Phạm (họ)

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Phạm
Tiếng Việt
Chữ Quốc ngữPhạm
Chữ Hán范 - 範
Nguồn gốcby
Tiếng Trung
Chữ Hán范 - 範
Trung Quốc đại lụcbính âmFàn
Đài LoanWade–Gilestiếng Hoa: Fan
tiếng Đài Loan: Huān
tiếng Khách gia: Fam
Hồng KôngViệt bínhFan
Ma CaoViệt bínhFan
Bạch thoại tựHoān

SingaporeHuang
MalaysiaFung - Fam - Fang - Hwang
Tiếng Triều Tiên
Hangul
Romaja quốc ngữBeom

Phạm là một họ thuộc vùng Văn hóa Đông Á, phổ biến ở Việt Nam.

Chữ Phạm ở đây (họ Phạm) theo tiếng Phạn cổ thì đó là chữ "Pha " hoặc chữ " Pho " có nghĩa là " Thủ Lĩnh ". Dịch sang Hán ngữ đó là chữ Phạm của họ Phạm.

Tại Trung Quốc có hai họ Fàn 范 và Fàn 範, là hai họ đồng âm nhưng khác nhau về viết chữ Hán dùng để ghi lại, mà ý nghĩa là giống nhau [1]. Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa khi tiến hành giản hoá chữ Hán đã lấy chữ 范 làm chữ giản hoá của chữ 範 [2] nhưng chữ 範 khi dùng làm họ tên thì vẫn viết là 範, không giản hoá thành 范 [3].

Đôi nét về họ Phạm[sửa | sửa mã nguồn]

Việt Nam[sửa | sửa mã nguồn]

Triều Đại Phong kiến[sửa | sửa mã nguồn]

Hệ thống chi họ[sửa | sửa mã nguồn]

Việt Nam có 6 dân tộc có người mang họ Phạm:

– 1 / 165 họ của người Kinh/gốc Kinh,

– 1 / 11 họ của người Mường,

– 1 / 11 họ của người Tày,

– 1 / 172 họ của người Việt gốc Hoa,

– 1 / 49 họ của người Việt gốc Khmer.

* Dân tộc Thái có người họ Phạm vốn là họ Khằm / Cầm chuyển sang.

Phân bố[sửa | sửa mã nguồn]

Họ Phạm là dòng họ phổ biến thứ 4 ở Việt Nam với 7% dân số với khoảng 6,7 triệu người chỉ đứng sau họ Nguyễn, Trần, . Tuy có rất nhiều nhân tài trí sĩ nhưng chưa một lần có người làm Vua; nhiều người họ Phạm là "lương đống của xã tắc".

Nhân vật lịch sử họ Phạm đầu tiên trong chính sử là danh tướng Phạm Tu – khai quốc công thần triều Tiền Lý, đã có công đánh đuổi quân Lương (542), đánh tan quân xâm lấn Lâm Ấp (543), dựng Nhà nước Vạn Xuân (544)

Theo các bản Thần phả, Thần tích sự xuất hiện các vị họ Phạm sớm hơn, như:

- Phạm Quốc Lang quốc lang đại Vương, tướng thời Hùng Vương thứ 6 chống giặc Ân.Thờ ở đền Hạ, Đông Ngàn, Đông Hội, Đông Anh, Hà Nội

Nam Hải Đại Vương Phạm Hải, và ba anh em Phạm Vĩnh (Trấn Tây An Tam Kỳ Linh ứng Thái Thượng đẳng Thần) thế kỷ III trước CN, giúp Vua Hùng thứ 18 đánh Thục

– Tướng quân Phạm Gia – tướng của An Dương Vương, 208 trước CN lui quân về vùng Hoài Đức

Phạm Danh Hương chồng của Bát Nạn nữ tướng quân (thời Hai Bà Trưng)

Họ Phạm ở Việt Nam có thể có hai nguồn gốc chính: từ cộng đồng tộc Việt trong Bách Việt của nước Văn Lang, Âu Lạc xưa, từ nguồn gốc ở các tỉnh miền Nam Trung Quốc di cư sang và được Việt hoá. Ngoài ra còn có họ Phạm từ các dòng họ khác đổi sang như họ Mạc,…

Các dòng họ Phạm – Việt Nam không có một ông tổ duy nhất. Do vậy, BLL họ Phạm Việt Nam đề nghị suy tôn Đô Hồ Đại vương Phạm Tu là một Thượng Thuỷ tổ họ Phạm Việt Nam. Ông là nhân vật lịch sử đầu tiên của dòng họ Phạm có công lao đối với đất nước đã được ghi vào sử sách. Chúng ta cũng không quên công lao các vị đã sinh thành dưỡng dục Thượng thủy tổ. Tại miếu Vực có thờ hai vị thân sinh và Đô Hồ Đại vương.

