Lưu Diệc Phi

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm
Lưu Diệc Phi
刘亦菲
Liu Yifei at the 2016 BAZAAR Stars’ Charity Night.jpg
SinhAn Phong (安风)
25 tháng 8, 1987 (32 tuổi)
Vũ Hán, Hồ Bắc, Trung Quốc
Quốc tịchMỹ
Tên khácLưu Tây Mỹ Tử (刘茜美子)
Crystal Liu
Dân tộcHán
Học vấnHọc viện Điện ảnh Bắc Kinh
Nghề nghiệpDiễn viên, Ca sĩ, Người mẫu
Năm hoạt động2002- nay
Đại lýTrung Quốc Hãng phim Hồng Tinh Ổ (2005 - nay)
Hoa Kỳ William Morris Endeavor Entertainment (2008 - nay)
Nổi tiếng vìVương Ngữ Yên trong Thiên Long Bát Bộ
Triệu Linh Nhi trong Tiên kiếm kỳ hiệp
Tiểu Long Nữ trong Thần điêu đại hiệp
Chiều cao170 cm (5 ft 7 in)
Cân nặng53 kg (117 lb)
Cha mẹAn Thiếu Khang (cha)
Lưu Hiểu Lợi (mẹ)
Lưu Diệc Phi
Phồn thể 劉亦菲
Giản thể 刘亦菲

Lưu Diệc Phi (Hán tự: 刘亦菲, Bính âm: Liu Yifei) (sinh ngày 25 tháng 8 năm 1987) là một nữ diễn viên người Hoa đã có quốc tịch Mỹ. Cô được biết đến nhiều nhất với vai Tiểu Long Nữ trong phim truyền hình Thần điêu đại hiệp năm 2006.[1][2]

Tiểu sử[sửa | sửa mã nguồn]

Lưu Diệc Phi sinh tại bệnh viện Tế Vũ, Vũ Hán, Trung Quốc với tên khai sinh là An Phong (giản thể: 安风, phồn thể: 安風)[3].

Cha cô là An Thiếu Khang (安少康), xuất thân từ một gia đình trí thức. Ông nội là Khổng Quân (孔钧), Bí thư Đảng ủy của Đại học y khoa Đồng Tế Vũ Hán và bà nội là An Uẩn Thục (安蕴淑), Bí thư Đảng ủy của Học viện y khoa Đồng Tế. Cha của Lưu Diệc Phi giảng dạy ở khoa ngoại văn chuyên ngành tiếng Pháp tại Đại học Vũ Hán, kiêm thư ký thứ nhất Đại sứ quán Trung Quốc tại Pháp.[4] Mẹ cô là bà Lưu Hiểu Lợi (刘晓莉), sinh ngày 4 tháng 11 năm 1959 tại Cáp Nhĩ Tân, Hắc Long Giang, một nghệ sĩ múa cấp quốc gia, từng đi giảng dạy ở nhiều nơi. Năm 1970, bà Hiểu Lợi theo học tại Học viện Ca vũ kịch Vũ Hán (于武汉歌舞剧院) và tốt nghiệp năm 1976. Bà từng góp mặt trong nhiều vở múa nổi tiếng như Xuân giang hoa nguyệt dạ, Hái nho, Cái chết của phượng hoàng, Sở vận… và đảm nhận vai Tây Vương Mẫu trong phim Vua Kung Fu (2008).[5]

Thuở bé, Lưu Diệc Phi chơi piano, múa và hát rất tốt[6]. Năm 1995, khi lên 8 tuổi, cô từng đoạt giải nhất trong cuộc thi Người mẫu tuổi nhi đồng khu vực miền Trung và Nam Trung Quốc.[7]

Năm 1997, cha mẹ cô ly hôn khi cô đang học trường tiểu học đường Bà Dương, quận Giang Ngạn, thành phố Vũ Hán (武汉市江岸区鄱阳街小学). Từ đó, cô sống cùng mẹ và được đổi tên thành Lưu Tây Mỹ Tử (刘茜美子)[8]. Ngoài ra, cô còn có tên tiếng Anh là Crystal Liu. Mẹ cô đã đưa cô sang Mỹ và cho cô theo học Trung học Louis Pasteur Middle School 67, New York. Lưu Diệc Phi đạt kết quả tốt nên được học vượt lên trung học[9][10]. Năm 2002, Diệc Phi trở về Trung Quốc với mong ước trở thành diễn viên. Tháng 9 năm 2002, cô thi đỗ vào khoa Biểu diễn của Học viện Điện ảnh Bắc Kinh khi mới 15 tuổi. Diệc Phi trở thành sinh viên trẻ tuổi nhất trong lịch sử của trường và tốt nghiệp vào tháng 7 năm 2006.[11]

