Bước tới nội dung

Abdelkarim Hassan

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Abdelkarim Hassan
Hassan thi đấu cho Persepolis năm 2024
Thông tin cá nhân
Tên đầy đủ Abdelkarim Hassan Al Haj Fadlalla[1]
Ngày sinh 28 tháng 8, 1993 (32 tuổi)[2]
Nơi sinh Doha, Qatar
Chiều cao 1,85 m[3]
Vị trí Hậu vệ trái, trung vệ
Thông tin đội
Đội hiện nay
Al-Wakrah
Số áo 3
Sự nghiệp cầu thủ trẻ
Năm Đội
2007–2010 Al Sadd
Sự nghiệp cầu thủ chuyên nghiệp*
Năm Đội ST (BT)
2010–2022 Al Sadd 190 (29)
2017–2018Eupen (mượn) 10 (1)
2023–2024 Al-Jahra 21 (0)
2024 Persepolis 13 (0)
2024– Al-Wakrah 13 (0)
Sự nghiệp đội tuyển quốc gia
Năm Đội ST (BT)
2010–2014 U-20 Qatar 5 (1)
2011–2015 U-23 Qatar 9 (4)
2010– Qatar 136 (15)
Thành tích huy chương
Đại diện cho  Qatar
Bóng đá nam
Asian Cup
Vô địch Qatar 2019

Bản mẫu:MedalComp

Hạng ba Qatar 2021
*Số trận ra sân và số bàn thắng ở câu lạc bộ tại giải quốc gia, chính xác tính đến 8 tháng 3 năm 2025 (UTC)
‡ Số trận ra sân và số bàn thắng ở đội tuyển quốc gia, chính xác tính đến 20 tháng 3 năm 2025 (UTC)

Abdelkarim Hassan Al Haj Fadlalla (tiếng Ả Rập: عَبْد الْكَرِيم حَسَن الْحَاجّ فَضْل الله; sinh ngày 28 tháng 8 năm 1993) là một cầu thủ bóng đá chuyên nghiệp người Qatar chơi ở vị trí hậu vệ trái hoặc trung vệ cho câu lạc bộ Al-Wakrah tại Qatar Stars Leagueđội tuyển quốc gia Qatar.

Abdelkarim đã giành giải thưởng Cầu thủ xuất sắc nhất châu Á vào năm 2018.[4]

Sự nghiệp câu lạc bộ

[sửa | sửa mã nguồn]
Abdelkarim cùng Abdurahman Al-Harazi trong một trận đấu tại QSL, 2017

Abdelkarim Hassan tốt nghiệp Học viện Aspire năm 2011.[5]

Anh là cầu thủ trẻ nhất ra sân tại AFC Champions League 2011 khi mới 17 tuổi,[6] vào sân từ băng ghế dự bị trong trận gặp Esteghlal.[7] Đội bóng của anh sau đó đã lên ngôi vô địch Champions League năm đó. Anh được trao giải Cầu thủ trẻ xuất sắc nhất năm tại Qatar Stars League 2012–13.[8] Vào tháng 6 năm 2017, có thông báo rằng Al Sadd đã cho mượn anh đến câu lạc bộ Giải VĐQG Bỉ Eupen.[9]

Abdelkarim đã thi đấu tại FIFA Club World Cup 2019, nơi anh ghi bàn trong chiến thắng 3–1 trước Hienghène Sport. Anh sau đó ghi bàn trong trận thua 2–3 ở vòng hai trước C.F. Monterrey. Al-Sadd cuối cùng xếp hạng 5.

