Lưu Diệc Phi

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm
Lưu Diệc Phi
刘亦菲
Liu Yifei at the 2016 BAZAAR Stars’ Charity Night.jpg
SinhAn Phong (安风)
25 tháng 8, 1987 (32 tuổi)
Vũ Hán, Hồ Bắc,  Trung Quốc
Quốc tịch Hoa Kỳ
Tên khácLưu Tây Mỹ Tử (刘茜美子)
Crystal Liu
Dân tộcngười Hán
Học vấnHọc viện Điện ảnh Bắc Kinh
Nghề nghiệpDiễn viên, ca sĩ, Người mẫu
Tổ chứcTrung Quốc: Hồng Tinh Ổ (红星坞娱乐传媒, 2005-nay)
Hoa Kỳ William Morris Endeavor Entertainment (2008 - nay)
Nổi tiếng vìVương Ngữ Yên trong Thiên Long Bát Bộ
Triệu Linh Nhi trong Tiên kiếm kỳ hiệp
Tiểu Long Nữ trong Thần điêu đại hiệp
Chiều cao1,70 m (5 ft 7 in)
Cân nặng53 kg (117 lb)
Năm hoạt động2002; 18 năm trước (2002)
Cha mẹCha: An Thiếu Khang
Mẹ: Lưu Hiểu Lợi
Lưu Diệc Phi
Phồn thể 劉亦菲
Giản thể 刘亦菲

Lưu Diệc Phi (tiếng Anh: Crystal Liu, sinh ngày 25 tháng 8 năm 1987) là nữ diễn viên người Trung Quốc được biết đến nhiều nhất với vai diễn Tiểu Long Nữ trong phim truyền hình Thần điêu đại hiệp năm 2006.[1][2] Năm 2020, cô tham gia phim điện ảnh Hoa Mộc Lan của Hollywood với vai nữ tướng Hoa Mộc Lan.

Tiểu sử[sửa | sửa mã nguồn]

Lưu Diệc Phi sinh tại bệnh viện Tế Vũ, Vũ Hán, Trung Quốc với tên khai sinh là An Phong (giản thể: 安风, phồn thể: 安風).[3] Năm 4 tuổi,[chú thích 1] cha mẹ ly hôn,[4] từ đó sống với mẹ và được đổi tên theo họ mẹ thành Lưu Tây Mỹ Tử (刘茜美子).[5]

Thuở bé, Lưu Diệc Phi chơi piano, múa và hát rất tốt. Năm lên 8, cô từng đạt giải quán quân cuộc thi người mẫu tuổi nhi đồng lần thứ 2 do trung tâm thương mại Trung Nam Vũ Hán tổ chức.[6]

Năm 1997, khi 10 tuổi, chuyển từ trường tiểu học đường Bà Dương (鄱阳街小学), quận Giang Ngạn, Vũ Hán sang New York, Mỹ để nhập cư cùng mẹ.[7] Lúc này, cô có tên tiếng Anh là Crystal Liu. Trong 4 năm tiếp theo, cô sống tại Douglaston, Queens và ghi danh vào trường trung học Louis Pasteur Middle School 67 gần đó.[8]

Năm 2002, trở về Trung Quốc với mong ước trở thành diễn viên. Tháng 9 cùng năm cô được nhận vào ngành Biểu diễn của Học viện Điện ảnh Bắc Kinh khi mới 15 tuổi và trở thành sinh viên nước ngoài trẻ nhất trong lịch sử của trường. Cô nhận bằng Cử nhân của trường vào tháng 7 năm 2006.[9]

Sự nghiệp[sửa | sửa mã nguồn]

Phim truyền hình[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 2002, Lưu Diệc Phi nhận được sự ưu ái từ nhà sản xuất Du Tiến Minh mời đóng quảng cáo bất động sản, và được chọn vào vai Bạch Tú Châu trong phim truyền hình Gia tộc Kim phấn lấy bối cảnh đầu những năm Trung Hoa Dân quốc. Cô bắt đầu công việc diễn xuất vào ngày 29 tháng 6 năm 2002.[10]

Sau đó 1 tháng, cô nhận vai Thần tiên tỉ tỉ Vương Ngữ Yên trong Thiên Long Bát Bộ cùng Lâm Chí Dĩnh.[11] Năm 2003, sau hai bộ phim truyền hình, Lưu Diệc Phi nhanh chóng trở nên nổi tiếng trong giới điện ảnh và truyền hình.[12]

Trong thời gian này, lần đầu tiên cô tham gia đóng phim điện ảnh, thực hiện hai bộ phim tình cảm Đài Loan là "Love in May" và "Tình yêu đại doanh gia".

