Đoàn (họ)

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm

Đoàn là một họ của người châu Á. Họ này có mặt ở Việt Nam và khá phổ biến ở Trung Quốc (Hán tự: 段, Bính âm: Duan).

Việt Nam[sửa | sửa mã nguồn]

Theo các tông chủ họ Đoàn ở Việt Nam thì Cao tổ của họ Đoàn ở Việt Nam là Đoàn Văn Khâm và Đông Hải Đại vương Đoàn Thượng. Ngày giỗ tổ họ Đoàn Việt Nam được chọn là ngày 8 tháng Giêng âm lịch hàng năm. [cần dẫn nguồn] Đền thờ Cao Tổ Họ Đoàn Việt Nam được các thành viên tông chi họ Đoàn xây dựng tại xã Đoàn Thượng, huyện Gia Lộc, tỉnh Hải Dương, trên diện tích 4.000m2 với kinh phí xây dựng khoảng 10 tỷ đồng (vào thời điểm hoàn công). [cần dẫn nguồn]

Một số nhân vật nổi bật[sửa | sửa mã nguồn]

  • Đoàn Văn Khâm (chữ Hán: 段文欽; là nhà thơ, danh thần, Thượng thư Bộ Công đời vua Lý Nhân Tông (1072-1128). Ông đỗ Thái Học Sinh (tương đương Tiến sĩ) trong khoa thi nho học đầu tiên của Việt Nam - khoa thi Minh Kinh Bác Học năm Ất Mão 1075. (Tháng 2 năm Ất Mão (1075), vua Lý Nhân Tông cho mở khoa thi Minh kinh Bác học và thi Nho học tam trường ở Văn Miếu Quốc Tử Giám, năm đó Lê Văn Thịnh đỗ đầu - tương đương Trạng nguyên, Đoàn Văn Khâm đỗ thứ 2 (tương đương Bảng nhãn). Ngay sau khi đỗ đại khoa, ông được Vua Lý Nhân Tông bổ nhiệm luôn vào chức Công Bộ Thượng thư năm 1075. Ông là Cao tổ họ Đoàn Việt Nam.
  • Đoàn Thượng (chữ Hán: 段尙; 1184-1228), là danh tướng cuối thời nhà Lý, được nhiều đời Vua Nhà Trần, nhà Hậu Lê, Nhà Nguyễn phong là Đông Hải Đại Vương Đoàn Thượng. Trong dân gian gọi Ông là Đức Thánh Đông Hải Đại Vương Đoàn Thượng, có đền thờ ở rất nhiều nơi (ít nhất có khoảng 275 Đình làng xã ở khu vực Bắc bộ thờ Ngài) xem Doantocvietnam.com và xem Văn tế Đông Hải Đại Vương Đoàn Thượng tại Thảo luận Đoàn Thượng. Đền thờ chính ở thôn Đoàn Thượng, xã Đoàn Thượng, huyện Gia Lộc, tỉnh Hải Dương và thôn Bần- Yên Nhân, Hưng Yên.
  • Đoàn Nhữ Hài (chữ Hán: 段汝諧; 1280-1335), là đốc tướng, danh thần trải 3 đời vua nhà Trần, là người có năng lực hoạt động về ngoại giao và nội trị, lần lượt nắm giữ các chức vụ Ngự sử trung tán, Tham tri chính sự, Tri khu mật viện sự, Nhập nội Hành khiển, Kinh lược Nghệ An, Thiên tử chiêu dụ sứ. Trong cuộc dấy binh chinh phạt Chiêm Thành năm Tân Hợi (1311) của vua Trần Anh Tông, Đoàn Nhữ Hài góp phần quan trọng để giành lấy thắng lợi mà không hề tốn xương máu. Ông hy sinh trong cuộc chinh phạt Ai Lao năm 1335.