Vào ngày 21 tháng 12 năm 2022, ban lãnh đạo Al Sadd thông báo rằng Abdelkarim Hassan đã bị loại khỏi đội một vĩnh viễn. Điều này xuất phát do quan điểm của cầu thủ không phù hợp với mục tiêu và nguyện vọng của đội bóng trong giai đoạn sắp tới.[10] Vào ngày 25 tháng 1 năm 2023, Abdelkarim Hassan gia nhập câu lạc bộ Giải VĐQG Kuwait Al-Jahra.[11]

Persepolis

[sửa | sửa mã nguồn]

Vào ngày 22 tháng 1 năm 2024, Hassan gia nhập đội bóng Persian Gulf Pro League Persepolis theo bản hợp đồng 18 tháng,[12][13] trở thành cầu thủ Qatar đầu tiên thi đấu chuyên nghiệp tại Iran.[14]

Sự nghiệp quốc tế

[sửa | sửa mã nguồn]

Đội tuyển trẻ

[sửa | sửa mã nguồn]

Abdelkarim đã ghi một bàn thắng vào lưới U-20 UAE tại Giải giao hữu trẻ quốc tế lần thứ 10.[15]

Trong một trận giao hữu với U-23 Malaysia vào ngày 17 tháng 6 năm 2012, Abdelkarim đã châm ngòi cho một cuộc ẩu đả giữa hai bên sau pha vào bóng bằng hai chân với Mohd Azrif ở phút 43. Anh đã phải nhận thẻ đỏ trực tiếp cho pha phạm lỗi này. Sau đó, một cầu thủ Malaysia, Nazmi Faiz, đã chạy nửa sân để đối đầu và đấm anh. Vì thấp hơn Abdelkarim 5 inch, cú đấm của Nazmi chỉ giống như một cú đẩy vào ngực.[16] Faiz ngay lập tức nhận thẻ đỏ. Qatar sau đó thua trận 0–2.[17]

Anh ghi một bàn trong trận mở màn của Qatar gặp Maldives ở vòng loại Giải vô địch U-22 châu Á 2014.[18]

Đội tuyển quốc gia

[sửa | sửa mã nguồn]
Abdelkarim cùng Qatar trong Chung kết Asian Cup 2019

Abdelkarim ra mắt đội tuyển quốc gia vào ngày 18 tháng 11 năm 2010 trong trận gặp Haiti.[19]

Anh là cầu thủ trẻ nhất xuất hiện trong danh sách sơ bộ tham dự Asian Cup 2011 khi mới 17 tuổi và 123 ngày. Anh ghi bàn thắng duy nhất cho Qatar vào lưới Malaysia tại vòng loại Asian Cup 2015 để đảm bảo suất tham dự Asian Cup cho Qatar.[20] Anh cũng ghi một bàn trong chiến thắng 4–1 của Qatar trước Yemen tại vòng loại.

Mặc dù đội bóng của anh thua tất cả các trận vòng bảng tại Asian Cup 2015, anh vẫn được ca ngợi là một trong những ngôi sao của giải đấu. Một bài viết nổi bật trên FIFA.com đã nhận định rằng anh sẽ tạo nên nòng cốt của những cầu thủ trẻ đại diện cho Qatar tại World Cup 2022.[21]

Anh có tên trong đội hình Qatar tham dự Cúp bóng đá vịnh Ả Rập lần thứ 23 tổ chức tại Kuwait từ tháng 12 năm 2017 đến tháng 1 năm 2018.[22]

Anh là thành viên của đội tuyển Qatar tại Asian Cup 2019, giải đấu giúp họ giành chức vô địch châu lục đầu tiên. Vào ngày 30 tháng 3 năm 2021, anh chơi trận thứ 100 cho Qatar trong trận giao hữu hòa 1–1 với Cộng hòa Ireland.

