Đào (họ)

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm

Họ Đào (chữ Hán:陶, bính âm: tao) là một trong những họ của người Việt Nam, Triều TiênTrung Quốc.

Việt Nam

Nguồn gốc

Có thể nói rằng có rất ít tài liệu nào cho thấy gốc tích của dòng họ Đào ở Việt Nam, kể các trong các gia phả của các chi họ Đào lớn như ở Hà Nội, Hưng Yên, Hải Phòng, Bắc Ninh, Hải Dương, Phú Thọ, Hà Tĩnh, Nam Định, Thái Bình, Hà Nam, Ninh Bình, Thanh Hóa... Theo một số tài liệu thì họ Đào được phát tích từ thời Hùng vương thứ 6, hiện nay thần phả, thần tích cũng như bia đá tại đền Thượng khu di tích đền Hùng vẫn còn ghi công tổ tiên họ Đào đã từng là Đại tướng quân đánh giặc Ân, Đức thánh Bạch Hạc Tam Giang - Đào Trường, Đào Thạch Khanh thời Hùng Vương, Thời Hai Bà Trưng có Bắc Bình Vương Đào Kỳ, thời Lý có Thái Sư, Á Vương Đào Cam Mộc.... Trải qua hàng nghìn năm lịch sử, dòng họ Đào sản sinh ra những danh nhân, tướng sĩ có công lao to lớn với nước được ghi vào sử sách và được người dân tôn thờ là Thành hoàng trong các làng quê Việt Nam.[1]

Các dòng họ Đào ở Việt Nam

Theo số liệu thống kê từ các chị họ Đào thì hiện nay có gần 9 triệu ~1% dân số Việt Nam. Các chi họ Đào Việt Nam có số dân đông như.[2]