  • Đoàn Xuân Lôi (chữ Hán: 段春雷); Tháng 2 âm lịch năm 1384, thượng hoàng Trần Nghệ Tông mở khoa thi Thái học sinh ở chùa Vạn Phúc, núi Tiên Du, Bắc Ninh. Trong khoa thi này, Đoàn Xuân Lôi đỗ thủ khoa còn gọi là Đình nguyên hay Thủ khoa Đại Việt tương đương Trạng nguyên. Tại Văn miếu Bắc Ninh, bia số 1 ghi ông là Trạng nguyên. Ông ở số thứ tự 14 trong danh sách Thủ khoa nho học Việt Nam. Cũng trong danh sách Thủ khoa nho học Việt Nam số thứ tự 65 còn có Đoàn Thế Bạt, đỗ thủ khoa năm 1576 thời Mạc; Ở số thứ tự 125 có Đoàn Chú (còn có tên Đoàn Thụ) đỗ thủ khoa khoa Bính Dần niên hiệu Cảnh Hưng thứ 7 năm (1746) thời Hậu Lê. Sau khi đỗ đại khoa, Đoàn Xuân Lôi được cử làm quan, chức Quốc tử trợ giáo, dạy ở Quốc Tử Giám, nổi tiếng văn thơ, sau làm quan đến Trung thư hoàng môn thị lang, kiêm Thông phán Ái Châu. Văn chương, tư tưởng của ông nức tiếng một thời.
  • Đoàn Thị Điểm (段氏點, 1705-1748), hiệu: Hồng Hà Nữ Sĩ (紅霞女士), là nữ sĩ Việt Nam thời Lê trung hưng tức Hậu Lê, tác giả Trinh phụ ngâm (chữ Nôm), bộ Truyền kỳ tân phả (chữ Hán). Bà gốc chính là họ Đoàn, tổ 5 đời của Đoàn Thị Điểm là quan võ, do có công với Nhà Lê được ban Quốc tính tên là Lê Công Nẩm - là con của Đoàn Công Bẩm, hậu duệ Đoàn mãnh tướng Đoàn Công Uẩn Việt Nam. Đoàn Doãn Luân là anh của Đoàn Thị Điểm đỗ đầu xứ kinh Bắc kỳ thi Hương tức đỗ Giải nguyên. Con gái của Đoàn Doãn Luân là Đoàn Lệnh Khương cũng nổi tiếng hay chữ, người đời tụng gọi là Nữ Học Sư có tiếng trong giới Thăng Long kẻ sĩ.
  • Đoàn Nguyễn Tuấn (1750-?), hiệu Hải Ông, là nhà thơ, đại thần nhà Tây Sơn trong lịch sử Việt Nam. Ông làm quan đến chức Tả thị lang bộ Lại, tước Hải Phái hầu. Ông là con của Hoàng giáp Đoàn Nguyễn Thục.
  • Hiếu Chiêu hoàng hậu; tên thật là Đoàn Thị Ngọc (1601-1661), còn được biết đến với tên Đoàn quý phi, là con gái của Thạch Quận Công Đoàn Công Nhạn và bà thứ thất Võ Thị Thành. Bà là Vương phi của Chúa Thượng Nguyễn Phúc Lan, mẹ của Chúa Hiền - Thái Tông Nguyễn Phúc Tần, được tôn xưng là Bà chúa Tằm Tang.
  • Đoàn Tử Quang (1818-1928), 82 tuổi nghe lời mẹ đi thi đỗ cử nhân nho học. Ông là người cao tuổi nhất thi đỗ khoa bảng và ông cũng là người khoa bảng có tuổi thọ cao nhất trong lịch sử Việt Nam (thọ 110 tuổi), được triều đình phong Hàn lâm viện thị độc.
  • Đoàn Hữu Trưng (段有徵 hay Đoàn Trưng (段徵, là người yêu nước thương dân, một thủ lĩnh của cuộc nổi dậy nhằm lật đổ vua Tự Đức.
  • Đoàn Chí Tuân, một thủ lĩnh của phong trao Cần vương chống Pháp. Ông đã từng xưng Long Đức Hoàng Đế.
  • Đoàn Văn Cự (1835-1905), là một thủ lĩnh kháng Pháp tại Biên Hòa (Việt Nam).
  • Đoàn Trung Còn (1908 – 1988), là cư sĩ, nhà phật học miền Nam, được tôn xưng là hòa thượng Thích Hồng Tại, pháp danh Hồng Tai, nguyên là Trị Sự Trưởng Ban Chấp Sự Trung Ương của Giáo Hội Tịnh Độ Tông Việt Nam. Ông viết và dịch rất nhiều sách về Phật học.
  • Đoàn Chương, trung tướng, nguyên Viện trưởng Viện Chiến lược Bộ Quốc Phòng, Trưởng phái đoàn Quân sự Việt Nam Cộng hòa đàm phán Hiệp định Paris.
