Lương (họ)

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Lương
Leung Writing.svg
Nguồn gốc
Nghĩa "một chùm tia," "cây cầu," hay "độ cao" hay "một cột"
Các tên khác
Biến thể Leung, Leong, Lyang, Yang

Chuyển tự!! Khu vực

Lương Việt Nam
Liang Trung Quốc, Tên họ Indonesia gốc Trung Quốc
Leung Hồng Kông
Leong Ma Cao, Malaysia, Singapore
Neo/Nio/Niu Tiếng Mân Nam, Tiếng Triều Châu, Hải Nam
Nio Tên họ Indonesia gốc Trung Quốc
Ryang, Yaung, Lyang Nhật Bản
Yang(양) Triều Tiên
Diang(son, zon) Pampanga

Lương là tên một họViệt Nam, Triều TiênTrung Quốc.

Lịch sử hình thành và phát triển[sửa | sửa mã nguồn]

Tên họ[sửa | sửa mã nguồn]

Tiếng Trung Quốc hiện đại ghi là "Liáng", Bạch thoại ghi là "Niû". Tiếng Nhật ghi là "Ryō", Yang (양), Ryang (량). Trong cuốn Bách gia tính (百家姓), một văn bản ghi lại các họ phổ biến của người Trung Quốc được soạn vào đầu thời Bắc Tống thì họ Lương xếp thứ 128 ("百家姓第" 128 位) và được chép trong câu: "项 Hạng, 祝 Chúc, 董 Đổng, 梁 Lương".

Chữ Lương 梁 "Lương" thuộc:木部 bộ Mộc; âm đọc 刄聲 Lạng thanh; dạng 會意 Hội ý; 呂張切 (lữ trương thiết); cấu tạo: 从木从水刅聲 (tòng mộc tòng thủy sang thanh) gồm bộ Mộc 木, chữ Thủy (Ngũ hành)|Thủy 水 (氵) và chữ Sang 刅; có nghĩa là: 水橋也 (thủy kiều dã),梁之字用木跨水 (Lương chi tự dụng Mộc khóa Thủy) chỉ cái cầu bắc qua nơi có nước. Chỗ đắp bờ để nuôi cá gọi là ngư lương (魚梁). Còn chữ Lương 涼 có chấm thuỷ (氵) và chữ kinh (京) có nghĩa là mỏng, lạnh được viết chỉ tên châu, nước do người Hồ lập ra thời Ngũ Hồ loạn Hoa (五胡亂華, 304-439) [cần dẫn nguồn].

Nguồn gốc họ Lương tại Trung Quốc[sửa | sửa mã nguồn]

  • Thuyết họ Lương từ tộc Doanh mà ra:

Theo sách "Danh hiền Thị Tộc Ngôn hành loại Cảo" thì họ Lương thuộc thị tộc Doanh (嬴氏). Tộc này đã lập nên một triều đại nổi tiếng và có công thống nhất Trung Hoa. Đó là nhà Tần (秦朝; Qín Cháo; Wade-Giles:Ch'in Ch'ao, 221TCN - 206TCN), triều đại kế tục nhà Chu (周,Zhou, 1122TCN – 256TCN) và trước nhà Hán (漢朝,Han cháo, 206TCN - 220) trong lịch sử Trung Quốc.

Họ của hoàng gia Tần là Doanh thị (嬴氏). Theo thông lệ, chỉ ngành trưởng (trưởng tộc - 長族) nối ngôi, mới được mang họ Doanh, còn các ngành khác mang họ là tên đất nơi phong ấp. Người nối ngôi Tần Trọng hiệu là Tần Trang Công (秦莊公, cai trị 822 TCN - 778 TCN) huý là Doanh Dã (嬴也). Một người con khác của ông được ban đất Hạ Dương (贺阳) (ở tỉnh Hà Bắc, Trung Quốc nay) và phong tước Lương bá (梁伯). Cháu chắt ông nhận tên tước vị Lương bá làm tên họ.

