Khương (họ)

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm

Khương là một họ của người châu Á. Họ này có mặt ở Trung Quốc (chữ Hán: 姜, Bính âm: Jiang), nó đứng thứ 32 trong danh sách Bách gia tính. Đây là một trong các họ có nguồn gốc cổ nhất ở Trung Quốc, nó bắt nguồn từ thời Viêm Đế, một trong những người được coi là thủy tổ của dân tộc Trung Hoa. Họ Khương còn xuất hiện khá phổ biến ở Triều Tiên (Hangul: 강, Romaja quốc ngữ: Kang hoặc Gang) và Việt Nam.

Trong phương ngữ tiếng Việt, âm đọc "Khương" tại miền Nam có thể đọc thành "Khang".

Việt Nam[sửa | sửa mã nguồn]

Nguồn gốc[sửa | sửa mã nguồn]

Khi nước Nam Việt còn bị nhà Đường ở phương Bắc đô hộ, đã có một người Việt Nam đỗ thủ khoa trong kì thi Hán học của nhà Đường, đó là Khương Công Phụ. Ông sinh năm 793 ở làng Sơn Ổi, xã Cổ Hiển, tổng Cốt Hải, huyện Yên Định (nay là làng Tường Vân, xã Định Thành, huyện Thiệu Yên, tỉnh Thanh Hoá). Ông là một trong 8 vị cống sĩ xứ Giao Châu trúng tuyển, được cử đi thi Hội ở Tràng An (Trung Quốc), sau đó nhà Đường lại mở thêm Chế khoa, ông đỗ xuất sắc với bài "Đối trực ngôn cực gián" cùng với người em là Khương Công Phục đã đem lại danh dự và uy tín cho người Việt ở phương Nam.

Về cội nguồn, dòng họ thế thứ, nhất là hậu duệ của hai cụ thì chưa có sách vở nào ở Việt Nam đề cập đến một cách chi tiết. Căn cứ vào các cuốn gia phả mà các chi họ Khương hiện đang giữ thì cuốn "Gia phả của dòng họ Khương Công Phụ" dòng họ Khương ở Yên thôn, huyện Thạch Thất, tỉnh Hà Tây là cuốn gia phả ghi chi tiết và đầy đủ nhất. Đây là cuốn gia phả viết bằng chữ Hán xen Nôm. Chữ viết rất đẹp to, rõ ràng trên giấy dó khổ 17 x 25 cm, dày 70 trang, mỗi trang khoảng 150 chữ[1].

Nhân vật[sửa | sửa mã nguồn]

  • Khương Thần Dực, thứ sử Ái Châu.
  • Khương Văn Đĩnh, huyện thừa Tiến sĩ, cụ sinh ra Khương Công Phụ và Khương Công Phục.
  • Khương Công Phụ, người xã Định Công, huyện Yên Định, tỉnh Thanh Hóa. Thi đỗ tiến sĩ tại Trung Quốc năm 784 và được nhà Đường ban đầu phong chức Hiệu thư lang, thăng dần đến Gián nghị đại phu. Cuối cùng trở thành Tể tướng của phương Bắc[2]
  • Khương Công Phục, em của Khương Công Phụ, tiến sĩ, được nhà Đường phong chức Lang Trung bộ Lễ, Bắc bộ Thị lang.
  • Khương Tăng Hội, thiền sư, thi sĩ[3]
  • Khương Thế Hiền, thám hoa trong kỳ thi năm Canh Dần 1650 đời Lê Thần Tông.
  • Khương Hữu Long, Tổng trưởng Bộ Y tế chính quyền Quốc gia Việt Nam [4]
  • Khương Hữu Quý, Tiến sĩ Hóa học, Dược khoa học, và Vạn vật học tại Pháp; Bác học gia điều hành Vện nghiên cứu ung thư; giảng sư đại học Viện hàn lâm khoa học
  • Khương Hữu Bá: Đại tá Hải Quân - VNCH, Tư lệnh Vùng IV Duyên Hải (chức vụ Đề Đốc), Chỉ Huy Trưởng Trung Tâm Huấn luyện Sỉ Quan Hải Quân (chức vụ Phó Đô Đốc) và Chánh Thanh Tra (Chức vụ Phó Đô Đốc)
  • Khương Hữu Nam: Đại tá Lục Quân - Cộng Hòa Xã Hội Chủ nghĩa VN
  • Khương Hữu Điểu: Tổng Trưởng Kinh Tế - VNCH và Giám đốc Ngân hàng Khuếch Trương Kỷ Nghệ VNCH
  • Khương Hữu Lộc, Tiến Sĩ Kinh Tế & Kế toán – Giáo sư Đại Học chương trình Thạc sĩ MBA (Giảng Sư Hội nghị Quảng Trị-Kinh Tế) - Giám đốc Tập đoàn 500’s lớn nhất Hoa Kỳ (Fortune 500)

Trung Quốc[sửa | sửa mã nguồn]

Triều Tiên[sửa | sửa mã nguồn]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Nỗi lòng Khương Công Phụ
  2. ^ Đại lược về khoa cử Việt Nam
  3. ^ http://www.phatviet.com/lemanhthat/ttvh1/ttvhpg105.htm Tổng tập văn học Phật giáo Việt Nam, phần II: Khương Tăng Hội.
  4. ^ Chú thích trống (trợ giúp)