  • Nam Long (trung tướng), Nam Long (1921-1999) tên thật là Đoàn Văn Ưu, trung tướng Quân đội Nhân dân Việt Nam, nguyên Phó giám đốc Học viện quân sự cấp cao (nay là Học viện Quốc phòng).
  • Đoàn Nhật Tiến là trung tướng Quân Đội Nhân Dân Việt Nam, Giám đốc Viện khoa học và công nghệ quân sự, Bộ Quốc Phòng.
  • Đoàn Văn Thuận, thiếu tướng, Hiệu trưởng Trường Sĩ quan Pháo Phòng không Quân chủng Phòng không không quân.
  • Đoàn Huyên, thiếu tướng, Cục trưởng Cục Khoa học Quân sự, Phó Tư lệnh Quân chủng Phòng không Không quân.
  • Đoàn Văn Thắng, thiếu tướng, Anh hùng LLVT nhân dân. Ông từng giữ chức vụ Chỉ huy trưởng Bộ Chỉ huy Quân sự tỉnh Vĩnh Long, đại biểu Quốc hội Việt Nam khóa 11.
  • Đoàn Văn Cừ, nhà thơ, hội viên Hội Nhà văn Việt Nam. Đoàn Văn Cừ được tặng Giải thưởng Nhà nước về Văn học nghệ thuật năm 2001. Con trai ông, họa sỹ Đoàn Văn Nguyên cũng được nhận Giải thưởng Nhà nước về văn học nghệ thuật năm 2006.
  • Thuận Yến, tên thật là Đoàn Hữu Công là đại tá, nhạc sĩ Việt Nam. Sự nghiệp sáng tác đồ sộ của ông bao gồm tới hơn 500 ca khúc. Thuận Yến từng giữ chức Trưởng ban Âm nhạc Đài Tiếng nói Việt Nam, người có nhiều sáng tác nhất về Hồ Chí Minh với 26 ca khúc. Ông được tặng Giải thưởng Nhà nước năm 2001 với 5 ca khúc được chọn. Thuận Yến là nhạc sĩ thuộc hàng cây đa cây đề của nền âm nhạc Việt Nam. Nhạc sĩ An Thuyên bày tỏ: "Với cá nhân tôi, tôi cho rằng giải thưởng Nhà nước vẫn chưa xứng đáng với những đóng góp của Thuận Yến cho nền âm nhạc nước nhà.
  • Đoàn Mạnh Phương, tiến sĩ, nhà thơ, nhà báo, Tổng biên tập Tạp chí Trí thức và phát triển. Tiến sĩ kỷ lục Thế giới với công trình Huyền thoại Việt Nam.
  • Đoàn Đức Ban (Vạn Vân) (1899-1933) là một trong những doanh nhân Việt Nam nổi tiếng trước Cánh mạng tháng Tám (1945). Một trong những người con của ông là Đoàn Đức Chuẩn sau này trở thành nhạc sĩ nổi tiếng Đoàn Chuẩn.
  • Đoàn Đình Long, là võ sư Karatedo Đệ thất đẳng huyền đai người Việt Nam, nguyên Huấn luyện viên trưởng Đội tuyển Karatedo Quốc gia Việt Nam, người sáng lập hệ phái Karatedo Đoàn Long.
  • Đoàn Văn Việt, chủ tịch UBND tỉnh Lâm Đồng.
  • Đoàn Văn Thái, nguyên Bí thư TW đoàn thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh, Phó chủ tịch kiêm Tổng thư ký trung ương hội chữ thập đỏ Việt Nam.
  • Đoàn Xuân Hưng, Đại sứ đặc mệnh toàn quyền Việt Nam tại Nhật Bản, Thứ trưởng Bộ Ngoại giao.
  • Đoàn Hương, tiến sĩ khoa học Trường Đại học Khoa học xã hội và nhân văn.
  • Đoàn Nguyên Khang, MC Nguyên Khang, Đài Truyền hình Việt Nam.
  • Đoàn Kiến Quốc, từng là vận động viên bóng bàn số 1 Viêt Nam, hai lần liên tiếp được tham dự Thế vận hội.
  • Đoàn Thị Kim Chi, là tiền đạo, đội trưởng đội Bóng đá nữ quốc gia từng giành Huy chương vàng Sea Games: 2001,2003,2005,2009. Vô địch Giải vô địch bóng đá nữ Đông Nam Á: 2006.

