Bước tới nội dung

Đào (họ)

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia

Đào (chữ Hán nôm: ) là một trong những họ xuất phát từ nội địa của người Việt Nam nguồn gốc từ cộng đồng cư dân sinh sống tại Phượng Lâu (鳳 樓) thuộc lưu vực tả sông Hồng, sông Lô nằm giữa dãy Nghĩa Lĩnh và dãy Tam Đảo (vùng giáp ranh Tuyên Quang-Phú Thọ ngày nay) có nhiều hoa Đào- 桃, đến Ông Mười cải chi Long (改 支 龍) khai Đào tộc ().

Việt Nam

[sửa | sửa mã nguồn]

Nguồn gốc

[sửa | sửa mã nguồn]

Theo các thần tích họ Đào xuất hiện từ thời tiền, sơ sử Kinh Dương Vương, theo lệnh tộc họ Đào từ ông Mười cải chi Long khai tộc Đào là hậu duệ Đường Nghiêu ở Phượng Lâu (Phú Thọ), các chi họ Đào lớn theo địa danh từ 2025 như ở Tuyên Quang, Phú Thọ, Hà Nội, Hưng Yên, Hải Phòng, Bắc Ninh, Ninh Bình, Hà Tĩnh, Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh, .... Ngày nay dấu tích như bia đá tại đền Thượng khu di tích đền Hùng vẫn còn ghi công tổ tiên họ Đào đã từng là Đại tướng quân đánh giặc Ân, Đức thánh Bạch Hạc Tam Giang (Đào Trường - Thạch Khanh) là 2 trong 5 người con của Đào Công Bột, Thời Âu Lạc có Đào Nồi tổng chỉ huy quân đội Âu Lạc, Đào Nhị là em vợ Thục Phán quản lý quân lương, Đào Lan là mẹ Triệu Đà; Thời Hai Bà Trưng có Đại nguyên soái Đào Kỳ (Đào Tam Lang) cùng 2 người anh là Đào Đông Thống và Đào Hiểu Hiệu; Giao Châu mục Đào Hoàng; thời tiền Lý có Đại vương Đào Công Tuấn, Đào Công Tế; nhà Ngô có Đào Nhuận cắm cọc dẫn quân đánh giặc trên sông Bạch Đằng lần thứ nhất năm 938; thời Đinh-Lê có Đào Ngọc Sâm, Đào Liên Hoa; giai đoạn Đinh-Lê-Lý có Đào Cam Mộc, nhà Lý còn có Thái bảo Đào Thạc Phụ, Đào Xử Trung; Thời Trần có Trạng nguyên Đào Tiêu, Đào Sư Tích, Thống chế thủy đạo tướng quân Đào Nhã, trạng nguyên khai khoa Đào Công Soạn triều Lê Sơ; Nhà Tây Sơn có tướng quân Đào Đình Truật; Bảng nhãn Đào Công Chính, Thái sư Hoằng Quốc Công Đào Duy Từ.... Trải qua hàng nghìn năm lịch sử, dòng họ Đào sinh ra những danh nhân, tướng sĩ có nhiều công lớn và được người dân tôn thờ là Thành hoàng trong các làng quê Việt Nam.

Người họ Đào Việt Nam

[sửa | sửa mã nguồn]

Trung Quốc

[sửa | sửa mã nguồn]

Dòng họ Đào ở Trung Quốc là một dòng họ lớn. Nhiều nhà văn, nhà viết kịch, nhà sáng tác đã đưa dòng họ này vào tác phẩm của mình là một điều minh chứng ảnh hưởng của dòng họ Đào trong đời sống xã hội Trung Quốc. Có một chi tiết thú vị trong lịch sử thời Chiến Quốc là: sau khi giúp Việt vương Câu Tiễn đánh bại nước Ngô, giết chết Phù Sai, quân sư Phạm Lãi đã treo ấn từ quan, để không rơi vào cảnh: "chim đã hết thì cung bỏ xó, thỏ đã hết thì chó săn cũng không còn chỗ dung thân". Phạm Lãi vượt biển, đến vùng nước Tề sống ẩn dật đổi tên thành Đào Chu Công. Sau khi lập gia thất, ông sinh được 03 người con trai đều đặt tên cho con theo họ Đào. Gia đình ông kinh doanh và sau này trở thành một phú thương. Hiện tại còn lưu trữ nhiều câu chuyện của Đào Chu Công trong đối nhân xử thế.

Danh nhân

[sửa | sửa mã nguồn]

Tham khảo

[sửa | sửa mã nguồn]
  1. "Đào Lang". Bản gốc lưu trữ ngày 16 tháng 3 năm 2018. Truy cập ngày 16 tháng 3 năm 2018.
  2. "Đào Tế, Đào Lại và Đào Độ". Bản gốc lưu trữ ngày 16 tháng 3 năm 2018. Truy cập ngày 16 tháng 3 năm 2018.
  3. http://sovhttdl.haiduong.gov.vn/pages/chitiettin.aspx?newsId=861fe9ae-3f93-4160-bfeb-a8809a9b969e Lưu trữ ngày 13 tháng 3 năm 2017 tại Wayback Machine Đào Bạt, Thanh Hà
  4. Đại Nam thực lục-tập 7-Đệ tứ kỉ-các quyển từ XIII đến XLII-các trang 387, 393, 419, 466, 467, 468, 474, 496, 508, 537, 553, 567, 577, 582, 602, 634, 639, 669, 724, 747, 757, 761, 773, 775, 779, 785, 791, 800, 802, 810, 845, 867, 933, 984, 1014, 1018, 1065, 1081, 1087, 1093, 1095, 1100, 1103, 1107, 1118, 1121, 1138, 1147, 1175, 1176, 1182, 1183, 1197, 1198, 1199, 1200, 1201, 1202, 1203, 1204, 1206, 1212, 1213, 1219, 1221, 1229
  5. "Bản sao đã lưu trữ". Bản gốc lưu trữ ngày 9 tháng 7 năm 2010. Truy cập ngày 17 tháng 3 năm 2010.

Liên kết ngoài

[sửa | sửa mã nguồn]