Đoàn (họ)

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Đoàn
段Duan.png
Chữ Hán của Đoàn (họ)
Phát âm Duàn (Pinyin)
Các tên khác
Derivative Đoàn, Dan

Đoàn là một họ của người châu Á. Họ này có mặt ở Việt Nam và khá phổ biến ở Trung Quốc (Hán tự: 段, Bính âm: Duan).

Việt Nam[sửa | sửa mã nguồn]

Theo các tông chủ họ Đoàn ở Việt Nam thì Cao tổ của họ Đoàn ở Việt Nam là Đoàn Văn Khâm và Đông Hải Đại vương Đoàn Thượng. Ngày giỗ tổ họ Đoàn Việt Nam được chọn là ngày 8 tháng Giêng âm lịch hàng năm [1]. Đền thờ Cao Tổ Họ Đoàn Việt Nam được các thành viên tông chi họ Đoàn xây dựng tại xã Đoàn Thượng, Gia Lộc, tỉnh Hải Dương, trên diện tích 4.000m2 với kinh phí xây dựng khoảng 10 tỷ đồng (vào thời điểm hoàn công) [2].

Một số nhân vật nổi bật[sửa | sửa mã nguồn]

Thời kỳ phong kiến ở Việt Nam[sửa | sửa mã nguồn]

  • Đoàn Nhữ Hài (chữ Hán: 段汝諧; 1280-1335), là đốc tướng, danh thần trải 3 đời vua nhà Trần, là người có năng lực hoạt động về ngoại giao và nội trị, lần lượt nắm giữ các chức vụ Ngự sử trung tán, Tham tri chính sự, Tri khu mật viện sự, Nhập nội Hành khiển, Kinh lược Nghệ An, Thiên tử chiêu dụ sứ. Trong cuộc dấy binh chinh phạt Chiêm Thành năm Tân Hợi (1311) của vua Trần Anh Tông, Đoàn Nhữ Hài góp phần quan trọng để giành lấy thắng lợi mà không hề tốn xương máu. Ông hy sinh trong cuộc chinh phạt Ai Lao năm 1335.
  • Đoàn Thị Điểm (段氏點, 1705-1748), hiệu: Hồng Hà Nữ Sĩ (紅霞女士), là nữ sĩ Việt Nam thời Lê trung hưng tức Hậu Lê, tác giả Trinh phụ ngâm (chữ Nôm), bộ Truyền kỳ tân phả (chữ Hán). Bà gốc chính là họ Đoàn, tổ 5 đời của Đoàn Thị Điểm là quan võ, do có công với Nhà Lê được ban Quốc tính tên là Lê Công Nẩm - là con của Đoàn Công Bẩm, hậu duệ Đoàn mãnh tướng Đoàn Công Uẩn Việt Nam. Đoàn Doãn Luân là anh của Đoàn Thị Điểm đỗ đầu xứ kinh Bắc kỳ thi Hương tức đỗ Giải nguyên. Con gái của Đoàn Doãn Luân là Đoàn Lệnh Khương cũng nổi tiếng hay chữ, người đời tụng gọi là Nữ Học Sư có tiếng trong giới Thăng Long kẻ sĩ.
  • Đoàn Nguyễn Tuấn (1750-?), hiệu Hải Ông, là nhà thơ, đại thần nhà Tây Sơn trong lịch sử Việt Nam. Ông làm quan đến chức Tả thị lang bộ Lại, tước Hải Phái hầu. Ông là con của Hoàng giáp Đoàn Nguyễn Thục.
  • Đoàn Tử Quang (1818-1928), 82 tuổi nghe lời mẹ đi thi đỗ cử nhân nho học. Ông là người cao tuổi nhất thi đỗ khoa bảng và ông cũng là người khoa bảng có tuổi thọ cao nhất trong lịch sử Việt Nam (thọ 110 tuổi), được triều đình phong Hàn lâm viện thị độc.

Thời kỳ cận đại kháng Pháp[sửa | sửa mã nguồn]

  • Đoàn Hữu Trưng (段有徵 hay Đoàn Trưng (段徵, là người yêu nước thương dân, một thủ lĩnh của cuộc nổi dậy nhằm lật đổ vua Tự Đức.
  • Đoàn Văn Cự (1835-1905), là một thủ lĩnh kháng Pháp tại Biên Hòa (Việt Nam).

Thời kỳ sau Cách mạng tháng Tám (1945)[sửa | sửa mã nguồn]

  • Thuận Yến, tên thật là Đoàn Hữu Công là đại tá, nhạc sĩ Việt Nam. Thuận Yến là nhạc sĩ thuộc hàng cây đa cây đề của nền âm nhạc Việt Nam. Sự nghiệp sáng tác đồ sộ của ông bao gồm tới hơn 500 ca khúc, là người có nhiều sáng tác nhất về chủ tịch Hồ Chí Minh với 26 ca khúc.
  • Đoàn Mạnh Phương, tiến sĩ, nhà thơ, nhà báo, Tổng biên tập Tạp chí Trí thức và phát triển. Tiến sĩ kỷ lục Thế giới với công trình xuất bản Huyền thoại Việt Nam.
  • Đoàn Đình Long, là võ sư Karatedo Đệ thất đẳng huyền đai người Việt Nam, nguyên Huấn luyện viên trưởng Đội tuyển Karatedo Quốc gia Việt Nam, người sáng lập hệ phái Karatedo Đoàn Long.
  • Đoàn Kiến Quốc, từng là vận động viên bóng bàn số 1 Viêt Nam, hai lần liên tiếp được tham dự Thế vận hội.