Tranh cãi

[sửa | sửa mã nguồn]

Sau chuỗi ba trận thua của đội tuyển quốc gia Qatar tại vòng bảng World Cup 2022, ảnh chụp màn hình cuộc trò chuyện với Hassan trên Snapchat đã xuất hiện và lan truyền trên mạng xã hội. Trong cuộc trò chuyện, Hassan thể hiện thái độ bất cần và thờ ơ trước màn trình diễn kém cỏi của đội tuyển với câu nói nổi tiếng hiện nay: "استريح عبالك حرب" (n.đ.'Thư giãn đi! Có phải chiến tranh đâu'). Sau nhận xét này, Hiệp hội bóng đá Qatar đã thông báo trên tài khoản Twitter chính thức về việc loại Hassan khỏi đội tuyển quốc gia, cũng như câu lạc bộ Al Sadd SC đã loại anh khỏi danh sách cầu thủ.[23]

Thống kê sự nghiệp

[sửa | sửa mã nguồn]

Câu lạc bộ

[sửa | sửa mã nguồn]
Tính đến 8 tháng 3 năm 2025[1][5]
Câu lạc bộ Mùa giải Giải đấu Giải đấu Cúp1 Cúp Liên đoàn2 Châu lục3 Tổng cộng
Trận Bàn Trận Bàn Trận Bàn Trận Bàn Trận Bàn
Al Sadd 2010–11 QSL 10 0 0 0 0 0 10 0 20 0
2011–12 9 0 0 0 6 0 0 0 15 0
2012–13 18 3 3 0 0 0 0 0 7 0
2013–14 23 2 3 0 2 0 8 0 35 0
2014–15 25 5 3 0 2 0 10 1 40 6
2015–16 21 4 1 1 0 0 1 0 23 5
2016–17 23 3 0 0 0 0 1 0 24 3
K.A.S. Eupen 2017–18 (mượn) Belgian First Division A 10 1 1 0 0 0 0 0 11 1
Al Sadd 2017–18

QSL

8 1 2 0 1 0 11 1 22 2
2018–19 14 4 3 0 0 0 10 1 27 5
2019–20 16 2 1 1 6 2 8 0 31 5
2020–21 16 2 5 0 2 0 6 0 29 2
2021–22 17 3 3 1 0 0 4 0 24 4
2022–23 0 0 0 0 0 0 0 0 0 0
Tổng cộng Al Sadd SC 200 29 24 3 19 2 69 5 312 39
Al Sadd B 2016–17 Reserve League (Qatar)    1 0 0 0 1 0
2021–22    1 0 0 0 1 0
Al-Jahra 2022–23 KPL 12 0 1 1 13 1
2023–24 9 0 1 0 10 0
Tổng cộng Al-Jahra 21 0 2 1 23 1
Persepolis 2023–24 Pro League 13 0 2 0 15 0
Tổng cộng 13 0 2 0 0 0 0 0 15 0
Al-Wakrah 2024–25 QSL 13 0 2 0 4 0 19 0
Tổng cộng sự nghiệp 259 30 31 4 19 2 73 5 382 41

1Bao gồm Cúp Emir of Qatar.

2Bao gồm Cúp Sheikh Jassem.

3Bao gồm AFC Champions League.

Bàn thắng quốc tế

[sửa | sửa mã nguồn]

Bàn thắng và kết quả của Qatar được để trước.[1][24]

