics: 805–811. 
  113. ^ See Barone, Michael; Cohen, Richard E. (2008). The Almanac of American Politics. National Journal. tr. 1126.  And 2006 edition of same, 1152. The scores for individual years are [highest rating 100, format: liberal, (conservative)]: 2003: Economic = 90 (7), Social = 85 (0), Foreign = 79 (14). Average = 85 (7). 2004: Economic = 63 (36), Social = 82 (0), Foreign = 58 (41). Average = 68 (26). 2005: Economic = 84 (15), Social = 83 (10), Foreign = 66 (29). Average = 78 (18). 2006: Economic = 63 (35), Social = 80 (14), Foreign = 62 (35). Average = 68 (28).
  114. ^ a ă Bernstein 2007, p. 446.
  115. ^ Bernstein 2007, p. 544.
  116. ^ “Gorbachev and Clinton win Grammy”. BBC News. 9 tháng 2 năm 2004. Truy cập ngày 10 tháng 1 năm 2008. 

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]

Chính thức[sửa | sửa mã nguồn]

Không chính thức[sửa | sửa mã nguồn]

Cuộc đua vào Thượng viện[sửa | sửa mã nguồn]

Triển vọng năm 2008[sửa | sửa mã nguồn]