Vào đầu năm 2005, vai Triệu Linh Nhi trong Tiên kiếm kỳ hiệp cùng với Hồ Ca dựa trên trò chơi trực tuyến cùng tên đã trở thành điểm nhấn của phim nhờ hình tượng trong sáng thuần khiết.[13]

Vào ngày 25 tháng 8 cùng năm, ký hợp đồng với Sony Music Entertainment Nhật Bản và chính thức gia nhập ngành công nghiệp âm nhạc.[14] Sau đó, cô được đào tạo về thanh nhạc và vũ đạo trong một năm tại Nhật Bản.

Vào tháng 3 năm 2006, được đạo diễn Trương Kỷ Trung mới vào vai Tiểu Long Nữ trong phim truyền hình Thần điêu đại hiệp đóng cùng Huỳnh Hiểu Minh đã tạo nên thành công lớn. Vai diễn đã nhận được lời khen từ nhà văn Kim Dung.[15] Điều này loại bỏ những băn khoăn của cô khi bắt đầu quay phim.[16] Nhờ vai diễn này, Lưu Diệc Phi đã trở nên nổi tiếng tại Đại lục cũng như các nước trong khu vực như Nhật Bản.

Vào ngày 19 tháng 7, đĩa đơn tiếng Nhật đầu tiên "Đêm muộn" (真夜中のドア) đã được phát hành tại Nhật Bản, sau đó cô cũng phát hành album tiếng Quan thoại cùng tên "Liu Yifei" và album tiếng Nhật All My Words.[17] Album đạt doanh số 600.000 bản tại Trung Quốc đại lục.[18] Bài hát Mayonaka no doa được chọn ca khúc cuối phim trong loạt phim hoạt hình Demashita! Powerpuff girls Z phát sóng trên truyền hình Nhật Bản.

Năm 2008, cô ký hợp đồng độc quyền với công ty giải trí William Morris Agency, một trong ba công ty giải trí lớn nhất tại Mỹ, trở thành nữ diễn viên Trung Quốc thứ hai sau Chương Tử Di về chung công ty với nhiều ngôi sao như Mel Gibson, Reese Witherspoon, Halle Berry, Julia Roberts, Thành Long, Chương Tử Di.

Vươn ra thế giới[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 2008, Lưu Diệc Phi đóng phim Vua Kung Fu cùng với Thành LongLý Liên Kiệt, đánh dấu một bước ngoặt ấn tượng trong sự nghiệp của cô. Đây là bộ phim nói tiếng Anh đầu tiên của Diệc Phi, đáng chú ý hơn nữa là kinh phí của bộ phim này lên tới 70 triệu USD và đạo diễn của phim là người từng sản xuất bộ phim hoạt hình nổi tiếng Vua sư tử của Hãng phim Walt Disney.

Năm 2010, Lưu Diệc Phi tham gia Thông cáo tình yêu, do nam ca sĩ Vương Lực Hoành làm đạo diễn. Tháng 6 cùng năm, cô bắt đầu quay phim điện ảnh Thiến nữ u hồn nội dung phiên bản này được làm mới so với tác phẩm ăn khách cùng tên trước đó. Cô nhận vai nữ chính Nhiếp Tiểu Thiến đóng cùng nam tài tử Cổ Thiên Lạc và Dư Thiếu Quần. Phim được đạo diễn bởi Diệp Vĩ Tín, một đạo diễn Hồng Kông tên tuổi và gần đây đã gây được tiếng vang với nhiều tác phẩm xuất sắc. Kịch bản được chuyển thể từ tiểu thuyết Liêu trai chí dị của nhà văn Bồ Tùng Linh.