  • Thuyết họ Lương từ họ Bạt Liệt Lan đổi thành:

Một tài liệu khác cho rằng thời Bắc Ngụy, vua Hiếu Văn Đế Nguyên Hoành (孝文帝元宏, 471-499) ra nhiều sắc lệnh cải cách xã hội, đẩy mạnh quá trình Hán hoá trong đó có việc tự đổi họ Thác Bạt (拓拔氏) ra họ Nguyên (元氏). Những người họ Thác Bạt xa thì đổi làm họ Trưởng Tôn, họ Ất Phiên đổi thành Thúc Tôn. Các họ kép (hai chữ) đều đổi thành họ đơn (1 chữ), trong đó 8 họ sang nhất là: Mục, Lục, Hạ, Lưu, Lâu, Vũ, Hệ, Uất và đổi họ ba chữ Bạt Liệt Lan (拔列兰) thành họ đơn là Lương (梁).

Bên Trung Hoa có một số triều đại Lương, nhưng tên triều đại không phải là họ của hoàng gia. Do vậy vua các triều nhà Lương (凉朝, 梁朝) bên Trung Hoa không phải người họ Lương.

Họ Lương tại Việt Nam[sửa | sửa mã nguồn]

Họ Lương Việt Nam có nguồn gốc khởi thủy từ đâu và từ bao giờ thì được một số người quan tâm tìm hiểu. Tuy nhiên do xã hội biến động, nhiều người di cư và thay họ đổi tên. Chỉ có một số dòng họ lưu truyền gia phả thì mới truy tìm nguồn gốc được, và cũng thường không đủ bằng chứng trực tiếp để khẳng định. Hiện có vài ý kiến.[1]

1. Gốc từ Trung Quốc sang

Một số người thuộc Hán tộc cư ngụ ở miền nam Trung Hoa rồi di cư xuống miền bắc Việt Nam để lập nghiệp. Trong số đó có hậu duệ của Lương Long sau khởi nghĩa 178-181 thất bại hay là hậu duệ của Lương Thạc (梁硕), người từng giành quyền và tự lĩnh chức Thứ sử Giao Châu vào năm Mậu Dần (318) thời Đông Tấn. Nếu đúng vậy thì do tổ tiên đều gốc Bách Việt đứng lên chống lại Hán tộc nhưng bị thất bại phải Nam cư[2].

2. Thuyết về người dân tự đặt tộc danh

Vào đầu Công nguyên thì người phương nam nói chung chưa có họ. Khi người Hán hoàn thành việc chiếm Âu Lạc, thực hiện cai trị thì trong quản lý người có việc đặt tên họ theo kiểu Hán và viết được bằng chữ Hán. Sử sách không ghi chép lại về quy định chọn họ tên này. Tự chọn ra họ là tình trạng chung của nhiều họ, cũng như cả một số dân thiểu số tại Việt Nam sau này. Việc chọn họ có thể là khá tùy tiện, trong đó có người chọn họ Lương. Tại xã Hồng Việt, huyện Đông Hưng, Thái Bình đã có hai chị em Lương Thị Kiền và Lương Thị Tấu là hai vị nữ tướng tham gia khởi nghĩa Hai Bà Trưng[3], và có thể là người họ Lương tại Việt Nam sớm nhất ghi nhận được.

Nguyễn Khôi trong cuốn “Các Dân tộc ở Việt Nam, cách dùng Họ và đặt Tên” [4] đã viết: “Các họ phổ biến của người Thái là: Bạc , Bế, Bua, Bun, Cà, cầm, Chẩu, Chiêu, Đèo, Hoàng, Khằm, Leo, Lều, Lềm, Lý, Lò, Lô, La, Lộc, Lự, Lường, Mang, Mè, Nam, Nông, Ngần, Ngu, Nho, Nhọt, Panh, Pha, Phia, Quàng, Sầm, Tụ, Tày, Tao, Tạo, Tòng, Vang, Vì, Sa, Xin. Trong đó 12 họ gốc là Lò, Lường, Quàng, Tòng, Cà, Lỡo, Mè, Lù, Lềm, Ngần, Nông”.