  • Dòng họ Đào tại thôn Thụ ích - Xã Liên Châu - Huyện Yên Lạc - Tỉnh Vĩnh Phúc là một dòng họ có truyền thống lâu đời gắn liền với tên tuổi Tiến sĩ Đào Sùng Nhạc, người đã được vinh danh trong văn bia Quốc Tử Giám, điểm đặc biệt nơi đây đó là gần như cả thôn đều mang họ Đào, đã có nhiều thành viên trong họ thành đạt và có địa vị ngoài xã hội.
  • Dòng họ Đào tại thôn Yên Quán - xã Bình Định - huyện Yên Lạc - tỉnh Vĩnh Phúc là một dòng họ rất lớn, có tới hàng nghìn hộ, sống tập trung tại làng Yên Quán- Bình Định - Yên Lạc và các khu vực lân cận.
  • Dòng họ Đào Bá tại thôn Tế Sơn, xã Đồng Lạc, huyện Chí Linh, tỉnh Hải Dương cách đây trên 300 năm. Trong nhà thờ lưu giữ gia phả của dòng họ. Trong đó có nhiều thông tin quý giá về nguồn gốc, lịch sử phát triển...
  • Dòng họ Đào tại thôn Thọ Vực, xã Đội Bình, huyện Ứng Hòa, Hà Nội.
  • Dòng họ Đào tại xã Cổ Bi, huyện Gia Lâm, Hà Nội.
  • Dòng họ Đào tại Hải Dương có chung một thủy tổ Đào Mẫn, cụ Đào Mẫn là người gốc Nghệ An đến Hải Dương dậy học sau đó lập gia, sinh con cháu tại vùng Hải Dương. Ngày nay hậu duệ cụ Đào Mẫn đã phân tách thành các chi lớn sinh sống tại các xã như Thanh Hải, Quyết Thắng, Tiền Tiến huyện Thanh Hà, chi tại Bình Lãng, huyện Tứ Kỳ tỉnh Hải Dương. Mặc dù cụ tổ Đào Mẫn về vùng Hải Dương nay (Thanh Hải, Thanh Hà) từ thế kỷ XIV xong vẫn giữ được truyền thống dòng họ, duy trì thăm hỏi, giao lưu giữa các chi mật thiết. Hậu duệ cụ Đào Mẫn cũng có nhiều con cháu học hành thành danh, đỗ đạt hiển vinh...
  • Dòng họ Đào Đức, Đào Đình ở xã Thuần Hưng, tại huyện Khoái Châu, tỉnh Hưng Yên.
  • Dòng họ Đào tại Ô Mễ, Tân Phong, huyện Vũ Thư - Thái Bình.
  • Dòng họ Đào tại thôn Lương Trạch xã Thanh Lương, huyện Vĩnh Bảo - Hải Phòng
  • Dòng họ Đào tại xã Đồng Minh, huyện Vĩnh Bảo - Hải Phòng.
  • Dòng họ Đào tại xã Hợp Thành, xã An Sơn, huyện Thủy Nguyên, Hải Phòng.
  • Dòng họ Đào Bá tại xã Thuận Thiên huyện Kiến Thụy- Hải Phòng (đến nay đã có khoảng 300 năm với khoảng 16 đời)
  • Dòng họ Đào tại Cổ Am, huyện Vĩnh Bảo - Hải Phòng. Dòng họ Đào tại đây có cụ tổ gốc từ Thanh Nghệ Tĩnh xưa di cư ra, theo truyền thống các chi được phân biệt theo thứ bậc từ con cả, con thứ từ cụ thủy tổ là: Nguyên, Đăng, Mạnh, Trọng
  • Dòng họ Đào tại thôn Đại Nỗ, xã Hùng Tiến, huyện Vĩnh Bảo - Hải Phòng.
  • Dòng họ Đào Duy tại Cổ Loa, Đông Anh, Hà Nội xuất xứ từ vùng Phong Châu (Văn Lang cũ) sau di chuyển về Cổ Loa dưới thời Âu Lạc (An Dương Vương - TK thứ 3 trước CN) [cần dẫn nguồn].
  • Dòng họ Đào Duy ở Tĩnh Gia, Thanh Hóa.
  • Dòng họ Đào ở Hưng Yên (về sau nhiều gia đình họ Đào ở đây có chuyển lên Hà nội, Gia Lâm, Bắc Ninh) (nguồn: Đào Đăng Vỹ - tác giả cuốn Pháp Việt từ điển).