Năm 2019, những trailer đầu tiên về phim Hoa Mộc Lan (Mulan) do Lưu Diệc Phi thủ vai phiên bản điện ảnh được Disney tung ra và dự kiến chiếu năm 2020 [2].

Đời tư[sửa | sửa mã nguồn]

Gia đình[sửa | sửa mã nguồn]

Nguyên quán bên nội của Lưu Diệc Phi là huyện Nhiêu Dương, tỉnh Hà Bắc.[19] Ông bà nội đều là những cán bộ từ phía nam Hà Bắc, tương ứng là thôn Cảnh Khẩu, huyện Nhiêu Dương[19] và quận An Bình, tỉnh Hà Bắc, Trung Quốc.[20] Ông nội Khổng Quân (孔钧) và bà nội là An Uẩn Thục (安蕴淑) đảm nhiệm chức vụ Phó Bí thư Đảng ủy Học viện Y tế Vũ Hán (nay là Học viện Y khoa Đồng Tế thuộc Đại học Khoa học và Công nghệ Hoa Trung) và Bí thư Đảng ủy của Bệnh viện Phụ Chú số 2 (nay là Bệnh viện Đồng Tế Vũ Hán).[20][21]

Cha cô là An Thiếu Khang (安少康), giảng dạy ở khoa ngoại văn chuyên ngành tiếng Pháp tại Đại học Vũ Hán, kiêm thư ký thứ nhất Đại sứ quán Trung Quốc tại Pháp.[22] Mẹ cô là bà Lưu Hiểu Lợi (刘晓莉) sinh ngày 4 tháng 11 năm 1959 tại Cáp Nhĩ Tân, Hắc Long Giang, một nghệ sĩ múa cấp quốc gia, từng đi giảng dạy ở nhiều nơi. Năm 1970, bà Hiểu Lợi theo học chuyên ngành múa dân gian, múa cổ điển và múa ba lê tại Học viện Ca vũ kịch Vũ Hán. Năm 1976 sau khi tốt nghiệp được giữ làm diễn viên múa tại đây. Bà từng góp mặt trong nhiều vở múa nổi tiếng như Xuân giang hoa nguyệt dạ, Hái nho, Cái chết của phượng hoàng, Sở vận… và vai Tây Vương Mẫu trong phim Vua Kung Fu (2008).[23]

Bà Hiểu Lợi là người đã truyền tình yêu nghệ thuật cho con gái qua những chuyến đi lưu diễn.[4]

Lưu Diệc Phi cũng rất thân với ông Trần Kim Phi (陈金飞), cha đỡ đầu và là tổng giám đốc điều hành Tập đoàn đầu tư Thông Sản Bắc Kinh [24]. Khi Lưu Diệc Phi đón sinh nhật tròn 18 tuổi, ông Trần Kim Phi đã quyết định tổ chức cho con gái nuôi một lễ trưởng thành thật đặc biệt tại Nhà khách Quốc gia Điếu Ngư Đài với trị giá lên tới 1,8 triệu nhân dân tệ.[25] Bữa tiệc có sự góp mặt của chủ tịch hãng đĩa Sony Music Japan, đạo diễn Trương Kỷ Trung, Chu Thời Mậu, Úc Quân Kiếm, diễn viên Huỳnh Hiểu Minh, Lâm Chí Dĩnh v.v và một số các quan chức của Bộ Văn Hóa tham dự.[26]

Hẹn hò[sửa | sửa mã nguồn]

Vào ngày 5 tháng 8 năm 2015, Lưu Diệc Phi xác nhận mới bắt đầu mối quan hệ với nam diễn viên Hàn Quốc Song Seung Hun.[27]

Vào ngày 25 tháng 1 năm 2018, Song Seung-hun đã trả lời thông qua các phương tiện truyền thông Hàn Quốc: "Vì lịch trình bận rộn nên đã chia tay với Lưu Diệc Phi”.[28]