Lưu Diệc Phi cũng rất thân với ông Trần Kim Phi (陈金飞), cha đỡ đầu và là tổng giám đốc điều hành Tập đoàn đầu tư Thông Sản Bắc Kinh[12]. Khi Diệc Phi đón sinh nhật tròn 18 tuổi, ông Trần Kim Phi đã quyết định tổ chức cho con gái nuôi một lễ trưởng thành thật đặc biệt tại Nhà khách Quốc gia Điếu Ngư Đài với chi phí lên tới 1,8 triệu nhân dân tệ[13]. Bữa tiệc có sự góp mặt của chủ tịch hãng đĩa Sony Music Japan, đạo diễn Trương Kỷ Trung, Chu Thời Mậu, Úc Quân Kiếm, diễn viên Huỳnh Hiểu Minh, Lâm Chí Dĩnh v.v và một số quan chức của Bộ Văn hóa tham dự.[14]

Sự nghiệp[sửa | sửa mã nguồn]

Khởi nghiệp[sửa | sửa mã nguồn]

Lưu Diệc Phi xuất hiện lần đầu tiên trên màn ảnh vào cuối năm 2002 trong một quảng cáo do ông Trần Kim Phi thực hiện. Sau đó cô được đạo diễn Du Tiến Minh mời vào vai Bạch Tú Châu trong phim Gia tộc Kim phấn. Tiếp đó, cô vào vai Vương Ngữ Yên trong Thiên Long Bát Bộ cùng Lâm Chí Dĩnh. Vương Ngữ Yên chính là vai diễn đầu tiên làm khán giả biết và nhớ tới một "công chúa pha lê" hay "mỹ nhân cổ trang" Lưu Diệc Phi.

Lần đầu gặp cô, nhà văn Kim Dung đã ký lên cuốn Thiên long bát bộ mà cô mang tới: "Cô Diệc Phi, chỉ sau khi xem nhân vật Vương Ngữ Yên mà cô thể hiện, độc giả mới biết Kim Dung không hề nói quá". Và Diệc Phi được khán giả nhớ tới với danh xưng "Thần tiên tỷ tỷ" kể từ vai diễn cổ trang đầu tay này. Tuy còn thiếu kinh nghiệm diễn xuất nhưng với sự ủng hộ của cha nuôi, trong quá trình đóng phim cô được đạo diễn mở lớp dạy cấp tốc tại phim trường. Sau bộ phim Thiên Long Bát Bộ, Diệc Phi lập tức được xếp vào hàng ngôi sao ở Trung Quốc.

Năm 2005 và 2006, cô đã thành công với hai bộ phim truyền hình ăn khách với vai Triệu Linh Nhi trong Tiên kiếm kỳ hiệp cùng với Hồ Ca và vai Tiểu Long Nữ trong Thần điêu đại hiệp cùng với Huỳnh Hiểu Minh trùng với thời điểm tốt nghiệp Học viện Điện ảnh Bắc Kinh. Thần điêu đại hiệp được chuyển thể từ tiểu thuyết kiếm hiệp cùng tên của nhà văn Kim Dung. Thần điêu đại hiệp vượt qua phim Thất Kiếm với danh hiệu "phim truyền hình có tỷ suất người xem cao nhất châu Á" năm 2006.

Bước vào âm nhạc[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 2006, cô ký hợp đồng với hãng Sony Music để thu album, chính thức bước chân vào làng âm nhạc với album mang tên cô. Hiện nay cô đã phát hành 2 album: Lưu Diệc Phi (hãng Sony BMG Music Entertainment Hong Kong Limited) và All my words (hãng Sony Music). Ngoài ra cô còn có một đĩa đơn tiếng Nhật là Mayonaka no Door (Sony Music). Bài hát Mayonaka no doa đã xuất hiện trên truyền hình Nhật Bản như là ca khúc kết thúc của chương trình Demashita! Powerpuff girls Z. Chỉ sau một tháng, 60 vạn bản đã được tiêu thụ một cách nhanh chóng. Sau đó cô còn tung ra thị trường một đĩa đơn tiếng Nhật có tên là Mayonaka no Door.