Ông cũng viết rằng “Họ Lường còn gọi là họ Lương” và chép một truyền thoại về dòng họ là: “Sau nạn hồng thuỷ, chỉ còn sống sót một cặp vợ chồng. Người vợ có một thỏi đồng liền đem ra nấu và đúc thành dụng cụ. Quá trình đúc đồng được chia làm mấy giai đoạn như: lúc đầu làm đồng nguyên, sau nấu gọi là lô, muốn tăng sức nóng thì phải quạt, rồi đảo quấy đều, sau đó thành nước loãng, đem luyện lại, tô luyện thành công cụ rắn chắc. Vì vậy khi sinh con, họ đặt cho con đầu lòng mang họ Tông (đồng), con thứ hai là Ló nay gọi là Lò (), con thứ ba họ Ví (quạt), con thứ tư họ Quá (quàng), con thứ năm họ Đèo (đồng thành nước), con thứ sáu họ Liếng (đã luyện) nay gọi chệch là Lường viết bằng Hán tự là Lương, con thứ bảy họ Cả (tôi luyện rắn thành công cụ), nay gọi là Cà”.

Cần để ý rằng do chọn họ kiểu tiếng Hán nên họ của người Tày, Nùng, Thái tại Việt Nam có phát âm Hán Việt, còn họ của người Thái tại Lào hay Thái Lan thì có phát âm theo ngôn ngữ Tai-Kadai nguyên gốc, không có tí nào liên quan đến âm tiếng Hán.

3. Ý kiến khởi phát từ làng Hội Trào

Ý kiến này nêu rằng từ lâu đời đã có dòng họ Lương cư ngụ tại miền Trung Việt Nam, là làng Hội Triều (Hội Trào), huyện Hoằng Hóa, tỉnh Thanh Hóa, gần bãi biển Sầm Sơn. Nơi đây, hiện nay vẫn còn đền thờ ông Lương Đắc Bằng, một thành viên của dòng họ.

Vào khoảng cuối thế kỷ 17, một số người trong họ di cư ra Hà Nội (Bắc Việt Nam), thành lập một chi hội mới và thành lập một làng mới: làng Nam Phổ (phố Hàng Bè, Hà Nội). Trên mộ bia của ông Lương Ngọc Thụ ở Ngã tư Sở (Hà Nội) có ghi chữ Hán "Thanh-Hà Đệ Lục Đại" (đời thứ sáu Thanh Hóa - Hà Nội) - và chính ông cũng đã tự đặt bút hiệu là Triều Nam (Hội Triều, Nam Phổ) để ghi rõ sự liên hệ giữa 2 chi họ...

Một phiên bản "Về nguồn gốc họ Lương"[2] giải thích rằng có 2 anh em là người Chiết Giang (Trung Quốc) di cư sang Việt Nam vào thế kỷ 14, một đến làng Hội Trào như đã nêu trên, và một đến làng Cao Hương (Vụ Bản, Nam Định) lập ra họ Lương ở Cao Hương, họ của ông Lương Thế Vinh.

Tuy nhiên tướng nhà Đinh Lương Văn Hoằng đã có từ 500 năm trước, nên họ Lương Hội Trào và họ Lương Cao Hương đều không thể là thủy tổ chung.