Một số nhân vật nổi bật gốc họ Đoàn[sửa | sửa mã nguồn]

  • Phạm Phú Thứ, gốc họ Đoàn của Đoàn Thế Thân Việt Nam. Phạm Phú Thứ dự thi Hương đỗ đầu tức Giải nguyên khi mới 21 tuổi. Cùng năm 1843, ông dự thi Hội cũng đỗ đầu tức Hội nguyên, vào thi Đình, ông là một trong ba người đỗ cao nhất, đứng đầu đệ tam giáp đồng Tiến sĩ xuất thân năm ông 22 tuổi. Ông từng làm quan đến chức Thự Thượng thư bộ Hộ, sung Cơ mật viện đại thần, Thự Hiệp biện Đại học sĩ triều vua Tự Đức.

Trung Quốc[sửa | sửa mã nguồn]

Bộ tộc Đoàn của các vua Đoàn bộ (250-352) xuất nguyên từ đông Tiên Ti từ thời nhà Hán, từng liên hợp cùng Lưu Côn (271-318) ở Tấn Dương, sau bị người Yết Hồ của Hậu Triệu đánh bại và chạy tản mát vào Trung Nguyên rồi bị Hán hóa. Một số chạy sang các nước Tây Yên, Bắc Lương thời Ngũ Hồ thập lục quốc, trong đó có Đoàn Tùy vua duy nhất của nước Tây Yên không mang họ Mộ Dung, Đoàn Nghiệp vua đầu tiên của nước Bắc Lương. Một số nhà nghiên cứu cho rằng bộ tộc Đoàn bộ này còn liên quan tới các vị quân chủ họ Đoàn của Vương quốc Đại Lý sau này. Trong số đó một số hậu duệ di cư sang Việt Nam từ Đại LýTrung Nguyên, nhưng chưa có căn cứ chứng minh cho điều đó.

Trong danh sách Bách gia tính, họ Đoàn đứng thứ 218, về mức độ phổ biến họ này xếp thứ 81 ở Trung Quốc theo thống kê năm 2006. Trong lịch sử Trung Quốc, nhiều người họ Đoàn từng giữ vai trò quân chủ, thậm chí từng có cả một Vương quốc Đại Lý (937-1253) (nay thuộc Vân Nam, Quý Châu, Tứ Xuyên) do họ tộc Đoàn lập nên.

Một số nhân vật nổi bật[sửa | sửa mã nguồn]

Vương quốc Đại Lý

Các vua của Vương quốc Đại Lý bắt đầu từ Đoàn Tư Bình năm 937. Vương quốc này đã được cai trị kế tiếp nhau bởi 22 vị vua họ Đoàn cho đến năm 1253 (tổng 316 năm); Từ năm 1253, Đại Lý rơi vào tay đế chế Mông Cổ, các Đại lý Tổng quản vẫn là người họ Đoàn kéo dài 135 năm nữa cho đến năm 1387:
  • Đoàn Chính Thuần (chữ Hán: 段正淳, bính âm: Duan Zhengchun) là vị hoàng đế trong lịch sử Vương quốc Đại Lý (giai đoạn Hậu Đại Lý, từ năm 1096 đến năm 1253), tại vị (1096-1108), thụy hiệu Văn An Đế.
  • Đoàn Dự (chữ Hán: 段譽), còn có tên Đoàn Chính Nghiêm (段正严), "Đoàn Hòa Dự (段和誉), là vị vua thứ 16 của Vương quốc Đại Lý tính từ năm 938 (khi Đoàn Tư Bình lên ngôi Hoàng đế Đại Lý. Sau khi ông mất, được truy phong miếu hiệu là Hiến Tông, thụy hiệu Tuyên Nhân Đế.
  • Đoàn Trí Liêm là một Hoàng đế nước Đại Lý, tại vị (1201-1204), miếu hiệu ’’Anh Tông’’, thụy hiệu Hanh Thiên đế.

Các quốc gia khác[sửa | sửa mã nguồn]

Họ Đoàn (Hangul: 단, Romaja quốc ngữ|tiếng Triều Tiên và trong tiếng Nhật: Dan) được ghi nhận xuất hiện nhưng rất hiếm ở Triều Tiên, Nhật Bản. Ở các quốc gia khác cũng có xuất hiện, nhưng hầu hết là người gốc Hoa hoặc Việt.

Một số nhân vật nổi bật[sửa | sửa mã nguồn]

  • Catriona LeMay Doan sinh năm 1970, nữ vận động viên trượt băng tốc độ người Canada, 2 lần đoạt huy chường vàng Thế Vận Hội năm 1998 và 2002, 5 lần huy chương vàng Giải vô địch quốc tế, và nhiều giải thưởng quốc tế.
  • Shane Doan, sinh năm 1976, vận động viên khúc côn cầu trên băng người Canada, 2 lần huy chương vàng Giải vô địch quốc tế

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]