Tranh cãi[sửa | sửa mã nguồn]

Vào ngày 14 tháng 8 năm 2019, Lưu Diệc Phi và hầu hết các nghệ sĩ Trung Quốc liên tiếp bày tỏ lập trường phản đối lại các cuộc biểu tình tại Hồng Kông và đăng trên tài khoản Weibo cá nhân của họ. Bài đăng mà Lưu Diệc Phi đăng lại có một bức ảnh có dòng chữ là những gì phóng viên Fu Guohao của World Wide Web nói khi anh ta bị mắc kẹt tại sân bay: "Tôi ủng hộ cảnh sát Hồng Kông, bạn có thể đánh tôi", đồng thời có dòng chữ「What a shame for Hong Kong」 bằng tiếng Anh. Động thái này được một số người cho rằng Lưu Diệc Phi đồng lòng ủng hộ dùng bạo lực đối những người biểu tình phản đối chính phủ và một số cư dân mạng trên trang web cộng đồng nói rằng những bài đăng thể hiện quan điểm đó sẽ có tác động tới việc cảnh sát lạm dụng quyền lực công cộng để sử dụng bạo lực đối với người dân Hồng Kông.

Ngoài ra cũng đề cập đến việc Lưu Diệc Phi là một công dân Mỹ nhập tịch, người được hưởng nhiều quyền tự do, dễ dàng tiếp cận đối với thông tin chưa được chính phủ Trung Quốc kiểm duyệt hơn hầu hết các công dân Trung Quốc nhưng nữ diễn viên vẫn không mấy thiện cảm với những người biểu tình dân chủ ở Hồng Kông. Từ đó tạo ra làn sóng tẩy chay phiên bản live-action "Mulan", bộ phim hoạt hình chuyển thể của Disney có sự tham gia của cô.[29]

Danh sách phim[sửa | sửa mã nguồn]

Phim điện ảnh[sửa | sửa mã nguồn]

Năm Tựa phim Tựa phim gốc Vai diễn Ghi chú
2004 Ngũ nguyệt chi luyến 五月之恋 Triệu Tuyên
Tình Yêu Đại Doanh Gia 恋爱大赢家 Kim Xảo Lệ
2006 A bảo đích cố sự 阿宝的故事 Tây Tây Khách mời
2008 Vua Kung Fu 功夫之王 Kim Yến Tử
2010 Thông cáo tình yêu 恋爱通告 Tống Hiểu Thanh
2011 Thiến nữ u hồn 倩女幽魂 Nhiếp Tiểu Thiện
Hồng Môn Yến 鸿门宴 Ngu Cơ
2012 Tứ đại danh bổ 四大名捕 Vô Tình
Đồng Tước Đài 铜雀台[30] Linh Thư / Điêu Thuyền
2013 Tứ đại danh bổ 2 四大名捕2 Vô Tình
2014 Tứ đại danh bổ 3 四大名捕3 Vô Tình
2015 Mối thù hoàng tộc Outcast Triệu Liên
Lộ Thủy Hồng Nhan 露水红颜 Hình Lộ Phim chuyển thể
Tình yêu thứ ba 第三種愛情 Trâu Vũ
2016 Dạ khổng tước 夜孔雀 Elsa [31]
Hóa ra anh vẫn ở đây 原来你还在这里 Tô Vận Cẩm [32]
2017 Tam sinh tam thế thập lý đào hoa 三生三世十里桃花 Bạch Thiển Phim chuyển thể[33]
Hoa cỏ chiến tranh 烽火芳菲 / The Chinese Widow Ying (Góa phụ)
Hai kiếp yêu tinh - May mắn kiếp này Hanson and the Beast Bạch Khiêm Sở
2020 Hoa Mộc Lan Mulan Mộc Lan Live-action
Ngày lên sóng Tựa đề Vai diễn Phiên vị
20 tháng 3 năm 2003 Kim phấn thế gia Bạch Tú Châu Nữ hai
22 tháng 12 năm 2003 Thiên Long Bát Bộ Vương Ngữ Yên Nữ chính
24 tháng 1 năm 2005 Tiên kiếm kỳ hiệp Triệu Linh Nhi Nữ chính
1 tháng 3 năm 2005 Đậu Khấu Niên Hoa Cô giáo Tiểu Triệu Khách mời
17 tháng 3 năm 2006 Thần điêu đại hiệp Tiểu Long Nữ Nữ chính
2020 (chưa chiếu) Nam yên trai bút lục Lục Mạn Sinh/Dạ Ma La Nữ chính