4. Tích của họ Lương tại xã Hồng Việt, huyện Đông Hưng, Thái Bình

Một dòng họ Lương tại xã Hồng Việt này thì có lưu truyền tích về cụ tổ lập ra họ Lương là ở bắc Quảng Bình, và truyền lại câu "Nam bang Lương tính duy ngã tử tôn", nghĩa là "họ Lương ở nước Nam đều là con cháu ta cả" [5]. Mộ tổ đặt ở đông nam Hoành Sơn (Đèo Ngang), nay không còn dấu tích. Con cháu sau này phát tán khắp nơi, chi nhánh đến Cao Hương tới đời ông Lương Thế Vinh cũng đã nhiều đời. Từ Vụ Bản lại có các nhánh đi các miền khác của đất nước. Nhánh đến xã Hồng Việt thì cỡ sau ông Lương Thế Vinh chừng 3-6 đời, và nay đã có hơn chục đời, nhưng không có tư liệu để ghép phả hệ với họ Lương ở Cao Hương.

Song tại mấy xã ở phía tây huyện Đông Hưng này đã có tới 4 dòng họ Lương, và sự kết duyên dẫn đến có nhà thì cả vợ chồng đều có họ Lương. Tức là việc truy tìm tổ của họ chỉ có ý nghĩa tương đối mà thôi.

Lời truyền "Nam bang..." được nhiều dòng họ Lương nhắc đến, nhưng không thấy nói về tổ, người xướng lên "duy ngã tử tôn" và mộ của tổ.

Phân bố hiện nay[sửa | sửa mã nguồn]

Từ thời vua Lê Đại Hành (thứ 6), trong tập "Bắc Địa Tấu Từ" có ghi như sau: các tỉnh miền Bắc Việt Nam có rất nhiều tộc họ sinh sống, riêng tộc Lương chỉ thấy ở 2 tỉnh:

  • Tỉnh Sơn Tây có: Thủy tổ tộc Lương: Lương Trọng Lịch
  • Tỉnh Hà Tĩnh có: Thủy tổ tộc Lương: Lương Công Anh
  • Tỉnh Quảng Nam (làng Bảo An nay là xã Điện Quang huyện Điện Bàn): Thủy tổ tộc Lương: Lương văn Sỹ (thường gọi là ông Áo)

Từ đời Tiền Lê, tộc Lương phát triển đến nhiều tỉnh khác nhau. Ở xã Hoà Bình, huyện Kiến Xương, tỉnh Thái Bình có dòng họ Lương với hàng trăm con cháu, thấy các cụ bảo họ Lương nhà ta xuất thân từ Sơn Tây về đây lập nghiệp.

Hiện nay, có nhiều người, nhiều gia đình họ Lương trên khắp 3 miền Bắc-Trung-Nam, miền xuôi và miền ngược, trong cộng đồng người Kinh, người Mường, người Tày, người Thái... và ở hải ngoại.

Trong đó có nhiều dòng mang những tên đệm khác nhau hoặc có dòng chữ lót đặt tùy ý không theo một quy luật nào[cần dẫn nguồn]. Một số dòng họ Lương người Hoa đặt tên con cháu với tên đệm là chữ trong một bài thơ do họ tự quy định (trong thời kì loạn lạc và chạy nạn từ Trung Quốc sang Việt Nam) để nhận biết được thứ tự, cấp bậc của nhau.

Với các dân tộc thiểu số, một vài nơi họ Lương được gọi là họ Lường nhưng xem các bài cúng bằng chữ Nôm thấy vẫn ghi là 梁, tức Lương[1]. Một số người Hoa cũng ghi là họ Lường trong tiếng Việt, do cách dịch từ tiếng Hoa sang Việt theo cách đọc của tiếng Bạch Thoại (百话) chứ không phụ thuộc vào tiếng Hán Việt. Họ Lương hay Lường ở các dân tộc thiểu số phía Bắc Việt Nam như Lạng Sơn, Cao Bằng, Lào Cai,... được cho là di cư từ Trung Quốc từ hàng ngàn năm trước.

Trong khi đó một số chi nhánh họ Lương ở miền Nam không thuộc dạng này bởi đó là những di dân có nguồn gốc từ Phúc Kiến, Triều Châu sang hồi thế kỷ XVII sau sự sụp đổ của nhà Minh. Đó là những người Minh Hương (明鄉人), tự nhận và nhà nước công nhận họ là Hoa Kiều.