  • Dòng họ Đào Văn, Đào Duy, Đào Quang, Đào Đắc,... ở xã Đại Hưng (Đại Quan) - huyện Khoái Châu đặc biệt nhất ở Hưng Yên khi hầu như cả xã toàn là dòng họ Đào. Các dòng họ Đào ở đây vẫn duy trì được những phong tục, tập quán truyền thống của dòng họ, việc họp họ luôn được thành viên trong họ quan tâm. Mùng 4 hoặc mồng 6 Tết Nguyên Đán hàng năm là ngày quan trọng của các dòng họ khi đây là thời gian các con cháu của dòng họ Đào trở về đoàn tụ.
  • Dòng họ Đào Quang tại Cửu cao, huyện Văn giang, Hưng Yên.
  • Dòng họ Đào Công ở thôn Diệt Pháp, xã Thiện Phiến, huyện Tiên Lữ, tỉnh Hưng Yên - Thờ Cụ Đào Công Soạn.
  • Dòng họ Đào Văn, Đào Đức, Đào Đình ở Bắc Ninh: 1. Thôn Cổ Miếu, xã Phật tích, huyện Tiên Du, Bắc Ninh.
  • Dòng họ Đào Văn ở xã Đức Dũng, huyện Đức Thọ, Hà Tĩnh sống ở đây đã nhiều đời.
  • Dòng họ Đào Hữu, Đào Duy ở xã Sơn Bằng, huyện Hương Sơn, tỉnh Hà Tĩnh.
  • Dòng họ Đào Viết tại Thạch Đồng, TP. Hà Tĩnh, Hà Tĩnh - Thờ cụ Đào Viết Sở.
  • Dòng họ Đào Duy ở xã Tân Lập, huyện Vũ Thư, Thái Bình.
  • Dòng họ Đào Đức tại thôn Đan Loan, xã Nhân quyền, huyện Bình Giang, tỉnh Hải Dương. Dòng họ Đào Đức hiện nay có nhà thờ tổ của dòng họ tại quê nhà. Nghề tổ của dòng họ là nghề nhuộm, hiện nay còn đền thờ tổ nghề tại phố Hàng Đào, Hoàn Kiếm, Hà Nội.
  • Dòng họ Đào ở tại làng Thủ Lệ, Ngọc Khánh, Ba Đình hiện nay vẫn còn một ngôi từ đường thờ Thuỷ tổ của dòng họ Đào. Theo những người già trong họ, họ Đào làng Thủ Lệ.
  • Dòng họ Đào Công, Đào Quang, Đào Duy, Đào Ngọc là các chi lớn trong dòng họ Đào tại xã Cẩm Đình, huyện Phúc Thọ, Hà Nội đã tồn tại được khoảng 12-13 đời, hàng năm họp họ vào ngày 20 tháng 12 âm lịch. Nguồn gốc chính là Đào Duy tại Tĩnh Gia Thanh Hóa di cư ra Ha Nội từ rất lâu.
  • Dòng họ Đào ở huyện Thường Tín, Hà Nội.
  • Dòng họ Đào Huy ở phường Đồng Mai, quận Hà Đông, Hà Nội có 4 chi lớn (Đào Huy Tùng, Đào Huy Khuê,...).
  • Dòng họ Đào Tự tại Thượng Mạo, Phú Lương, Hà Đông, Hà Nội là một họ khá nổi tiếng học giỏi (Đào Tự Qúy, Đào Tự Mão) và có truyền thống hiếu học.
  • Dòng họ Đào Duy, Đào Công, Đào Huy, Đào Văn tại xã Cao viên, huyện Thanh Oai, Hà Nội là con cháu của Đương Quận Công Đào Quang Nhiêu (1601-1672) gồm ba chi có phả hệ 17 đời.
  • Dòng họ Đào Bá tại thôn Lưu Khê, xã Liên Hòa, huyện Yên Hưng, tỉnh Quảng Ninh - ông tổ là Đào Bá Lệ [3] là thành hoàng làng và được thờ trong đình làng Lưu Khê. Vào đời vua Lê Thái Tông, niên hiệu Thiệu Bình (1434) ông đã ban hành nhiều chủ trương chính sách nhằm khôi phục và xây dựng nước Đại Việt thành một quốc gia độc lập, tự cường và giàu mạnh trong đó có nhiều nhóm dân cư ở kinh thành Thăng Long và vùng đồng bằng sông Hồng, sông Thái Bình đến vùng đất này quai đê lấn biển, khẩn hoang đất đai lập làng, tạo nên khu đảo Hà Nam trù phú như ngày nay. Trong đó 17 vị tiên công, là người cùng quê ở phường Kim Hoa (nay là phường Kim Liên), huyện Thọ Xương, phủ Hoài Đức, phía nam thành Thăng Long. Hai tiên công Đỗ Độ và Đào Bá Lệ cùng quê Phủ Lý - Hà Nam (trong cuốn Phú Ý được cụ Đào Quang Kế ghi chép vào năm Cảnh Hưng thì cụ từ thôn An Đông) nay là thôn