Họ Phạm Việt Nam có sự chuyển cư rất mạnh lan tỏa trong vùng châu thổ sông Hồng, rồi vào Ái Châu (Thanh Hóa). Từ Thanh Hóa lại có sự chuyển cư đến vùng Sơn Nam Hạ (ngày nay là các tỉnh Hải Dương, Hưng Yên, Thái Bình, Hà Nam, Nam Định, Ninh Bình,...) vào miền Nam Trung bộ (Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định,... mạnh nhất là vào thời nhà Lê (thế kỷ thứ XV). Trong thời kỳ hiện đại, người họ Phạm Việt Nam định cư ở nhiều nước trên thế giới.[cần dẫn nguồn]

Nhà thờ họ Phạm[sửa | sửa mã nguồn]

Cũng như truyền thống chung của các dòng họ ở Việt Nam, dòng họ Phạm lập nhiều nhà thờ họ ở 63 tỉnh, thành tại Việt Nam. Ở thành phố Hồ Chí Minh, nhà thờ gia tộc họ Phạm nằm trên đường Trần Khánh Dư (quận 1), do ông Phạm Văn Ngộ (cháu ruột của cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng) cùng các con cháu cai quản. Gia tộc họ Phạm ở thành phố Hồ Chí Minh thuộc chi phái Phạm Văn Nga, là đời thứ 10 họ Phạm. Cụ Phạm Văn Nga từng làm tới chức Thị Giảng Học sĩ (dạy học cho các Hoàng tử), được phong hàm tam phẩm Tham Biện Nội Các. Sau khi cụ mất, nhà vua đã phong thần và cho đến nay sắc phong vẫn còn được con cháu lưu giữ.[4]

Trung Quốc[sửa | sửa mã nguồn]

Thời xa xưa ở Trung Quốc thường người ta lấy địa danh mình sinh sống, lấy sắc phong hoặc lấy theo họ của chủ mà mình thờ làm họ. Họ Phạm cũng không ngoài quy luật đó.

Theo Nguyên Hà Tính ToảnLộ Sử, Lưu Luy thuộc dòng Đường Đế Nghiêu. Lưu Luy lập ra nước Đường nay ở tỉnh Sơn Tây, Trung Quốc và thường gọi là Đường Đỗ Thị. Vào triều đại nhà Chu, Chu Thành Vương chiếm nước Đường. Một người cháu Lưu Luy được cấp đất Đỗ Thành ở Tây An, tỉnh Thiểm Tây và được phong tước Đỗ bá. Do vậy, con cháu nhận Đỗ (杜) làm họ.

Vào cuối đời Tây Chu, Chu Tuyên Vương tin vào những điều huyền hoặc, quan thượng đại phu là Đỗ Bá không làm theo nên bị giết, khi đó có quan hạ đại phu là Tả Nho can rằng: "Những chuyện huyền hoặc ngày nay sao nhà vua lại quá tin như vậy. Nếu nhà vua giết Đỗ Bá thì kẻ hạ thần e rằng người nước ngoài nghe thấy những chuyện huyền hoặc cũng đem lòng khinh bỉ, xin nhà vua nghĩ lại". Người đời sau thương Đỗ Bá là người trung, mới lập đền thờ, gọi là"miếu Đỗ Chủ"cũng gọi là"Hữu tướng quân miếu".

Đất Đỗ Thành lại bị Chu Tuyên Vương chiếm và con của Đỗ Bá là Đỗ Thấp Thúc chạy sang nước Tấn, rồi được phong chức Sĩ Sư nên đổi họ Đỗ thành họ Sĩ. Đó là thời đầu nhà Đông Chu, Chu U Vương, 781 TCN-771 TCN.