Bàn thắng quốc tế theo ngày, địa điểm, lần ra sân, đối thủ, tỷ số, kết quả và giải đấu
Số Ngày Địa điểm Lần ra sân Đối thủ Tỷ số Kết quả Giải đấu
1 31 tháng 1 năm 2013 Jassim Bin Hamad Stadium, Doha, Qatar 2  Liban 1–0 1–0 Giao hữu
2 7 tháng 3 năm 2013 Thani bin Jassim Stadium, Doha, Qatar 4  Ai Cập 1–1 3–1 Giao hữu
3 15 tháng 11 năm 2013 Khalifa International Stadium, Doha, Qatar 18  Yemen 2–1 4–1 Vòng loại Cúp bóng đá châu Á 2015
4 6 tháng 11 năm 2014 Abdullah bin Khalifa Stadium, Doha, Qatar 29  CHDCND Triều Tiên 3–0 3–1 Giao hữu
5 27 tháng 12 năm 2014 Abdullah bin Khalifa Stadium, Doha, Qatar 35  Estonia 2–0 3–0 Giao hữu
6 30 tháng 3 năm 2015 Jassim Bin Hamad Stadium, Doha, Qatar 40  Slovenia 1–0 1–0 Giao hữu
7 8 tháng 9 năm 2015 Sân vận động Vượng Giác, Vượng Giác, Hồng Kông 46  Hồng Kông 2–0 3–2 Vòng loại World Cup 2018
8 29 tháng 5 năm 2016 Stadion Hartberg, Hartberg, Áo 52  Albania 1–0 1–3 Giao hữu
9 6 tháng 6 năm 2017 Jassim Bin Hamad Stadium, Doha, Qatar 60  CHDCND Triều Tiên 1–0 2–2 Giao hữu
10 13 tháng 1 năm 2019 Sân vận động Khalifa bin Zayed, Al Ain, Các Tiểu vương quốc Ả Rập Thống nhất 78 6–0 6–0 Asian Cup 2019
11 5 tháng 9 năm 2019 Jassim Bin Hamad Stadium, Doha, Qatar 87  Afghanistan 4–0 6–0 Vòng loại World Cup 2022
12 29 tháng 11 năm 2019 Khalifa International Stadium, Doha, Qatar 94  Yemen 1–0 6–0 Cúp bóng đá vịnh Ả Rập lần thứ 24
13 2–0
14 4–0
15 4 tháng 9 năm 2021 Nagyerdei Stadion, Debrecen, Hungary 108  Bồ Đào Nha 1–2 1–3 Giao hữu

Danh hiệu

[sửa | sửa mã nguồn]
Abdelkarim ăn mừng chức vô địch AFC Champions League của Al-Sadd năm 2011