An Đông, xã Lê Hồ, huyện Kim Bảng, tỉnh Hà Nam (giáp ranh địa phận Hà Nội ngày nay). Dòng họ Đào tại đây trải qua hơn 600 năm và có trên 20 đời do sinh hoạt dòng họ đông đúc nên con cháu đã xây dựng một nhà thờ tại xóm 6 và 1 nhà thờ tại xóm 8 thôn Lưu Khê để tiện cho con cháu được xum vầy mỗi dịp lễ têt. Với truyền thống từ thời cụ tổ Đào Bá Lệ cách đây hơn 600 năm, ngày này con cháu đã chuyển đổi nhiều ngành nghề nhiều lĩnh vực xong vẫn còn dấu ấn truyền thống như chúa đảo Tuần Châu - Đào Hồng Tuyển phát triển và xây dựng kinh tế trên đảo Tuần Châu...
  • Dòng họ Đào Khắc tại làng Dành xã An Ninh - Huyện Quỳnh Phụ Tỉnh Thái Bình, tính đến nay đã có 15 đời dòng Họ Đào Khắc cùng Huyết thống chung sống trên đất làng Dành.., Theo nh­ư kể lại thì Cụ Thủy Tổ Đào Khắc có quê gốc tại Lý Nhân, Hà Nam, cách nay gần 500 năm Cụ về làng Dành dạy học và lập nghiệp, cùng một số ít dòng Họ khác trong làng các cụ cùng nhau xây dựng lên Làng Dành, v­ượt đất làm nơi dạy học sau này là Đền Dành thờ Mẫu Huyền Trân Công Chúa, (Cụ còn giữ đ­ược 2 đạo sắc phong) làm Đình để có nơi hội họp và là nơi thờ Thành Hoàng làng.
  • Dòng họ Đào Khắc tại xã Nguyễn Huệ - Huyện Đông Triều - Tỉnh Quảng Ninh đã tồn tại được khoảng 11 đời, hàng năm họp họ vào ngày 14 tháng 7 (Âm lịch) Cụ tổ dòng họ là cụ Đào Khắc Nghĩa, hiện chưa rõ di cư từ vùng nào về.
  • Dòng họ Đào tại Vũ Đông, TP. Thái Bình, tỉnh Thái Bình. Ngày trước có tên là làng Đông Trì, Vũ Đông, Kiến Xương, Thái Bình.Tại đây có giữ một số Tài liệu liên quan về dòng Họ Đào khu vực sông hồng và Miền Bắc.
  • Dòng họ Đào tại Đông Hưng, Thái Bình.
  • Dòng họ Đào Đình tại thôn Đào Xá, xã Đại Cường, huyện Ứng Hòa, Hà Nội. Tại đây có ba chi họ Đào xong chi họ Đào Đình là lớn nhất và có lịch sử cụ tổ hơn 400 năm từ thời Chúa Trịnh, Chúa Nguyễn...
  • Dòng họ Đào tại Huyện Hải Hậu tỉnh Nam Định, theo gia phả của dòng họ thì nhánh họ Đào Xuân tại Hải Hậu có nhánh từ con cháu cụ Đào Sư Tích.
  • Dòng họ Đào Khả tại Dân Lý, huyện Triệu Sơn, tỉnh Thanh Hóa.
  • Dòng họ Đào tại xã Trung Thành, huyện Vụ Bản, tỉnh Nam Định.
  • Dòng họ Đào Đình tại xã Hiệp Lực, huyện Ninh Giang, tỉnh Hải Dương.
  • Dòng họ Đào tại xã Bình Nguyên, huyện Kiến Xương, tỉnh Thái Bình.
  • Dòng họ Dương gốc Đào ở thị trấn Cổ Lễ, huyện Trực Ninh, tỉnh Nam Định. Tại đây con cháu mặc dù mang họ Dương nhưng vẫn luôn nhận thức và duy trì truyền thống thờ tự Lưỡng Quốc Trạng nguyên Đào Sư Tích. Từ đường dòng họ đề "Đào - Phạm - Dương" theo ghi chép gia phả của dòng họ thì vào cuỗi đời trần khi cụ Đào Sư Tích đi xứ Trung Nguyên đã tiên liệu được biến cố sau này nên đã căn dặn con chuyển họ Phạm, sau một thời gian con cháu họ Phạm đến vùng Cổ Lễ sinh cơ lập nghiệp thì đổi họ Dương. Vì vậy để ghi nhớ nguồn gốc của mình mà con cháu khi đi xa lập nghiệp và định cư lại thì đều đặt tên con chàu là Dương Đào ... để con cháu nhớ về nguồn cội.