Đến đời chắt của ông này là Sĩ Hội. Đó là ông tổ của họ Phạm. Sĩ Hội "là người tín nghĩa, ôn hòa mà không nhu nhược, uy nghiêm mà không dữ tợn". Ông có công trong việc trị quốc và dẹp yên những nước Xích Địch. Chu Định Vương (607-571 TCN) cho ông phẩm phục chức thượng khanh và kiêm chức thái phó, lại được phong ở đất Phạm. Từ đó con cháu của Sĩ Hội đều đổi thành họ Phạm. Sĩ Hội là Phạm Mạnh, con là Phạm Mang, cháu là Phạm Phường.

Một thời gian sau đó quyền lực nước Tấn bị chia sẻ vào tay tám họ, rồi bốn họ, rồi nước Tấn bị chia làm ba nước Hàn, Triệu, Ngụy. Sử gọi ba nước đó là Tam Tấn. Thời kì đó là đời vua Chu Kính Vương thứ 28 tức năm 492 TCN. Họ Triệu lấy danh nghĩa vua Tấn kết hợp với họ Hàn và họ Ngụy đánh họ Phạm và họ Trung Hàng. Phạm Cát Xạ và Trung Hàng Di phải cố thủ ở Triều Ca (kinh đô nhà Thương cũ). Cuối cùng thành Triều Ca vỡ, con cháu họ Phạm phải chạy sang nước Tề rồi kể từ đó đi lưu lạc khắp nơi.

Các nhánh lớn[sửa | sửa mã nguồn]

Họ Phạm (Thanh Hà, Hải Dương)[sửa | sửa mã nguồn]

Đây là nhánh họ Phạm lớn nhất ở Việt Nam cho đến nay. Có từ đường thờ phụng thuỷ tổ dòng họ Phạm tại đây. Đến nay đã có 18 đời con cháu sinh sôi và phát triển ở đây. Phạm tộc được chia thành 4 chi (Phạm Đỉnh, Phạm Khả, Phạm ĐìnhPhạm Kim) Trong đó chi Phạm Đình có con cháu rất đông đảo.

Nổi bật có cụ tổ đời thứ 5 Phạm Đỉnh Chung 范鼎鍾 đỗ Đệ tam giáp đồng Tiến sĩ xuất thân khoa Giáp Thìn, năm Bảo Thái thứ 5 (1724). Làm quan dưới thời Hậu Lê (Vua Lê Dụ Tông) chức Hàn lâm học sĩ cai quản sổ sách trong triều.

Họ Phạm Thổ Hào (Thanh Chương, Nghệ An)[sửa | sửa mã nguồn]

Phát tích từ xã Thổ Hào, nay là xã Thanh Giang, huyện Thanh Chương, tỉnh Nghệ An. Nơi đây thờ phụng Thủy tổ Phạm Kinh Vỹ, đỗ Giải nguyên kì thi Hương khoa Giáp Ngọ, năm Vĩnh Thịnh thứ 10 (1714), đỗ Đệ tam giáp đồng Tiến sĩ xuất thân khoa Giáp Thìn, năm Bảo Thái thứ 5 (1724).

Họ Phạm Ngọc Quế (Quỳnh Phụ, Thái Bình)[sửa | sửa mã nguồn]

Phát tích từ làng Ngọc Quế (hữu ngạn sông Luộc), xã Quỳnh Hoa, huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình (cả vùng Ngọc Quế có một họ Phạm duy nhất,nên gọi là họ Phạm Ngọc Quế). Theo truyền khẩu thì dòng họ này thuộc dòng dõi Phạm Lệnh Công (Phạm Chiêm), thuộc một trong các chi ngành Phạm Hạp (979) - (Phạm Hạp là ông tổ 8 đời của danh tướng Phạm Ngũ Lão một danh tướng thời Trần - căn cứ theo sách Kỷ Yếu Tân Biên của Phạm Côn Sơn. Như vậy, dòng họ Phạm Ngọc Quế là cùng chi ngành với danh tướng trên), làng Trà Hương, Khúc Giang, Nam Sách, Hải Hưng. Thủy tổ ngành tại Ngọc Quế là Phạm Đình Xoắn giỗ ngày 20 tháng Giêng âm lịch (sinh được 4 chi). Họ này hiện tại còn lại 3 chi, chi trưởng tại Vĩnh Bảo, Hải Phòng (chi cụ Phạm Văn Lĩnh), chi hai tại Ngọc Quế, Quỳnh Hoa, Quỳnh Phụ, Thái Bình (chi cụ Phạm văn Biên), chi ba tại nơi phát tích là Nam Sách, Hải Hưng,chi cụ Phạm Văn Lẫm.(Con cháu chi ngành này di cư và hiện cư trú tại Lục Ngạn, Hà Bắc..)....