Al-Sadd

Persepolis

U-23 Qatar

Qatar

Cá nhân

Tham khảo

[sửa | sửa mã nguồn]
  1. ^ a b c Abdelkarim Hassan tại Soccerway
  2. ^ "FIFA Club World Cup Qatar 2019: List of Players: Al-Sadd SC" (PDF). FIFA. ngày 5 tháng 12 năm 2019. tr. 2. Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 5 tháng 12 năm 2019.
  3. ^ "FIFA World Cup Qatar 2022: List of Players: Qatar" (PDF). FIFA. ngày 15 tháng 11 năm 2022. tr. 23. Lưu trữ (PDF) bản gốc ngày 18 tháng 12 năm 2022. Truy cập ngày 22 tháng 11 năm 2022.
  4. ^ a b "AFC Player of the Year 2018: Abdelkarim Hassan". Bản gốc lưu trữ ngày 1 tháng 12 năm 2018.
  5. ^ a b "Player profile" (bằng tiếng Ả Rập). superkora.com. Bản gốc lưu trữ ngày 28 tháng 5 năm 2014. Truy cập ngày 26 tháng 5 năm 2014.
  6. ^ "Player profile". al-saddclub.com. Bản gốc lưu trữ ngày 1 tháng 8 năm 2014. Truy cập ngày 26 tháng 5 năm 2014.
  7. ^ العين الأكثر شباباً بمتوسط 22,8 عام (bằng tiếng Ả Rập). alittihad.ae. ngày 14 tháng 3 năm 2011. Lưu trữ bản gốc ngày 23 tháng 1 năm 2018. Truy cập ngày 26 tháng 5 năm 2014.
  8. ^ "Al Sadd is the best". al-saddclub.com. ngày 20 tháng 5 năm 2013. Bản gốc lưu trữ ngày 27 tháng 5 năm 2014. Truy cập ngày 26 tháng 5 năm 2014.
  9. ^ Ikoli Victor (ngày 29 tháng 6 năm 2017). "Al Sadd's Abdelkarim joins Belgium's KAS Eupen". Qatar Tribune. Lưu trữ bản gốc ngày 1 tháng 12 năm 2017. Truy cập ngày 9 tháng 7 năm 2017.
  10. ^ "Al-Sadd announce Abdelkarim Hassan's permanent exclusion from the team". al-saddclub.com. ngày 21 tháng 12 năm 2022. Lưu trữ bản gốc ngày 10 tháng 2 năm 2023. Truy cập ngày 10 tháng 2 năm 2023.
  11. ^ "Abdelkarim Hassan signs for Kuwaiti Al Jahra SC". thepeninsulaqatar.com. ngày 25 tháng 1 năm 2023. Lưu trữ bản gốc ngày 10 tháng 2 năm 2023. Truy cập ngày 10 tháng 2 năm 2023.
  12. ^ "Abdelkarim Hassan signs for Persepolis". Tehran Times (bằng tiếng Anh). ngày 22 tháng 1 năm 2024. Truy cập ngày 22 tháng 1 năm 2024.
  13. ^ "Abdelkarim Hassan Joins Persepolis: Official - Sports news". Tasnim News Agency (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 22 tháng 1 năm 2024.
  14. ^ "فوری، رسمی شد: عبدالکریم در پرسپولیس!". ورزش سه (bằng tiếng Ba Tư). Lưu trữ bản gốc ngày 4 tháng 2 năm 2024. Truy cập ngày 22 tháng 1 năm 2024.
  15. ^ منتخب الشباب يواجه اليونان في «الصداقة الدولية» الليلة (bằng tiếng Ả Rập). alittihad.ae. ngày 5 tháng 3 năm 2012. Lưu trữ bản gốc ngày 27 tháng 5 năm 2014. Truy cập ngày 26 tháng 5 năm 2014.
  16. ^ "Nazmi loses cool in friendly against Qatar". asiaone.com. ngày 18 tháng 6 năm 2014. Bản gốc lưu trữ ngày 21 tháng 6 năm 2012. Truy cập ngày 26 tháng 5 năm 2014.
  17. ^ "Harimau Muda down Qatar in fiery game marred by free-for-all". The Star. Malaysia. Bản gốc lưu trữ ngày 19 tháng 6 năm 2012. Truy cập ngày 19 tháng 6 năm 2012.
  18. ^ "Match summary". AFC. ngày 23 tháng 6 năm 2012. Bản gốc lưu trữ ngày 9 tháng 12 năm 2012.
  19. ^ "Match report" (bằng tiếng Ả Rập). superkoora.com. Bản gốc lưu trữ ngày 1 tháng 12 năm 2018. Truy cập ngày 26 tháng 5 năm 2014.
  20. ^ "Abdulkarim goal gives Qatar Asian Cup berth". dohastadiumplusqatar.com. ngày 20 tháng 11 năm 2013. Bản gốc lưu trữ ngày 27 tháng 5 năm 2014. Truy cập ngày 26 tháng 5 năm 2014.
  21. ^ "Bright new stars light up Asia". FIFA. ngày 3 tháng 2 năm 2015. Bản gốc lưu trữ ngày 3 tháng 7 năm 2015. Truy cập ngày 28 tháng 2 năm 2015.
  22. ^ "Qatar Head to Kuwait with Aim of Retaining Gulf Cup Title". Al Bawaba. ngày 21 tháng 12 năm 2017. Lưu trữ bản gốc ngày 16 tháng 9 năm 2018. Truy cập ngày 15 tháng 9 năm 2018.
  23. ^ "Qatar's Abdelkarim Hassan banned after social media post during Qatar World Cup". sportstar.thehindu.com. ngày 19 tháng 1 năm 2023.
  24. ^ "Abdelkarim Hassan". National Football Teams. Benjamin Strack-Zimmerman. Truy cập ngày 9 tháng 1 năm 2019.
  25. ^ "AFC Asian Cup UAE 2019 Technical Report and Statistics". AFC. ngày 29 tháng 5 năm 2019. Lưu trữ bản gốc ngày 22 tháng 7 năm 2021. Truy cập ngày 1 tháng 1 năm 2020.

Liên kết ngoài

[sửa | sửa mã nguồn]