Vươn ra thế giới[sửa | sửa mã nguồn]

Cùng trong năm 2006, Diệc Phi cũng được hóa trang thành nhân vật nữ thần trong Liên hoan phim Kim Ưng. Cô cũng trở thành hình ảnh xuất hiện trên bìa các tạp chí thời trang nổi tiếng như Fashion, Trendstyle, Miss, Health, CosmoGirl, Vogue... Năm 2008, cô đã trở thành nữ diễn viên Trung Quốc thứ hai sau Chương Tử Di ký hợp đồng độc quyền với công ty giải trí William Morris Agency - một trong ba công ty giải trí lớn nhất nước Mỹ, bệ phóng của nhiều tên tuổi lớn trên thế giới như Mel Gibson, Reese Witherspoon, Halle Berry, Julia Roberts, Thành Long, Chương Tử Di...

Cuối năm 2005, Diệc Phi đã được chọn là một trong tứ đại hoa đán đương đại của Trung Quốc bên cạnh Lý Băng Băng, Trần HảoHuỳnh Thánh Y. Đến năm 2006, cô cũng góp mặt trong Top 10 người đẹp cổ trang cùng Huỳnh Hiểu Minh, Lục Nghị, Lý Á Bằng, Nghiêm Khoan, Triệu Văn Trác, Trần Hảo, Huỳnh Dịch, Cao Viên Viên và Thủy Linh.

Cùng năm, cô cũng được nhận giải ngôi sao ăn mặc phong cách nhất Trung Quốc. Gần đây nhất, báo điện tử Tom.com đã chọn ra 10 mỹ nữ nổi tiếng nhất Trung Quốc, Diệc Phi xếp thứ ba sau Tôn Lệ, Triệu Vy, đứng trên Thủy Linh, Lý Băng Băng, Phạm Băng Băng, Châu Tấn, Hồ Khả, Mai Đình và Ân Đào.

Không những thế, báo điện tử Sohu.com cũng xếp cô vào Top 10 diễn viên Trung Quốc xinh đẹp nhất bao gồm Triệu Vy, Trần Hồng, Triệu Nhã Chi, Chu Tuệ Mẫn, Trương Bá Chi, Trương Mạn Ngọc, Lý Gia Hân, Lý Vũ XuânLâm Thanh Hà. Qua một cuộc bầu chọn khác trên mạng, Diệc Phi chỉ chịu xếp sau Triệu Vy trong khoản nữ diễn viên được yêu thích nhất Trung Quốc.

Năm 2008, Lưu Diệc Phi đóng phim Vua Kung Fu cùng với Thành LongLý Liên Kiệt, đánh dấu một bước ngoặt ấn tượng trong sự nghiệp của cô. Đây là bộ phim nói tiếng Anh đầu tiên của Diệc Phi, đáng chú ý hơn nữa là kinh phí của bộ phim này lên tới 70 triệu USD và đạo diễn của phim là người từng sản xuất bộ phim hoạt hình nổi tiếng Vua sư tử của Hãng phim Walt Disney.

Năm 2010, Lưu Diệc Phi tái xuất với 2 dự án điện ảnh liên tiếp. Đầu tiên là Thông cáo tình yêu, phim điện ảnh đầu tay do nam ca sĩ nổi tiếng Đài Loan Vương Lực Hoành làm đạo diễn. Sau khi kết thúc những cảnh quay trong bộ phim này, đầu tháng 6 Diệc Phi bắt tay vào tham gia bộ phim thứ hai là Thiến nữ u hồn. Đây là bộ phim được chuyển thể từ một truyện ngắn nổi tiếng rút từ tập Liêu trai chí dị của nhà văn nổi tiếng Bồ Tùng Linh. Thiến nữ u hồn từng được đưa lên màn ảnh rộng vào năm 1987 với diễn viên chính là Vương Tổ Hiền vai Nhiếp Tiểu Thiến và Trương Quốc Vinh vai Ninh Thái Thần, bộ phim này đã trở thành một tác phẩm kinh điển. Bởi vậy, việc làm lại tác phẩm này nhận được rất nhiều sự quan tâm, nhất là khi kinh phí đầu tư cho phim ước tính lên tới 20 triệu USD và đạo diễn của phim là Diệp Vĩ Tín, một đạo diễn Hồng Kông tên tuổi và gần đây đã gây được tiếng vang với nhiều tác phẩm xuất sắc. Trong phim, Diệc Phi vào vai nữ chính Nhiếp Tiểu Thiến, một tiểu hồ ly xinh đẹp, quyến rũ nhưng bị yêu pháp khống chế linh hồn, không thể siêu thoát. Để đảm nhận vai diễn này, Diệc Phi đã phải vượt qua rất nhiều những tên tuổi lớn của điện ảnh Trung Hoa như Phạm Băng Băng, Chương Tử Di, Lý Băng Băng, Châu Tấn...