Theo thần tích miếu Hoàng Bà (Bái Trang, Quỳnh Hoa, Quỳnh Phụ, Thái Bình) do quan Giám Bách thần Nguyễn Hiền (1753) chép lại theo bản chính của quan Hàn Lâm viện Đông các Đại học sĩ Nguyễn Bính, thì vào thời vua Lý Anh Tông có bà Phạm Thị Huệ (người họ Phạm Ngọc Quế) lấy ông Nguyễn Khuê người làng Bái Trang sinh ra được ba người con gái là Nguyễn Thị Kim (Kim nương), Nguyễn Thị Lan (Lan nương) và Nguyễn Thị Thanh (Thanh nương). Bà Kim nương Nguyễn Thị Kim là một trong các hoàng phi của vua Lý Cao Tông. Ba bà có nhiều công lao giúp vua dẹp loạn giữ nước nên bà Lan nương được phong là "Lương Quốc Thiên Ninh Thái Trường Hoàng Ân công chúa" và bà Thanh Nương là "Thiên Cực Thái Trường Thiện Duyên công chúa".Bà Kim Nương được phong là"Linh Thông Quốc Mẫu Hoàng Bà quý phi công chúa "Đền miếu các bà vẫn còn được thờ phụng đến ngày nay (nghè Vua Bà thôn Bái Trang, xã Quỳnh Hoa).Căn cứ theo thần tích trên thì Họ Phạm Ngọc Quế là một dòng họ rất lâu đời đã cư trú tại đây (Ngọc Quế,Quỳnh Hoa,Quỳnh Phụ,Thái Bình). Và cũng là một trong những ngành miêu duệ của một dòng họ Phạm anh hùng...

Họ Phạm Đông Ngạc (Từ Liêm, Hà Nội)[sửa | sửa mã nguồn]

Họ Phạm làng Đông Ngạc (làng Vẽ cổ) (nay thuộc xã Đông Ngạc, huyện Từ Liêm, Hà Nội), hình thành từ cuối thời nhà Trần (thế kỷ thứ 14). Thuỷ tổ là cụ Phạm Húng (khoảng năm 1345).Căn cứ vào những thư tịch Hán Nôm hiện còn lưu giữ được như: Phạm tộc phả ký, Phạm tộc gia phả, Đông Ngạc Phạm tộc gia tiên... thì tổ tiên họ Phạm gốc ở Ái Châu (Thanh Hóa ngày nay). Do những biến cố của lịch sử, có 3 anh em họ Phạm đầu tiên rời Ái Châu ra đinh sinh cơ lập nghiệp ở các nơi: một người về Đôn Thư (Thanh Oai - Hà Tây), một người về Bát Tràng (Gia Lâm - Hà Nội) và một người về Đông Ngạc (Từ Liêm - Hà Nội). Con cháu của họ di cư, lập nghiệp trên khắp toàn quốc, trong đó có một nhánh họ Phạm ở Hải Phòng. (Về chi họ Phạm ở Hải Phòng, vì chưa đủ tài liệu nên chưa thể hoàn thành, sẽ tiếp tục được nghiên cứu). Trải quan trên 600 năm, dòng họ Phạm làng Đông Ngạc đã phát triển tới 16 chi (Đại tôn), thuộc hai hàng Giáp, Ất và qua 22 thế hệ con cháu.

Tổ tiên họ Phạm rất nghèo nhưng hiếu học, trọng đạo nghĩa, đã mở đầu truyền thống học giỏi, đỗ cao và thanh liêm, có nhiều công lao đóng góp cho đất nước xóm làng. Dòng họ này thời phong kiến đã có 9 Tiến sĩ (trong đó có 1 Bảng nhãn, 1 Hoàng giáp) và 2 Sĩ vọng.

Phạm Thọ Lý (1610-1685) và Phạm Quang Dung (1675-1739) được thờ là Hậu thần tại bái đường đình làng Đông Ngạc vì đã có nhiều công lao với nước, với dân. Phạm Quang Dung đỗ Tiến sĩ năm Bính Tuất (1706). Ông đã từng làm Chánh sứ Trung Quốc năm Nhâm Tý (1732), làm quan tới chức Công bộ Thượng thư, Lệ quận công.