Sản phẩm âm nhạc[sửa | sửa mã nguồn]

Album[sửa | sửa mã nguồn]

Thông tin album Danh mục
  • Tên album: The Door Late At Night (深夜之门)
  • Ngày phát hành: 19 tháng 7 năm 2006
  • Hãng đĩa thu âm: Sony Music Nhật Bản
  • Loại album: EP Nhật Bản
  • Bài hát bao gồm: 4 bài
  1. 真夜中のドア
  2. Brightly
  3. 真夜中のドア(伴奏)
  4. Brightly(伴奏)
  • Tên album: Liu Yifei
  • Ngày phát hành: 31 tháng 8 năm 2006
  • Công ty thu âm: Sony Music Nhật Bản
  • Loại album: Album tiếng phổ thông
  • Bài hát đã thu: 10 bài
  1. 泡芙女孩
  2. 就要我滋味
  3. 心悸
  4. 幸運草
  5. 放飛美麗
  6. 世界的秘密
  7. 一克拉的眼淚
  8. 做你的秒鐘
  9. 毛毛雨
  10. 愛的延長賽
  • Tên album: All My Words
  • Ngày phát hành: ngày 6 tháng 9 năm 2006
  • Công ty thu âm: Sony Music Nhật Bản
  • Loại album: Album tiếng Nhật
  • Bài hát đã thu: 12 bài
  1. 真夜中のドア
  2. 恋する周末
  3. Happiness
  4. 爱のミナモト
  5. どこまでも ひろがる空に向かって
  6. テノヒラノカナタ
  7. My sunshiny day
  8. 世界の秘密
  9. Close to me
  10. 月の夜
  11. スピード
  12. Pieces of my words ~言の花~

Tham gia MV[sửa | sửa mã nguồn]

Năm Tựa đề Ca sĩ Ghi chú
2006 I'm still waiting for you Lâm Chí Dĩnh Album Can't Stop Me của Lâm Chí Dĩnh
2006 Puff Girl / Mayonaka no Door Lưu Diệc Phi Bài hát trong album tiếng Trung đầu tay cùng tên
Want My Taste
Palpitations
Phóng Phi Mỹ Lệ
2008 承諾 Nhiều nghệ sĩ Bài hát cứu trợ động đất Văn Xương
2008 家園 Nhiều nghệ sĩ Bài hát cứu trợ động đất Văn Xương
2012 Best Wishes from Beijing Nhiều nghệ sĩ Bài hát Olympic London 2012
2013 Tại sao bạn sẵn sàng làm tổn thương tôi Hứa Như Vân/Lương Vịnh Kỳ SPCA x Tencent Video "Care for Animals and Respect Life"

Giải thưởng và đề cử[sửa | sửa mã nguồn]