Năm 2019, những trailer đầu tiên về phim Hoa Mộc Lan (Mulan) do Lưu Diệc Phi thủ vai phiên bản điện ảnh được Disney tung ra và dự kiến chiếu năm 2020[3].

Đời tư[sửa | sửa mã nguồn]

Lưu Diệc Phi bắt đầu công khai hẹn hò với nam diễn viên Hàn Quốc Song Seung-heon vào đầu tháng 8 năm 2015 sau khi tham gia vai chính trong phim Tình yêu thứ ba[15], nhưng họ đã xác nhận chia tay vào tháng 1 năm 2018 sau hơn 2 năm gắn bó.

Danh sách phim[sửa | sửa mã nguồn]

Phim điện ảnh[sửa | sửa mã nguồn]

Năm Tựa phim Tựa phim gốc Vai diễn Ghi chú
2004 Ngũ nguyệt chi luyến 五月之恋 Triệu Tuyên
Tình Yêu Đại Doanh Gia 恋爱大赢家 Kim Xảo Lệ
2006 A bảo đích cố sự 阿宝的故事 Tây Tây Khách mời
2008 Vua Kung Fu 功夫之王 / The Forbidden Kingdom Kim Yến Tử (Golden Sparrow) / Cô gái ở khu phố Tàu
2010 Thông cáo tình yêu 恋爱通告 Tống Hiểu Thanh
2011 Thiến nữ u hồn 倩女幽魂 Nhiếp Tiểu Thiện
Hồng Môn Yến 鸿门宴 Ngu Cơ
2012 Tứ đại danh bổ 四大名捕 Vô Tình
Đồng Tước Đài 铜雀台[16] Linh Thư / Điêu Thuyền
2013 Tứ đại danh bổ 2 四大名捕2 Vô Tình
2014 Tứ đại danh bổ 3 四大名捕3 Vô Tình
2015 Mối thù hoàng tộc Outcast Triệu Liên
Lộ Thủy Hồng Nhan 露水红颜 Hình Lộ Phim chuyển thể
Tình yêu thứ ba 第三種愛情 Trâu Vũ
2016 Dạ khổng tước 夜孔雀 Elsa [17]
Hóa ra anh vẫn ở đây 原来你还在这里 Tô Vận Cẩm [18]
2017 Tam sinh tam thế thập lý đào hoa 三生三世十里桃花 Bạch Thiển Phim chuyển thể[19]
Hoa cỏ chiến tranh 烽火芳菲 / The Chinese Widow Ying (Góa phụ)
Hai kiếp yêu tinh - May mắn kiếp này Hanson and the Beast Bạch Khiêm Sở
2020 Hoa Mộc Lan Mộc Lan Live-action

Phim truyền hình[sửa | sửa mã nguồn]

Năm Tựa phim Tựa phim gốc Vai diễn Ghi chú
2003 Gia tộc Kim phấn 金粉世家 Bạch Tú Châu
Thiên Long Bát Bộ 天龙八部 Vương Ngữ Yên
2005 Tiên kiếm kỳ hiệp 仙剑奇侠传 Triệu Linh Nhi
Đậu Khấu Niên Hoa 豆蔻年华 Cô giáo Tiểu Triệu
2006 Thần điêu đại hiệp 神鵰俠侶 Tiểu Long Nữ
2019 Nam yên trai bút lục 电视剧南烟斋笔录 Lục Mạn Sênh

Sản phẩm âm nhạc[sửa | sửa mã nguồn]

Album[sửa | sửa mã nguồn]

Thông tin album Danh sách bài hát Ghi chú
Tên album: Lưu Diệc Phi
Hãng phát hành: Sony BMG Music Entertainment Hong Kong Limited
Ngày phát hành: 5 tháng 9 năm 2006
  1. 泡芙女孩
  2. 就要我滋味
  3. 心悸
  4. 幸運草
  5. 放飛美麗
  6. 世界的秘密
  7. 一克拉的眼淚
  8. 做你的秒鐘
  9. 毛毛雨
  10. 愛的延長賽
Album nhạc Hoa
Tên album: All My Words
Hãng phát hành: Sony Music Entertainment
Ngày phát hành: 8 tháng 9 năm 2006
  1. 真夜中のドア
  2. 恋する週末
  1. HAPPINESS
  2. 愛のミナモト
  3. どこまでも ひろがる空に向かって
  4. テノヒラノカナタ
  5. My sunshiny day
  6. 世界の秘密
  7. CLOSE TO ME
  8. 月の夜
  9. スピード
  10. Pieces of my words ~言の花~
Album nhạc Nhật