Phạm Quang Trạch, đỗ bảng nhãn khoa thi năm Quý Hợi (1683), đã từng giữ chức Lễ bộ hữu thị lang, tác giả cuốn Nam chưởng kỷ lục về mối bang giao giữa Đại ViệtAi Lao.

Phạm Gia Chuyên (1791-1862), cháu 5 đời của Bảng nhãn Phạm Quang Trạch, cháu 4 đời của Tiến sĩ Phạm Nguyên Ninh, đỗ Tam giáp đồng tiến sĩ xuất thân năm 1832. Ông làm quan thời nhà Nguyễn, đã từng giữ các chức Tri phủ Kiến Xương (Thái Bình), Lễ bộ viên ngoại lang, Đốc học tỉnh Ninh Bình, Tự nghiệp Quốc tử giám. Ông tham gia soạn cuốn Quốc sử lược biên.

Trong thời hiện đại, nhiều người trong họ đã thành đạt, trong đó có Trung tướng GS-TS Phạm Gia Khánh (Giám đốc Học viện Quân y), GS-TS Phạm Gia Khải (Viện trưởng Viện Tim mạch), Phó Thủ tướng kiêm Bộ trưởng ngoại giao Việt Nam Phạm Gia Khiêm là một hậu duệ đời thứ 17 chi Ất.

Con cháu của dòng họ này đã lưu giữ được gần như là trọn vẹn các bản gia phả, tộc phả được bảo quản tại Viện Hán Nôm và trong các gia đình từ đời thứ nhất đến đời thứ 19.

Họ Phạm Vĩnh Lại (Vụ Bản, Nam Định)[sửa | sửa mã nguồn]

Họ Phạm Vĩnh Lại, Thiên Bản(tên cũ Cổ Sư) nay là thôn Vĩnh Lại, Xã Vĩnh Hào, về lập làng từ đầu thế kỷ 15 sau khi 370 người bị Hồ Quý Ly giết sau vụ ám sát hụt ông ở Hội thề Đốn Sơn. Gốc vốn Trần tộc Tức Mặc đổi sang họ Phạm.

Hiện từ đường Phạm Tộc Vĩnh Lại vẫn còn bức đại tự " Dĩ thủy nguyên Trần_已 水 源 蔯" để chỉ về nguồn cội và cũng là 1 cách chiết tự họ Phạm do Ly tán từ Kinh Thi:"Phong thủy hữu khỉ. Vũ vương khởi bất sĩ. Di quyết tôn mưu. Dĩ yến dực tử. Vũ vương chưng tai! 豐水有芑.武王豈不仕.詒厥孫謀.以燕翼子.武王烝哉."

Năm 1400 cụ Trần Đức đựợc đổi sang Phạm Đức, 5 họ lập nên Vĩnh Phúc Trang.

Từ thế kỷ 17 tới cuối thế kỷ 18, trải qua gần 200 năm họ Phạm Cổ Sư đóng góp cho đất nước hơn chục quan văn võ, trong đó có 1 Thiếu bảo Quận công, 4 tước Hầu, 2 tước Bá. Có công mở chợ Gôi, mở chợ Sy, đào sông Vĩnh Giang để tưới tiêu chống lụt lội, làm cầu, miễn tô thuế cho dân 50 năm. Dòng họ có 4 người được thờ làm Phúc thần của làng.

Từ đời Lại Quận Công Phạm Đình Kính, làng có 1 Tiến sỹ, 2 Cống sỹ, và hơn chục Giám sinh quốc tử giám, Chiêu văn quán. Trường tư do dòng họ Phạm đào tạo nhiều thế hệ trong vùng.

Phạm Đức Quảng (hay Phạm Phúc Quảng): một võ tướng có công trong đánh giặc, giữ yên biên cương phía Nam, lại có công chiêu dân, lập ấp ở vùng Ma Linh (sau đổi là Minh Linh, thuộc phía Bắc tỉnh Quảng Trị ngày nay).Trước làm Tán vị công thần, Đặc tiến phụ quốc Thượng tướng quân Cẩm phú hầu y vệ Đô chỉ huy sứ tư đô chỉ huy cơ quan phong tặng Đặc tiến kim tử vinh lộc đại phu Lễ bộ Tả thị lang Cẩm phú hầu. Ông là ông nội tiến sỹ Phạm Đình Kính.