Năm Ngày tháng Lần Đơn vị tổ chức Giải thưởng và đề cử Phim Kết quả Nguôn
2012 18 tháng 3 Lần thứ 24 Hiệp hội các nhà quay phim Hồng Kông Nữ diễn viên có sức hút nhất Thiến nữ u hồn (2011) Đoạt giải [34]
2013 23 tháng 12 Lần thứ 5 Liên hoan phim quốc tế Macao Nữ diễn viên xuất sắc nhất Đồng Tước Đài Đoạt giải [35]
2016 5 tháng 9 Lần thứ 40 Liên hoan phim quốc tế Montreal Nữ diễn viên xuất sắc nhất Dạ khổng tước Lọt vào danh sách [36]
3 tháng 11 Lần thứ 1 Golden Screen Awards Nữ diễn viên xuất sắc nhất Đề cử [37]
18 tháng 11 Lần thứ 16 Chinese Film Media Awards Nữ diễn viên được theo dõi nhiều nhất Tình yêu thứ 3 Đoạt giải [38]
15 tháng 12 Lần thứ 13 Liên hoan phim Đại học Quảng Châu Nữ diễn viên nổi tiếng nhất với sinh viên đại học Dạ khổng tước Đoạt giải [39]
Hóa ra anh vẫn ở đây Đoạt giải
2017 25 tháng 6 Lần thứ 20 Liên hoan phim quốc tế Thượng Hải Nữ diễn viên xuất sắc nhất Hoa cỏ chiến tranh Lọt vào danh sách [40]
26 tháng 10 Lần thứ 2 Liên hoan phim Tokyo · Tuần lễ phim Trung Quốc Nữ diễn viên xuất sắc nhất Tam sinh tam thế thập lý đào hoa Đoạt giải [41]
29 tháng 12 Lần thứ 9 Liên hoan phim quốc tế Macao Nữ diễn viên xuất sắc nhất Tam sinh tam thế thập lý đào hoa Đề cử [42]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ “A popular online fantasy novel's movie adaptation to release in July”. China Radio International. 31 tháng 3 năm 2017. 
  2. ^ “美了多年的刘亦菲一直是那个神仙姐姐”. Sina (bằng tiếng Trung). Truy cập ngày 26 tháng 2 năm 2017. 
  3. ^ (tiếng Trung) 劉亦菲成長照片曝光 跳新疆舞美若天仙. Nhân Dân nhật báo. 30 tháng 11 năm 2005. Truy cập ngày 21 tháng 8 năm 2006.
  4. ^ a ă 刘亦菲2006.11.11《天下女人》高清完整版. 湖南卫视. 11 tháng 11 năm 2006. 
  5. ^ 视频: 刘亦菲,BTV2《每日文娱播报》,刘亦菲成长的故事. 北京电视台文艺频道. 1 tháng 12 năm 2006. 
  6. ^ ““神仙姐姐”刘亦菲被曝八岁曾获童模冠军(图)”. 长江日报. 16 tháng 5 năm 2003. 
  7. ^ ““龙女”并非“童姥” 刘亦菲18”. 武汉晨报. 19 tháng 4 năm 2005. Bản gốc lưu trữ ngày 25 tháng 2 năm 2006. 
  8. ^ 徐晓倩、晋助 (tháng 4 năm 2015). “刘亦菲 爱是释放自己”. 时尚芭莎: 277–285. 
  9. ^ [1]
  10. ^ “弃用韩国演员 徐路刘亦菲加盟《金粉世家》(图)”. 搜狐娱乐. 20 tháng 6 năm 2002. 
  11. ^ “《金粉世家》走出王语嫣 15岁刘亦菲一步登天(图)”. 新浪娱乐. 26 tháng 7 năm 2002. 
  12. ^ “刘亦菲因美丽而幸运 “神仙姐姐”一路飙红”. 新浪娱乐. 5 tháng 12 năm 2003. 
  13. ^ ““小龙女”变身女神赵灵儿亮相《仙剑奇侠传》”. 江南时报. 18 tháng 3 năm 2005. 
  14. ^ “组图:刘亦菲生日会签约音乐公司 正式进军歌坛”. 新浪娱乐. 26 tháng 8 năm 2005. 
  15. ^ “金庸钦点刘亦菲当小龙女”. 成都日报. 15 tháng 10 năm 2003. 
