Mạc (họ)

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Mạc
Chu Mac.gif
Chữ Mạc viết bằng chữ Hán
Tiếng Việt
Quốc ngữ Mạc
Tiếng Trung
Chữ Hán

Mạc là một họ của người, có ở các quốc gia Á Đông như Trung Quốc, Việt Nam,... Riêng ở Việt Nam, có cả một triều đại phong kiến Việt Nam do những ông vua mang họ này trị vì, đó là nhà Mạc. Ngoài ra, trong lịch sử Việt Nam, còn có một gia tộc họ Mạc ở Hà Tiên người Hoa, mà người đầu tiên là Mạc Cửu, có công cai quản và khai khẩn Miền Tây Nam Bộ Việt Nam, rồi dâng đất này cho triều đại phong kiến Việt Nam đương thời là chúa Nguyễn, làm cho lãnh thổ Việt Nam được mở rộng tới vùng cực Nam Việt Nam ngày nay (xem bài Nam tiến).

Họ Mạc Việt Nam[sửa | sửa mã nguồn]

Dòng họ Mạc của nhà Mạc[sửa | sửa mã nguồn]

Dòng họ này khởi phát từ làng Long Động, xã Nam Tân, huyện Nam Sách, tỉnh Hải Dương, gồm:

  • Thủ khoa Đại Việt, triều nhà Lý, Mạc Hiển Tích cùng với em là Mạc Kiến Quang cũng đậu Tiến sỹ hai anh em làm Khoa đồng Triều Lý Anh Tông. Quê ông ở làng Long Động, xã Nam Tân, huyện Nam Sách, tỉnh Hải Dương.
  • Lưỡng quốc Trạng nguyên Mạc Đĩnh Chi
  • Nhà Mạc, mà người khởi lập là Mạc Đăng Dung quê ở làng Cổ Trai, huyện Nghi Dương trấn Hải Dương (nay là huyện Kiến Thụy, thành phố Hải Phòng), nhưng quê gốc từ làng Long Động huyện Nam Sách tỉnh Hải Dương, là cháu 7 đời của Mạc Đĩnh Chi. Mùa xuân kỉ tỵ năm Quang Thuận 1469 do tiến sỹ võ Mạc Đăng Hùng có võ nghệ siêu quần lại giỏi đá cầu. Vì đá Cầu mua vui trên Sông Cầu cho Vua Lê Thánh Tông không may Cầu rơi vào thuyền rồng nơi Vua Ngự xem nên khép phạm tội chém, cả Gia đình phải chạy lánh nạn xuống làng Cổ trai huyện Nghi Dương nay là Kiến thụy Hải phòng) để lánh nạn trong đó có cha là Mạc Hịch bố Mạc Đăng Dung và chú là Mạc Đăng Trắc cha Mạc Đăng Lượng và Mạc Đăng Tuấn sau Trấn thủ Nghệ An. Việc đổi họ thay tên như Mạc Đăng Lượng sang Hoàng Đăng Quang đều có nghĩa là Đèn tỏa sáng, từ họ Mạc sang họ Hoàng liên quan tước Hoàng Quận công được Mạc Thái Tổ phong đều có ý sâu xa cả.[cần dẫn nguồn]
  • Mạc Cảnh Huống, dòng dõi nhà Mạc, là con Mạc Đăng Doanh, và là em Mạc Kính Điển, nhưng theo Nguyễn Hoàng vào Nam, trở thành công thần khai quốc của chúa Nguyễn [1] (xem thêm Nguyễn Phúc Lan).
  • Mạc Thị Giai, sau đổi thành Nguyễn Thị Giai, con gái Mạc Kính Điển. Nhà Mạc diệt vong, bà lưu lạc vào Nam và trở thành Vương phi của Đàng Trong, vợ chúa Sãi Nguyễn Phúc Nguyên, mẹ đẻ của chúa Thượng Nguyễn Phúc Lan
  • Sau khi họ nhà Mạc bị lật đổ, con cháu nhà Mạc bị phong trào phù Lê diệt Mạc bức hại, khiến rất nhiều người bị giết. Một số trốn thoát được sợ bị trả thù nên đã thay tên đổi họ, mượn họ khác để tồn tại và ly tán ra nhiều miền của đất nước từ bắc chí nam. [2]

Tiến sĩ nho học Việt Nam mang họ Mạc[sửa | sửa mã nguồn]

Gia tộc họ Mạc ở Hà Tiên[sửa | sửa mã nguồn]

Bài chi tiết: Mạc thị gia phả
Chu Mac 2.gif

Khác với các nhân vật họ Mạc tại Việt Nam, dòng họ Mạc (gốc Hoa) ở Hà Tiên được viết bằng chữ Mạc (莫) thông thường và thêm bộ ấp vào (鄚)[cần dẫn nguồn]

Họ Mạc Trung Quốc[sửa | sửa mã nguồn]

Tại Trung Quốc, họ Mạc (莫) là một họ tương đối hiếm tại Trung Quốc. Thống kê năm 2004 cho biết có khoảng 15.400.000 người mang họ này tại Trung Quốc đại lục. Trong Bách gia tính, họ Mạc xếp thứ 168.

Nhân vật nổi tiếng[sửa | sửa mã nguồn]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]