Phạm Thuần Hậu: ông là cha của tiến sỹ Phạm Đình Kính. Ông làm thừa chính sứ Lạng Sơn, có công giúp dân khắc phục cảnh đồng chiêm chũng, mở trường khuyến khích việc học tập.Trước làm Quang tiến thân lộc đại phu, Trinh Nghĩa nam, tặng Cung hiển đại phu, sau tặng thêm Đặc tiến Lễ bộ Tả thị lang, Cẩm phú hầu, Kim tử vinh lộc đại phu, Hộ bộ Tả thị lang, Trinh Nghĩa hầu.

Phạm Đình Kính: Ông thờ hai vua Lê Dụ Tông, Lê Thuần Tông, làm quan đến Đặc tiến kim tử vinh lộc đại phu, trải qua Hữu thị lang bộ Binh, tả thị lang Bộ Lễ, tả thị lang Bộ Hộ, Đô ngự sử, Lễ bộ thượng thư, Hình bộ thượng thư, Binh bộ thượng thư, Nhập thị tham tụng kiêm Đông các Đại học sĩ, Nhập thị kinh diên. Khi về hưu được phong tước Vĩnh Lại Quận công, được tặng chức Thiếu bảo. Ông 2 lần đi sứ Nhà Thanh làm vẻ vang quốc thể, được vua Ung CHính ban biển vàng " Vạn Thế Vĩnh Lại" và 3 bộ sách quý. Ông cùng chánh sứ Phạm Khiêm Ích và phó sứ Nguyễn Huy NHuận có công lớn trong việc giữ gìn cương thổ quốc gia: đòi lại 120 dặm châu Thủy Vĩ và mỏ đồng Tụ Long. Mỏ này chiếm trữ lượng khoảng 70% đồng của Việt Nam, có ý nghĩa quan trọng trong tài chính và quân sự.

Phạm Thanh Thận (húy Tùy) là con trai cả Lại Quận Công, đỗ Hương Cống khoa Ất Tỵ (1725), làm tới Thiêm tri thị nội Tả binh phiên tả dụ đức Hương Phái Hầu, phong Đặc tiến kim tử vinh lộc đại phu, gia phong Dực bảo trung hưng linh phù tôn thần. Ông có con gái Tuệ Mẫn gả cho Nguyễn Bá Uông, con trai tiến sỹ Nguyễn Bá Lân, dòng họ Nguyễn Cổ Đô- Ba Vì.

Phạm Đôn Mẫn: đặc tiến kim tử vinh lộc đại phu tán ty Tuyên QUang sứ tán ty thừa chánh sứ tư tham chính nghị Huy Lĩnh Bá. Ông cùng 14 gia đình lên Cam Đường sứ Tuyên Quang (nay là Thị xã Cam Đường, tỉnh Lào Cai) để lập ấp mới và bảo vệ biên giới phía bắc.

Cháu trai Lại quận Công là Phạm Đình Tiến (một số tư liệu dịch là ĐÌnh Trùy, húy Thùy) Trì uy tướng quân Đô chỉ huy sứ đồng tri Tiến Lĩnh Hầu, gia phong Dực bảo trung hưng linh phù tôn thần.Ông giỏi binh pháp, tham gia dẹp loạn khởi nghĩa Vũ Đình Dung. Do dân phiêu tán,ruộng đồng bỏ hoang nhiều năm, năm Cảnh Hưng thứ 15 (Quý Mùi 1763) ông nhận chỉ của vua Lê Hiển Tông về quy tập dân chúng và đổi làng Hóp thành Làng Báo Đáp, nay là làng Báo Đáp, xã Hồng Quang, huyện Nam Trực, tỉnh Nam Định.

Họ Phạm (Quảng Trạch, Quảng Bình)[sửa | sửa mã nguồn]

Họ Phạm làng Cảnh Dương (nay xã Cảnh Dương, huyện Quảng Trạch, Quảng Bình, hình thành 1643. Thủy tổ Phạm Ông Chăm.