Một số nhân vật nổi tiếng[sửa | sửa mã nguồn]

Việt Nam[sửa | sửa mã nguồn]

Một số nhân vật nổi tiếng họ Lương ở Việt Nam
Tên Sinh thời Hoạt động
Lương Kỳ Tiên
Lương Hộ Tống
Lương Viết Bô
Tk.3 TCN Ba cha con cụ Lương Kỳ Tiên, quê ở Thụy Vân Việt Trì, Phú Thọ là các tướng thời vua Hùng thứ 18, chiến đấu chống quân Tần xâm lược. Có thể là những người họ Lương tại Việt Nam sớm nhất được ghi nhận.
Lương Thị Kiền
Lương Thị Tấu
Tk.1 Hai chị em, là hai vị nữ tướng tham gia khởi nghĩa Hai Bà Trưng, người ở vùng nay là xã Hồng Việt, Đông Hưng, Thái Bình[3].
Lương Văn Hoằng Tk.10 Tướng nhà Đinh tham gia đánh dẹp 12 sứ quân, quê Nam Định.
Lương Thế Sung Tk 11 Người Tuyên Quang làm Toát Thông Vương kiêm phụ đạo ở triều Lý
Lương Nhậm Văn Tk 11 Làm quan thời Thái tổ Lý Công Uẩn và thăng Thái sư thời Lý Thái Tông (1028-1054)
Lương Mậu Tài Giữ chức Ngoại lang thời Lý Thái Tông
Lương Uất Tk 13 Trấn thủ châu Lạng Giang vào tháng 8 năm Nhâm Ngọ (Thiệu Bảo thứ 4, 1282) đã có công cấp báo tình hình quân Nguyên về triều
Lương Nguyên Bưu Hành khiển tri Đại tông thời Trần Thuận Tông
Lương Thế Vinh 1441–1496 Trạng nguyên nhà toán học, Phật học, nhà thơ thời Nhà Lê. Quê làng Cao Phương (Cao Hương cũ), xã Liên Bảo, Vụ Bản, Nam Định.
Lương Đắc Bằng 1472-1522 Bảng nhãn, thượng thư Bộ Lại, quê xã Hoằng Phong, Hoằng Hóa, Thanh Hóa.
Lương Hữu Khánh Tk.16 Thượng thư Bộ Lễ thời Lê Trung hưng, con của Lương Đắc Bằng, quê xã Hoằng Phong, Hoằng Hóa, Thanh Hóa.
Lương Như Hộc 1420-1501 Tổ nghề in mộc bản
Lương Nhữ Hốt  ???-1428 Tướng người Việt hợp tác với quân Minh thời kỳ hậu Trần, quê Thanh Hóa.
Lương Văn Chánh  ???-1611 Võ quan thời chúa Nguyễn, người có công khai khẩn đất Phú Yên.
Lương Quy Chính 1825-1908 Thượng thư Bộ Hộ đời vua Thành Thái, tổ chức đào[6] sông Sa Lung[7] (hay sông Thái Sư trên Bản đồ địa hình) ở Thái Bình. Quê xã Hồng Việt, Đông Hưng, Thái Bình.
Lương Văn Nắm  ???-1892 Biệt danh Đề Nắm, một thủ lĩnh trong phong trào khởi nghĩa Yên Thế[8]. Quê làng Gia Tiến, xã Vân Trung, Việt Yên, Bắc Giang.
Lương Tam Kỳ  ??-?? Tướng quân phiệt gốc Trung Quốc, chiếm cứ vùng Đông Triều, khoảng năm 1909 về hàng người Pháp, và được coi là phò trợ người Pháp đánh dẹp khởi nghĩa Yên Thế của Đề Thám.
Lương Văn Can 1854-1927 Nhà giáo, sáng lập và là hiệu trưởng trường Đông Kinh Nghĩa Thục. Quê xã Nhị Khê, Thường Tín, Hà Nội.