  16. ^ “全方位解读黄晓明刘亦菲版《神雕侠侣》(组图)”. 新浪娱乐. 17 tháng 3 năm 2006. 
  17. ^ “张纪中“大麦”贺小龙女刘亦菲发新专辑(组图)”. 新浪娱乐. 31 tháng 8 năm 2006. 
  18. ^ “刘亦菲《刘亦菲》双喜临门 本月底大型庆功(图)”. 新浪娱乐. 20 tháng 10 năm 2006. 
  19. ^ a ă 孔钧口述(李旭玫访谈整理) (8 tháng 10 năm 2015). “纪念中国人民抗日战争暨世界反法西斯战争胜利70周年专题”. 華中科技大學校史. Bản gốc lưu trữ ngày 14 tháng 2 năm 2019. Truy cập ngày 13 tháng 2 năm 2019. 
  20. ^ a ă 华中科技大学同济医学院人物志(1907-2002). 2002. 
  21. ^ “老年工作简讯(第七期)”. 华中科技大学离退休工作处. 21 tháng 2 năm 2012. Bản gốc lưu trữ ngày 16 tháng 3 năm 2015. 
  22. ^ 安少康
  23. ^ 刘晓莉_刘晓莉与安少康_刘亦菲母亲刘晓莉照片
  24. ^ (tiếng Trung)刘亦菲"富豪继父"真实身份揭秘
  25. ^ 刘亦菲"爸爸"中国首富榜23
  26. ^ 刘亦菲干爹陈金飞激吻92年干女儿 扒完真是细思极恐
  27. ^ “宋承憲承認與劉亦菲戀愛:剛剛開始交往”. Thông tấn Trung ương. 5 tháng 8 năm 2015. 
  28. ^ “宋承宪刘亦菲恋情公开2年半后分手 男方公司确认”. Giải trí Sina. 25 tháng 1 năm 2018. 
  29. ^ “劉亦菲陷香港示威風波:微博撐警引推特網友抵制《花木蘭》”. 
  30. ^ Stars of "The Four" and "The Assassins" Set to Shine at BJIFF
  31. ^ Clifford Coonan (ngày 8 tháng 2 năm 2015). “Berlin: France Setting the Pace On China Co-Productions”. hollywoodreporter.com. Truy cập ngày 9 tháng 2 năm 2015. 
  32. ^ “《致青春2》开机 吴亦凡刘亦菲重返18岁(组图)”. cri.cn. Truy cập 22 tháng 4 năm 2015. 
  33. ^ Etan Vlessing (9 tháng 9 năm 2015). “NBCUniversal International Inks Multi-Year Movie Deal With China's Alibaba”. hollywoodreporter.com. Truy cập ngày 9 tháng 9 năm 2015. 
  34. ^ “劉青雲稱拿獎與信心無關 劉亦菲贊周潤發成龍很有魅力”. Youku. 19 tháng 3 năm 2012. 
  35. ^ “神仙大姐劉亦菲首獲影后 蔣勤勤甜蜜秀婚紗”. Thời trang Sina. 26 tháng 12 năm 2013. 
  36. ^ (tiếng Anh)“Chinese films win big at 40th Montreal World Film Festival”. Global Times. 7 tháng 9 năm 2016. 
  37. ^ “Nominees”. Golden Screen Awards. 3 tháng 11 năm 2016. Bản gốc lưu trữ ngày 28 tháng 2 năm 2017. Truy cập ngày 27 tháng 2 năm 2017. 
  38. ^ “第十六屆華語電影傳媒大獎揭曉 《聶隱娘》奪最佳影片 章子怡擔任推廣大使”. Mtime. 19 tháng 11 năm 2016. 
  39. ^ “廣州大學生電影節落幕 《湄公河行動》最受歡迎”. Tin tức Sina. 15 tháng 12 năm 2016. 
  40. ^ “劉亦菲《烽火芳菲》開幕上影節 三部華語片爭金爵”. Giải trí Sina. 8 tháng 6 năm 2017. 
  41. ^ “劉亦菲憑《三生三世》獲“金鶴獎”最佳女主角”. Giải trí Sina. 26 tháng 10 năm 2017. 
  42. ^ “2017年第九屆澳門國際電影節·首批獎項提名名單”. Liên hoan phim quốc tế Macao. 29 tháng 11 năm 2017. Bản gốc lưu trữ ngày 5 tháng 1 năm 2018. Truy cập ngày 4 tháng 1 năm 2018. 
  1. ^ Có nhiều ý kiến ​​khác về thời điểm ly hôn của cha mẹ cô, chẳng hạn như chưa tròn 1 tuổi hoặc 10 tuổi.

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]