Phạm Chân sinh năm Giáp Tý (1804), năm Đinh Dậu (1837) đậu cử nhân, năm Mậu Tuất (1838) đậu Tiến sĩ. Phạm Chân được cử giữ chức Án Sát tỉnh Thanh Hóa, Án sát tỉnh Lạng Sơn, có công dẹp bọn giặc phỉ phương Bắc. Khi giặc Pháp đánh chiếm Nam Kỳ, Phạm Chân đã chiến đấu ngoan cường bảo vệ thành Biên Hòa - Gia Định. Khi thất thủ, không cam chịu rơi vào tay giặc, ông tuẫn tiết giữ tấm lòng trung, được triều đình nhà Nguyễn đưa vào thờ ở Trung Nghĩa đường.Con cháu của dòng họ này đã lưu giữ trọn vẹn bản gia phả bằng chữ Hán Nôm cổ và trong các gia đình từ đời thứ nhất đến đời thứ 14.

Họ Phạm Thanh Bình (Thanh Liêm, Hà Nam)[sửa | sửa mã nguồn]

Cụ khởi tổ là Phạm Bá Thượng (đầu thế kỷ 18), có thể xuất thân từ các dòng họ Phạm miền biển (có thể là Thái Bình, Thanh Hóa) [chưa tìm được nguồn dẫn]. Khởi nghiệp tại thôn Lợ, xã Tốt Khê, tổng Hòa Ngãi (nay là Tổ dân phố 3, Thị trấn Tân Thanh (trước năm 2020 là thôn Lã, xã Thanh Bình), huyện Thanh Liêm, Tỉnh Hà nam). Họ có 4 chi lớn, đến nay đã có đời thứ 10. Con cháu các đời sinh sống tập trung tại xã Thanh Bình (chủ yếu tại thôn Lã và thôn Đạt Hưng), một nhánh định cư tại nước Úc.

Nhân vật nổi bật[sửa | sửa mã nguồn]

Việt Nam[sửa | sửa mã nguồn]

Thời Hùng Vương[sửa | sửa mã nguồn]

Nhà nước Lâm Ấp (Champa)[sửa | sửa mã nguồn]

Thời Tiền Lý[sửa | sửa mã nguồn]

Nhà Ngô[sửa | sửa mã nguồn]

Nhà Đinh và Tiền Lê[sửa | sửa mã nguồn]

Nhà Lý[sửa | sửa mã nguồn]

  • Phạm Thị Ngà, thân mẫu vua Lý Công Uẩn [7]
  • Phạm Bỉnh Di (? - 1209): Tướng lĩnh thời Lý Cao Tông, là một trung thần của triều đình. Sau khi bị gian thần Phạm Du giết tại điện Kinh Tinh cùng con trai Phạm Phụ, loạn Quách Bốc cũng nổ ra, cùng với sự nổi dậy của nhiều sứ quân khác, triều đình nhà Lý đã suy lại càng suy vong, tạo điều kiện thuận lợi cho thế lực nhà Trần do Trần Lý và con trai Trần Tự Khánh dẫn đầu bắt đầu quá trình tiếm quyền và xây dựng triều đại của mình 15 năm sau.
  • Phạm Du (? - 1209): tướng lĩnh nhà Lý, là một gian thần, ưa thói xiểm nịnh, sau vì họa sắc dục đến nỗi mất mạng.
Danh tướng Phạm Ngũ Lão

Nhà Trần[sửa | sửa mã nguồn]

Nhà Hậu Lê, Lê Trung Hưng, Nhà Mạc[sửa | sửa mã nguồn]