Lương Ngọc Quyến 1885-1917 Nhà hoạt động cách mạng, con trai của Lương Văn Can. Quê xã Nhị Khê, Thường Tín, Hà Nội.
Lương Văn Thăng 1865-1940 Nhà hoạt động cách mạng, cha của Lương Văn Tụy. Quê xã Quỳnh Lưu, Nho Quan, Ninh Bình.
Lương Văn Tụy 1914-1932 Nhà hoạt động cách mạng, tử tù Côn Đảo. Quê xã Quỳnh Lưu, Nho Quan, Ninh Bình.
Lương Khắc Ninh 1862-1943 Nhà báo, nhà văn, người cổ động mạnh mẽ cho thương nghiệp, nhà viết tuồng kiêm bầu gánh hát bội, nghị viên của Hội đồng Tư vấn của Chính phủ Nam Kỳ. Quê làng An Hội, tổng Bảo Hựu, phủ Hoằng Trị, tỉnh Vĩnh Long, nay thuộc thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre.
Lương Khánh Thiện 1903-1941 Nhà hoạt động chính trị cấp cao của Đảng Cộng sản Đông Dương, Bí thư Xứ ủy Bắc Kỳ, bị toà án quân sự Pháp kết án tử hình năm 1940, quê Thanh Liêm, Hà Nam.
Lương Ngọc Tốn  ???-1930 Đảng viên Việt Nam Quốc dân Đảng, tham gia khởi nghĩa Yên Bái năm 1930. Tháng 12 năm 1930 bị xử chém tại trước cổng nhà tù Hỏa Lò tại Hà Nội, cùng với 6 đồng chí là Đoàn Trần Nghiệp tức Ký Con, Nguyễn Văn Nho, Nguyễn Quang Triều, Nguyễn Minh Luân, Nguyễn Trọng Bằng, Phạm Văn Khuê [9].
Lương Như Truật 1905-1984 Nhà nho, đảng viên Việt Nam Quốc dân Đảng, tham gia khởi nghĩa Yên Bái 1930, bị kết án chung thân khổ sai, lưu đày sang Guyane năm 1931, về nước 1955.[10]. Quê Trà Kiệu, xã Duy Sơn, huyện Duy Xuyên, Quảng Nam.
Lương Duyên Hồi 1903-1986 Đảng viên CSVN lớp đầu ở Thái Bình[11]. Sau phong trào Xô viết 1930 ở Thái Bình bị kết án 10 năm khổ sai, lưu đày sang Guyane năm 1931[10]. Sau này là đại biểu Quốc hội VN DCCH khóa 2. Quê xã Hồng Việt, Đông Hưng, Thái Bình.
Lương Kim Định 1915-1997 Linh mục, nhà triết học
Lương Xuân Nhị 1914-2006 Giáo sư, nhà giáo nhân dân và họa sĩ nổi tiếng
Lương Văn Tri 1910-1941 Ủy viên BCH TƯ Đảng Cộng sản Đông Dương, chỉ huy Đội Du kích Bắc Sơn. Quê Bản Hẻo, xã Trấn Ninh, huyện Văn Quan, tỉnh Lạng Sơn.
Lương Định Của 1920-1975 Giáo sư nông học. Quê xã Đại Ngãi, huyện Long Phú, tỉnh Sóc Trăng.
Lương Thị Hồng 1921-2012 Tên thật của Hà Thị Quế, nguyên Ủy viên BCH TƯ Đảng CSVN các khóa IV, V, VI, nguyên Chủ tịch Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam. Quê xã Quỳnh Lưu, huyện Nho Quan, Ninh Bình.
Lương thị Hồng Quyến 1929-1999 Bí danh là Lê Phương Hằng, Phó Chánh án Tòa án Nhân dân Tối cao nhiệm kỳ 1979 - 1986. Quê xã Hồng Việt, Đông Hưng, Thái Bình.
Lương Duy Trung Giáo sư đầu ngành văn học Phương Tây