Đĩa đơn[sửa | sửa mã nguồn]

Thông tin đĩa đơn Danh sách bài hát Ghi chú
Tên đĩa đơn: Mayonaka no door
Hãng phát hành: Sony Music Entertainment
Ngày phát hành: 19 tháng 7 năm 2006
  1. 真夜中のドア
  2. Brightly
  3. 真夜中のドア (Hòa tấu)
  4. Brightly (Hòa tấu)
Album nhạc Nhật

Giải thưởng và đề cử[sửa | sửa mã nguồn]

Năm Giải thưởng / Sự kiện Hạng mục Đối tượng đề cử Kết quả
2008 China Golden Eagle TV Art Festival lần thứ 6 Nữ thần Kim Ưng Bản thân Đoạt giải
2012 Hong Kong Society of Cinematographers Awards lần thứ 22 Nữ diễn viên thu hút nhất Thiến nữ u hồn Đoạt giải
2013 Macau International Movie Festival lần thứ 5 Nữ diễn viên chính xuất sắc nhất Đồng Tước Đài Đoạt giải
2016 Montreal World Film Festival lần thứ 40 Nữ diễn viên chính xuất sắc nhất Dạ khổng tước Đề cử
Chinese Film Media Awards lần thứ 16 Nữ diễn viên được kỳ vọng nhất Tình yêu thứ ba Đoạt giải
Guangzhou College Student Film Festival lần thứ 13 Nữ diễn viên nổi tiếng nhất Dạ khổng tước, Hóa ra anh vẫn ở đây Đoạt giải
2017 Shanghai International Film Festival lần thứ 20 Nữ diễn viên chính xuất sắc nhất Hoa cỏ chiến tranh Đề cử

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ “A popular online fantasy novel's movie adaptation to release in July”. China Radio International. 31 tháng 3 năm 2017. 
  2. ^ “美了多年的刘亦菲一直是那个神仙姐姐”. Sina (bằng tiếng Trung). Truy cập ngày 26 tháng 2 năm 2017. 
  3. ^ (tiếng Trung) 劉亦菲成長照片曝光 跳新疆舞美若天仙. Nhân Dân nhật báo. 30 tháng 11 năm 2005. Truy cập ngày 21 tháng 8 năm 2006.
  4. ^ 安少康
  5. ^ 刘晓莉_刘晓莉与安少康_刘亦菲母亲刘晓莉照片
  6. ^ 刘亦菲金鹰女神造型草图曝光(图)_网易娱乐
  7. ^ [1]
  8. ^ (tiếng Trung) "神仙姐姐" 劉亦菲. Tân Hoa Xã. 29 tháng 7 năm 2004.
  9. ^ 21 tháng 4 năm 2008/ba1996978.shtml
  10. ^ 29 tháng 9 năm 2012/142513650_4.html
  11. ^ [2]
  12. ^ (tiếng Trung)刘亦菲"富豪继父"真实身份揭秘
  13. ^ 刘亦菲"爸爸"中国首富榜23
  14. ^ 刘亦菲干爹陈金飞激吻92年干女儿 扒完真是细思极恐
  15. ^ “Actor Song Seung-heon dating actress Liu Yifei”. Yonhap. Ngày 5 tháng 8 năm 2015. Truy cập ngày 5 tháng 8 năm 2015. 
  16. ^ Stars of "The Four" and "The Assassins" Set to Shine at BJIFF
  17. ^ Clifford Coonan (ngày 8 tháng 2 năm 2015). “Berlin: France Setting the Pace On China Co-Productions”. hollywoodreporter.com. Truy cập ngày 9 tháng 2 năm 2015. 
  18. ^ “《致青春2》开机 吴亦凡刘亦菲重返18岁(组图)”. cri.cn. Truy cập 22 tháng 4 năm 2015. 
  19. ^ Etan Vlessing (9 tháng 9 năm 2015). “NBCUniversal International Inks Multi-Year Movie Deal With China's Alibaba”. hollywoodreporter.com. Truy cập ngày 9 tháng 9 năm 2015. 

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]