  • Phạm Thị Ngọc Trần: Cung Từ Cao hoàng hậu, vợ vua Lê Lợi, thân mẫu vua Lê Thái Tông.[9][10]
  • Phạm Đôn Lễ: Hay còn gọi Trạng Chiếu. Quê quán làng Hải Triều, huyện Ngư Thiên, nay thuộc huyện Hưng Hà, Thái Bình. Trú quán xã Thanh Nhàn, huyện Kim Hoa, nay thuộc Sóc Sơn, Hà Nội. Ông đỗ Đệ Nhất giáp Tiến sĩ đệ nhất danh (Trạng nguyên) khoa Tân Sửu, niên hiệu Hồng Đức 12 (1948) đời Lê Thánh Tông. Từ thi Hương đến thi Đình ông đều đỗ đầu. Ông là trạng nguyên được đi học sớm nhất. Khi mất nhân dân tôn làm Phúc Thần.
  • Phạm Đốc: (1513-1558) tên thụy là Trung Nghi, ông là danh tướng thời Lê Trang Tông-Trịnh Kiểm. Quê ở Thổ sơn, Vĩnh Phúc, Thanh hóa (nay là thôn Thổ phụ, xã Vĩnh tiến, huyện Vĩnh lộc, tỉnh Thanh hóa). Ông làm quan tới chức Thái phó, tước Đức quận công. Khi mất ông được truy tặng Thái úy, tước Đức Quốc
  • Phạm Huy: (1470 - ?) là một tiến sĩ dưới thời vua Lê Thánh Tông, từng làm đến chức Công Bộ đô cấp.
  • Phạm Hưng Văn: ông là Tiến sỹ quê làng Động Hối, huyện Thanh Lan, phủ Tân Hưng (nay là thôn Đồng Lang, xã Đông Vinh, huyện Đông Hưng). Ông thi Đỗ Hoàng giáp khoa Ất Mùi niên hiệu Hồng Đức năm thứ 6 (1475) đời vua Lê Thánh Tông; khoa thi này là Đệ Nhất giáp cập đệ chỉ có một người, sau đến đệ Nhị giáp là ông. Sau khi thi đỗ, ông được bổ nhiệm vào Hàn lâm, thăng dần đến Đô ngự sử. Năm Đinh Tỵ (1497), được cử dẫn đầu đoàn sứ bộ Đại Việt sang nhà Mình (Trung Quốc). Khi trở về, ông cùng đi với hai đoàn sứ bộ nhà Minh, một đoàn sang viếng tang vua Lê Thánh Tông, một đoàn sang phong vương cho vua Lê Hiếu Tông. Phạm Văn Hưng cùng trao đổi xướng họa thơ văn với các nhân sĩ, trí thức Trung Quốc, được họ hết lời khen ngợi. Đi sứ về ông bị bệnh qua đời, chuyện ông bị chết sau khi đi sứ về có nhiều lời đồn đại, có người cho rằng "ông bị hại", thực hư chưa rõ, nhưng ông được vua Lê Hiến Tông truy phong Thượng thư Bộ hình, được làm phúc thần của làng.

Nhà Tây Sơn[sửa | sửa mã nguồn]

Nhà Nguyễn[sửa | sửa mã nguồn]

Hiện đại[sửa | sửa mã nguồn]

Giáo sư Trần Đại Nghĩa (Phạm Quang Lễ)

Lĩnh vực khác[sửa | sửa mã nguồn]

Nhạc sĩ Phạm Duy

Hoa hậu[sửa | sửa mã nguồn]

Trung Quốc[sửa | sửa mã nguồn]

Gồm cả họ Phạm 范 và họ Phạm 範.

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ (清)張玉書等編纂,漢語大詞典編纂處整理。康熙字典 標點整理本。上海:漢語大詞典出版社,2002年6月。ISBN 7-5432-0732-X。第852、994頁。
  2. ^ 漢語大字典編輯委員會。漢語大字典 第二版 九卷本,9卷。武漢:湖北長江出版集團 • 崇文書局;成都:四川出版集團 • 四川辭書出版社,2010年4月。 ISBN 978-7-5403-1744-7。第5135頁。
  3. ^ 谷衍奎。汉字源流字典。北京:语文出版社,2010年4月。ISBN 978-7-80184-972-4。第565页。
  4. ^ Nguyễn, Thành Luân (báo Đại Đoàn Kết). “Tìm về nguồn cội dòng tộc”.
  5. ^ a b c d e f g h i j k l m n Higham, C., 2014, Early Mainland Southeast Asia, Bangkok: River Books Co., Ltd., ISBN 9786167339443
  6. ^ Gia phả Ngô tộc
  7. ^ Lý Triều Thánh Mẫu Phạm Thị Ngà - thân mẫu vua Lý Công Uẩn
  8. ^ Phạm Sư Mạnh – nhà thơ – nhà ngoại giao – nhà quân sự
  9. ^ THÁI HẬU PHẠM THỊ NGỌC TRẦN – VỢ VUA LÊ THÁI TỔ NGUYỆN “TẾ THẦN” VÌ GIANG SƠN XÃ TẮC
  10. ^ Hoàng Thái hậu Phạm Thị Ngọc Trần – “Chúa cả trăm vị thần”
  11. ^ Ngôi đất tốt và giấc mộng kỳ lạ sinh dẫn đến bà hoàng hậu của vua Lê Thần Tông
  12. ^ Vị đại khoa thương yêu dân làng, được thờ làm phúc thần