Lương Duy Thứ Giáo sư đầu ngành văn học Trung Quốc
Lương Thế Siêu Tổng giám đốc Air Vietnam từ 1968 đến 1970
Lương Thanh Nghị Phát ngôn viên Bộ Ngoại giao Việt Nam
Lương Thị Thanh Bình Phu nhân Đại tướng Hoàng Văn Thái
Lương Cường Bí thư TƯ Đảng, Thượng tướng, Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị QĐND VN
Lương Văn Nghĩa Anh hùng Lao động, nguyên Ủy viên BCH TƯ Đảng CSVN (Dự khuyết) khóa IV, Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp, Bí thư TƯ Đoàn.
Lương Công Đoan Nguyên Ủy viên BCH TƯ Đảng CSVN Khóa VIII,Bí thư Tỉnh ủy Phú Yên, nguyên Bí thư TƯ Đoàn.
Lương Ngọc Bính 1955- PGS.TS, nguyên Ủy viên BCH TƯ Đảng CSVN khóa XI, nguyên Bí thư Tỉnh ủy, Chủ tịch HĐND tỉnh Quảng Bình
Lương Chí Nguyên Bí thư Tỉnh ủy Đảng CSVN Cần Thơ
Lương Quang Chất Nguyên Bí thư Tỉnh ủy Đảng CSVN Thái Bình
Lương Hữu Sắt Trung tướng QĐNDVN, nguyên Phó chủ nhiệm Tổng cục Kỹ thuật
Lương Văn Nho Thiếu tướng QĐNDVN, nguyên Phó tham mưu trưởng Quân giải phóng miền Nam, Phó tư lệnh Đoàn 232 trong chiến dịch Hồ Chí Minh
Lương Soạn 1923-1987 Thiếu tướng QĐNDVN, nguyên Tư lệnh Bộ Tư lệnh Bảo vệ Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh
Lương Đình Hồng Thiếu tướng QĐNDVN, Phó Chủ nhiệm UB kiểm tra Quân Ủy Trung ương, nguyên Chính ủy Quân đoàn 1
Lương Sỹ Nhung Thiếu tướng QĐNDVN, Nguyên Tư lệnh Binh đoàn 12
Lương Việt Hùng Chuẩn đô đốc QĐNDVN, Tư lệnh vùng 2 Hải quân
Lương Văn Khang Thiếu tướng CANDVN, Phó Tư lệnh Bộ Tư lệnh Cảnh vệ
Lương Tam Quang Thiếu tướng CANDVN, Phó Chánh Văn phòng Bộ Công An
Lương Hữu Quang Thiếu tướng CANDVN, Tổng cục an ninh
Lương Quốc Dũng Nguyên Phó Chủ nhiệm Uỷ ban Thể dục Thể thao [12].
Lương Cao Khải Nguyên phó vụ trưởng Thanh tra Chính phủ [13].
Lương Phan Cừ Nguyên Phó chủ nhiệm Ủy ban Các vấn đề xã hội của Quốc hội
Lương Ngọc Toản PGS.TS. nguyên Thứ trưởng Bộ Giáo dục GD-ĐT, Phó Chủ nhiệm Ủy ban Văn hóa, giáo dục, thanh niên, TN&NĐ của Quốc hội
Lương Văn Tự Nguyên Thứ trưởng Bộ Thương mại
Lương Lê Phương Nguyên Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn
Lương Xuân Việt 1965- tướng Quân đội Hoa Kỳ gốc Việt đầu tiên.
Lương Bích Hữu 1984- Ca sĩ người Việt gốc Hoa
Lương Thế Thành Diễn viên truyền hình và sân khấu
Lương Văn Được Em Tuyển thủ Đội tuyển bóng đá Việt Nam
Lương Đăng Đức Đội trưởng đội bóng ck15
Lương Xuân Trường Tuyển thủ Đội tuyển bóng đá Việt Nam, đang thi đấu cho CLB Incheon United (Hàn Quốc).