Người họ Đào Việt Nam nổi bật

  • Đào Liên Hoa, người Châu Ái, là tướng nhà Đinh tham gia đánh dẹp 12 sứ quân
  • Đào Ngọc Sâm, người Châu Ái, sau đến Hải Dương làm hào trưởng và là tướng nhà Đinh tham gia đánh dẹp 12 sứ quân
  • Đào Tế, Đào Lai, Đào Độ, ba anh em người Hải Phòng, là tướng nhà Đinh tham gia đánh dẹp 12 sứ quân
  • Đào Cam Mộc, sinh năm 942, mất năm 1015 ở làng Lang Thôn, xã Định Tiến, huyện Yên Định, tỉnh Thanh Hoá. Qua những tài liệu tìm được cho thấy, Thái sư Á Vương Đào Cam Mộc là người có công trong việc tôn Lý Công Uẩn lên ngôi vua, là người đặt viên gạch đầu tiên xây dựng triều Lý - một Triều đại thái bình thịnh trị trong lịch sử dân tộc. Ông cũng là người có những đóng góp cho cuộc dời đô lịch sử từ Hoa Lư ra Thăng Long. Ông được Lý Công Uẩn tặng đôi câu đối "Lý triều định đô vương tứ phúc/Đào trạng văn quan Quốc ân thân" để ghi nhận công lao của Ông một người họ Đào giúp vua, giúp nước.
  • Đào Tiêu đỗ Trạng nguyên khoa tháng hai, Ất Hợi, năm Bảo Phù thứ 3 (1275), đời Trần Thánh Tông.
  • Đào Dương Bật đỗ Trạng nguyên khoa tháng hai, Ất Hợi, năm Bảo Phù thứ 3 (1275), đời Trần Thánh Tông.
  • Đào Sư Tích Người làng Cổ Lễ, huyện Nam Chân, sau đổi là huyện Nam Trực, phủ Thiên Trường (nay thuộc huyện Nam Ninh, Hà Nam Ninh). Đỗ trạng nguyên khoa Giáp Dần niên hiệu Long Khánh thứ 2 (1374), đời Trần Duệ Tông. Làm quan Tả tư lang trung, Nhập nội Hà khiển Hành khiển. Vua sai ông chép sách "Bảo hoà điện dư bút". Thời Hồ Quý Ly, bị giáng xuống Trung tư thị lang, Tri thẩm hình viện sự. Sau khi qua đời dân làng Cổ Lễ thờ ông làm Thành hoàng, được nhiều Triều đại vua chúa ban sắc cho làm Thượng đẳng thàn.
  • Đào Thúc Người xã Phủ Lý, huyện Đông Sơn (nay thuộc tỉnh Thanh Hoá). Đỗ Trạng nguyên khoa Ất Hợi, niên hiệu Bảo Phù thứ 3 (1275), đời Trần Thánh Tông. Không rõ ông làm quan đến chức gì. Chỉ biết sau khi chết ông được phong Phúc thần tại địa phương.
  • Đào Công Soạn: (tự: Tân Khanh; 1379 - 1466), danh thần, nhà ngoại giao, nhà thơ đời Lê. Quê: làng Thiện Phiến, huyện Tiên Lữ (Hưng Yên). Đỗ đầu khoa thi ở Đông Đô năm 1429, làm chánh sứ sang Minh cầu phong. Đã được thăng các chức tham tri đông đạo, sứ Thẩm hình viện. Kiêm thượng thư Bộ Lễ năm 1436 và 1444; 2 lần đi sứ sang Minh. Năm 1440, làm nhập nội đại hành khiển. Đầu 1456, tuổi đã già; vua Lê coi ông là cựu thần, sai lên biên giới phía bắc khám định. Có một số bài thơ chép trong "Toàn Việt thi lục" của Lê Quý Đôn. Ý thơ dồi dào, thanh thoát.
  • Nhu Thuận hoàng hậu, tên thật Đào Thị Ngọc Liễu, hoàng thái hậu nhà Hậu Lê.
  • Đào Quang Nhiêu (1601-1672) là một danh tướng của 3 đời chúa Trịnh (Trịnh Tráng, Trịnh Tạc, Trịnh Căn). Ông tham gia trong cuộc chiến tranh giữa chúa Trịnh và chúa Nguyễn giữa thế kỷ 17.
  • Đào Duy Từ Làm quan chúa Nguyễn, chúa Nguyễn phong cho Duy Từ làm Nha úy Nội Tán, tước Lộc Khuê Hầu, trông coi việc quân cơ ở trong và ở ngoài, tham lý quốc chính.
  • Đào Công Chính người làng Hội Am (còn có tên là làng Cõi), huyện Vĩnh Lại, trấn Hải Dương xưa (nay là thôn Hội Am, xã Cao Minh, huyện Vĩnh Bảo, TP Hải Phòng). Thuở nhỏ ông nổi tiếng thông minh ham học và có thể xem là thần đồng, năm 13 tuổi đã đi thi Hương, đậu Hương cống. Năm 23 tuổi đời Lê Thần Tông ông đậu Bảng nhãn, vì vậy dân làng còn gọi ông là Bảng Cõi. Được vua yêu, chúa quý nên thăng tiến rất nhanh, chỉ trong vòng 15 năm (1661-1676) từ Thị thư hàn lâm viện đã được bổ nhiệm chức Phủ doãn phụng thiên (người đứng đầu kinh đô Thăng Long).
  • Đào Vũ Thường Sinh ngày 07 tháng 2 năm Ất Dậu (1705) Tại Xã Yên Lũ, huyện Thanh Lan Nay là thôn Hưng Đạo, xã Đông Quan, huyện Đông Hưng, Tỉnh Thái Bình. Cụ học vấn thông minh, Năm 19 tuổi đỗ Hương cống khoa Quý Mão 1723 được bổ chức Huấn đạo thanh lan, môn sinh theo học đông được nhân gian truyền tụng.
  • Đào Tấn ông tổ nghề hát tuồng, ông đã để lại cho hậu thế một di sản nghệ thuật đồ sộ với hơn 1000 bài thơ, từ, 40 vở tuồng kinh điển,̀ tập sách lý luận sân khấu mang tên Hý trường tùy bút cùng nhiều tác phẩm nghệ thuật khác. Nhà thờ từ đường của ông ở thôn Vinh Thạnh, xã Phước Lộc, huyện Tuy Phước, tỉnh Bình Định.