Một số nhân vật nổi bật gốc họ Đoàn

  • Hoàng Hoa Thám, gốc họ Đoàn làng Dị Chế, huyện Tiên Lữ, tỉnh Hưng Yên, Việt Nam. Ông là người lãnh đạo cuộc khởi nghĩa Yên Thế chống Pháp (1884–1913).
  • Phạm Phú Thứ, gốc họ Đoàn của Đoàn Thế Thân Việt Nam. Phạm Phú Thứ dự thi Hương đỗ đầu tức Giải nguyên khi mới 21 tuổi. Cùng năm 1843, ông dự thi Hội cũng đỗ đầu tức Hội nguyên, vào thi Đình, ông là một trong ba người đỗ cao nhất, đứng đầu đệ tam giáp đồng Tiến sĩ xuất thân năm ông 22 tuổi. Ông từng làm quan đến chức Thự Thượng thư bộ Hộ, sung Cơ mật viện đại thần, Thự Hiệp biện Đại học sĩ triều vua Tự Đức.

Trung Quốc[sửa | sửa mã nguồn]

Bộ tộc Đoàn của các vua Đoàn bộ xuất nguyên từ đông Tiên Ti từ thời nhà Hán, từng liên hợp cùng Lưu Côn ở Tấn Dương, sau bị người Yết Hồ của Hậu Triệu đánh bại và chạy tản mát vào Trung Nguyên rồi bị hán hóa. Một số chạy sang các nước Tây Yên, Bắc Lương thời Ngũ Hồ thập lục quốc, trong đó có Đoàn Tùy vua duy nhất của nước Tây Yên không mang họ Mộ Dung, Đoàn Nghiệp vua đầu tiên của nước Bắc Lương. Một số nhà nghiên cứu cho rằng bộ tộc Đoàn bộ này còn liên quan tới các vị quân chủ họ Đoàn của Vương quốc Đại Lý sau này. Trong số đó một số hậu duệ di cư sang Việt Nam từ Đại LýTrung Nguyên, nhưng chưa có căn cứ chứng minh cho điều đó.

Trong danh sách Bách gia tính, họ Đoàn đứng thứ 218, về mức độ phổ biến họ này xếp thứ 81 ở Trung Quốc theo thống kê năm 2006. Trong lịch sử Trung Quốc, vài người họ Đoàn từng giữ vai trò quân chủ hoặc nguyên thủy, thậm chí từng có cả một Vương quốc Đại Lý (nay thuộc Vân Nam, Quý Châu, Tứ Xuyên) do họ tộc Đoàn lập nên.

Một số nhân vật nổi bật[sửa | sửa mã nguồn]

Vương quốc Đại Lý

Các vua của Vương quốc Đại Lý bắt đầu từ Đoàn Tư Bình năm 937. Vương quốc này đã được cai trị kế tiếp nhau bởi 22 vị vua họ Đoàn cho đến năm 1253 (tổng 316 năm); Từ năm 1253, Đại Lý rơi vào tay đế chế Mông Cổ. Các Đại lý Tổng quản vẫn là người họ Đoàn kéo dài 135 năm nữa cho đến năm 1387:
  • Đoàn Chính Thuần (chữ Hán: 段正淳, bính âm: Duan Zhengchun) là vị hoàng đế trong lịch sử Vương quốc Đại Lý (giai đoạn Hậu Đại Lý, từ năm 1096 đến năm 1253), tại vị (1096-1108), thụy hiệu Văn An Đế.
  • Đoàn Dự (chữ Hán: 段譽), còn có tên Đoàn Chính Nghiêm (段正严), "Đoàn Hòa Dự (段和誉), là vị vua thứ 16 của Vương quốc Đại Lý tính từ năm 938 (khi Đoàn Tư Bình lên ngôi Hoàng đế Đại Lý. Sau khi ông mất, được truy phong miếu hiệu là Hiến Tông, thụy hiệu Tuyên Nhân Đế.
  • Đoàn Trí Liêm (?-?) là một Hoàng đế nước Đại Lý, tại vị (1201-1204), miếu hiệu ’’Anh Tông’’, thụy hiệu Hanh Thiên đế.

Các quốc gia khác[sửa | sửa mã nguồn]

Họ Đoàn (Hangul: 단, Romaja quốc ngữ: Dan) được ghi nhận xuất hiện nhưng rất hiếm ở Triều Tiên. Ở các quốc gia khác cũng có xuất hiện, nhưng tất cả đều là người gốc Hoa hoặc Việt.

Một số nhân vật nổi bật[sửa | sửa mã nguồn]

  • Catriona LeMay Doan sinh năm 1970, nữ vận động viên trượt băng tốc độ người Canada, 2 lần đoạt huy chường vàng Thế Vận Hội năm 1998 và 2002, 5 lần huy chương vàng Giải vô địch quốc tế, và nhiều giải thưởng quốc tế.
  • Shane Doan, sinh năm 1976, vận động viên khúc côn cầu trên băng người Canada, 2 lần huy chương vàng Giải vô địch quốc tế

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]