Trung Quốc[sửa | sửa mã nguồn]

Tên Sự nghiệp
Lương Tán Võ sư Vịnh Xuân quyền
Lương Hồng Ngọc nữ tướng dưới thời Nam Tống trong lịch sử Trung Quốc, phu nhân của danh tướng Hàn Thế Trung
Lương Khải Siêu nhà cải cách
Lương Quang Liệt (Liang Guanglie) Thượng tướng Quân đội Trung Quốc, Bộ trưởng bộ Quốc phòng nước CHND Trung Hoa nhiệm kỳ 2008-2013. Là tư lệnh phó sư đoàn 58 Quân đoàn 20 trong chiến tranh biên giới Việt-Trung, 1979''[14].
Lương Chấn Anh Đặc khu trưởng đặc khu hành chính Hồng Kông từ tháng 7 năm 2012
Lương Gia Huy Diễn viên điện ảnh Hồng Kông
Lương Triều Vĩ Diễn viên điện ảnh Hồng Kông
Lương Liệt Duy Ngôi sao giải trí Hồng Kông
Lương Sơn Bá Nhân vật giải trí cùng cặp với Chúc Anh Đài

Chỉ dẫn[sửa | sửa mã nguồn]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ a ă Nguồn Gốc Họ Lương Việt Nam. luongtoc.org, 29/05/2011. Truy cập 12/12/2015.
  2. ^ a ă Về nguồn gốc họ Lương. phahe.vn, 23/8/2009. Truy cập 12/12/2015.
  3. ^ a ă Phạm Minh Đức. Điểm tựa để Hồng Việt trở thành xã anh hùng. Thái Bình Online, 27/4/2015. Truy cập 28/11/2015.
  4. ^ Nguyễn Khôi. Các Dân tộc ở Việt Nam, cách dùng Họ và đặt Tên. Nhà Xuất bản Văn hoá Dân tộc, Hà Nội, 2006.
  5. ^ Nguyễn Quang Ân, Nguyễn Thanh, chủ biên. "Thượng thư Lương Quy Chính, con người và sự nghiệp". Lời mở đầu của GS. Đinh Xuân Lâm. Hà Nội: Trung tâm UNESCO thông tin tư liệu lịch sử và văn hóa Việt Nam, 2008.
  6. ^ Vũ Hữu Sự. Người hoán cải đồng ruộng Thái Bình... Nông nghiệp VN Online, 29/01/2008. Truy cập 22/11/2015.
  7. ^ Sông Sa Lung (Thái Bình). wikimapia.org, 2012. Truy cập 22/11/2015.
  8. ^ Thủ lĩnh Lương Văn Nắm (Đề Nắm) với cuộc Khởi nghĩa Yên Thế baotanglichsu, 14/03/2014. Truy cập 25/12/2015.
  9. ^ Hoang Van Dao, 2008. "Viet nam Quoc dan Dang", p. 153. Truy cập 22/11/2015.
  10. ^ a ă Uyên Ly. Nhà lao An Nam ở Guyane. Tuổi Trẻ Online, 30/04/2008. Truy cập 22/11/2015.
  11. ^ Đảng bộ Đảng Cộng sản Việt Nam tỉnh Thái Bình. 26/08/2013. Truy cập 22/11/2015.
  12. ^ Lương Quốc Dũng trước ngày đặc xá. Dân trí Online, 15/01/2009. Truy cập 04/11/2015.
  13. ^ Vụ Lương Cao Khải. Dân trí Online, 14/07/2006. Truy cập 04/11/2015.
  14. ^ The 1979 Chinese Campaign in Vietnam: Lessons Learned. Table 2. Truy cập 01/Apr/2015.

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]