  • Đào Trí, quan tướng nhà Nguyễn, Thống chế Hải phòng sứ Bắc Kỳ, Tổng đốc các tỉnh Định-Yên, -Ninh thời vua Tự Đức[4]
  • Đào Văn Danh, tiến sĩ (năm 1841)
  • Đào Nguyên Phổ (1861 - 1907) Danh sĩ, tác giả cận đại, quê làng Thượng Phấn, huyện Quỳnh Côi, tỉnh Thái Bình. Ông đỗ cử nhân năm 1884. Đình nguyên hoàng giáp, lãnh tụ phong trào Đông Kinh nghĩa thục. Con trai là Đào Trinh Nhất (1900-1951), tự Quán Chi, là nhà nhà văn, nhà báo Việt Nam giữa thế kỷ 20.
  • Đào Trinh Đứng đầu Quốc tử giám làm quan: Tế tửu (tương đương Hiệu trưởng Đại học) tại Quốc Tử Giám (Huế) năm 1825
  • Đào Hữu Ích (1839 - 1899), Cử nhân, Thượng thư.
  • Đào Duy Anh, Nhà Sử học nổi tiếng thế kỉ 20. Con trai ông là GS. VS. Đào Thế Tuấn là một Anh hùng Lao động đã dành cả cuộc đời khoa học gắn bó với đồng ruộng, với người nông dân (Ông từng là Viện sĩ Viện Hàn lâm khoa học Liên Xô, giáo sư hàng đầu trong lĩnh vực nông nghiệp ở Việt Nam)
  • Đào Duy Tùng Ông là một Ủy viên Bộ Chính trị Ban chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam trong nhiều khóa liên tục. Ông được xem là nhà lý luận hàng đầu và đã để lại rất nhiều cuốn sách thuộc loại này. Thời gian công tác dài nhất của ông là ở cơ quan Trung ương và hơn 30 năm làm công tác tư tưởng lý luận của Đảng, suốt từ tháng 5-1955 đến năm 1998
  • Đào Phúc Lộc bút danh là Hoàng Minh Đạo (1923-1969) là một trong những nhà tình báo nổi tiếng của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa thời chiến tranh Việt Nam. Ông phụ trách phòng Tình báo Quân ủy của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa từ lúc mới thành lập [1].
  • Đào Văn Tiến Giáo sư, Nhà giáo nhân dân Đào Văn Tiến (23 tháng 8 năm 1920 - 3 tháng 5 năm 1995) ông sinh tại thành phố Nam Định. Ông là Chủ tịch danh dự Hội Sinh học Việt Nam, Uỷ viên ban nghiên cứu nghề cá miền Tây Thái Bình Dương (1956-1966), Ủy viên Ủy ban Quốc tế nghiên cứu động vật có vú, uỷ viên Hội đồng nghiên cứu thú quốc tế (ITG), hội viên danh dự Hội nghiên cứu thú Liên Xô. Ông là giáo viên thỉnh giảng các trường đại học Paris (1979), Phnômpênh (1981), Antananarivo (1983).
  • Đào Mộng Long (7 tháng 1 năm 1915 - 9 tháng 8 năm 2006) sinh ra tại xã Xuân Hội, huyện Nghi Xuân, Hà Tĩnh. Đào Mộng Long là một diễn viên, nhà đạo diễn, nhà soạn giả sân khấu cải lương và kịch nói Việt Nam. Ông được phong tặng danh hiệu Nghệ sĩ nhân dân vào năm 1984.
  • Đào Nguyễn Quyết hay còn gọi là Nguyễn Quyết, một trong 12 đại tướng của Việt Nam, Ông được thăng hàm Thiếu tướng năm 1974; Trung tướng năm 1980; Thượng tướng năm 1986; Đại tướng năm 1990. Ông nghỉ hưu từ năm 1992 và được Nhà nước Việt Nam trao tặng Huân chương Sao Vàng năm 2007.
  • Đào Trọng Lịch, Trung tướng và là vị Tổng Tham mưu trưởng thứ 8 của Quân đội Nhân dân Việt Nam; nguyên Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam, Thứ trưởng Bộ Quốc phòng nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam.
  • Đào Phan Thu hay còn gọi là Phan Thu sinh năm 1931, trung tướng quân đội nhân dân Việt Nam, phong năm 1990, Thứ trưởng Bộ Quốc phòng nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam.
  • Đào Đình Luyện, thượng tướng quân đội nhân dân Việt Nam, phong năm 1988
  • Đào Trọng Thi, GS.VS Giám đốc ĐHQGHN [5]
  • Đào Nguyên Cát, GS., Tổng biên tập Thời báo Kinh tế Việt Nam
  • Đào Văn Tập, GS., nguyên Chủ nhiệm Ủy ban Khoa học xã hội Việt Nam; nguyên Ủy viên thường vụ Quốc hội nước CHXHCN Việt Nam; nguyên Phó chủ tịch hội Các nhà kinh tế thế giới.
  • Đào Đình Bình, TS., nguyên Bộ trưởng Bộ Giao thông Vận tải.
  • Đào Xuân Học, GS. TS., Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn.
  • Đào Hồng Tuyển là một Doanh nhân hay còn gọi chúa Đảo - Tuần Châu. Phát huy truyền thống từ đời thủy tổ Dòng họ Đào thôn Lưu Khê, huyện Yên Hưng, tỉnh Quảng Ninh với truyền thống phát triển kinh tế Biển Đảo.

Trung Quốc

Dòng họ Đào ở Trung Quốc là một dòng họ lớn. Nhiều nhà văn, nhà viết kịch, nhà sáng tác đã đưa dòng họ này vào tác phẩm của mình là một điều minh chứng ảnh hưởng của dòng họ Đào trong đời sống xã hội Trung Quốc. Có một chi tiết thú vị trong lịch sử thời Chiến Quốc là: sau khi giúp Việt vương Câu Tiễn đánh bại nước Ngô, giết chết Phù Sai, quân sư Phạm Lãi đã treo ấn từ quan, để không rơi vào cảnh: "chim đã hết thì cung bỏ xó, thỏ đã hết thì chó săn cũng không còn chỗ dung thân". Phạm Lãi vượt biển, đến vùng nước Tề sống ẩn dật đổi tên thành Đào Chu Công. Sau khi lập gia thất, ông sinh được 03 người con trai đều đặt tên cho con theo họ Đào. Gia đình ông kinh doanh và sau này trở thành một phú thương. Hiện tại còn lưu trữ nhiều câu chuyện của Đào Chu Công trong đối nhân xử thế.

Danh nhân

Ghi chú

  1. ^ [1]
  2. ^ [2] Họ Đào Việt Nam, Nhà xuất bản Hội Nhà văn - Tuổi trẻ Online, Thứ Bảy, 16/02/2008, 05:15 (GMT+7).
  3. ^ [3]
  4. ^ Đại Nam thực lục-tập 7-Đệ tứ kỉ-các quyển từ XIII đến XLII-các trang 387, 393, 419, 466, 467, 468, 474, 496, 508, 537, 553, 567, 577, 582, 602, 634, 639, 669, 724, 747, 757, 761, 773, 775, 779, 785, 791, 800, 802, 810, 845, 867, 933, 984, 1014, 1018, 1065, 1081, 1087, 1093, 1095, 1100, 1103, 1107, 1118, 1121, 1138, 1147, 1175, 1176, 1182, 1183, 1197, 1198, 1199, 1200, 1201, 1202, 1203, 1204, 1206, 1212, 1213, 1219, 1221, 1229
  5. ^ http://www.bulletin.vnu.edu.vn/btdhqghn/Vietnamese/C1177/C1415/2007/05/N16096/?1

Liên kết ngoài