Binh chủng Tăng-Thiết giáp, Quân đội Nhân dân Việt Nam

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Phù hiệu của Binh chủng Tăng - Thiết giáp Quân đội Nhân dân Việt Nam

Binh chủng Tăng - Thiết giáp Quân đội Nhân dân Việt Nam là một binh chủng trong tổ chức Quân đội Nhân dân Việt Nam, chịu trách nhiệm tác chiến đột kích trên bộ và đổ bộ (hải quân), được trang bị các loại xe tăng, xe thiết giáp, với hỏa lực mạnh, sức cơ động cao.

Ngày truyền thống: 5 tháng 10

Khẩu hiệu: "Đã ra quân là đánh thắng"

Lược sử[sửa | sửa mã nguồn]

Từ giữa năm 1955, Bộ Tổng Tư lệnh Quân đội Nhân dân Việt Nam đã tuyển chọn nhiều cán bộ chiến sĩ tập trung để đưa đi học bổ túc văn hóa tại Trường Văn hóa Quân đội, với mục đích tạo nguồn để đào tạo cán bộ sĩ quan cả về chỉ huy, tham mưu và các quân binh chủng kỹ thuật, trong đó có binh chủng thiết giáp.

Tháng 8 năm 1956, 2 đoàn cán bộ, chiến sĩ được tuyển chọn cử đi Trung Quốc để đào tạo về tăng - thiết giáp. Đoàn thứ nhất gồm 55 người, do ông Đào Huy Vũ làm đoàn trưởng, học về chỉ huy kỹ thuật và xe tăng-thiết giáp. Đoàn thứ hai có 147 người, học kỹ thuật vận hành và đảm bảo kỹ thuật xe[1]. Từ cuối tháng 7 năm 1959, các đoàn học viên lần lượt tập trung tại một doanh trại quân đội ở thành phố Quế Lâm (Quảng Tây, Trung Quốc). Tháng 8 năm 1959, gần 100 xe tăng T-34 đầu tiên được chuyển thuộc cho đoàn học viên xe tăng Việt Nam, đánh số từ 100 trở đi.

Cũng trong tháng 8 năm 1959, Bộ Quốc phòng quyết định xây dựng một căn cứ huấn luyện xe tăng, lấy mật danh là Công trường 92, tại khu vực núi Đanh thuộc xã Kim Long, huyện tam đảo, tỉnh Vĩnh phú (nay thuộc huyện Tam Dương, tỉnh Vĩnh Phúc)[2]. Ngày 2 tháng 9 năm 1959, Thiếu tướng Trần Văn Quang, Phó Tổng Tham mưu trưởng Quân đội Nhân dân Việt Nam sang Trung Quốc thăm đoàn học viên và thay mặt Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng ra Nghị định số 449/NĐ, quyết định thành lập trung đoàn xe tăng đầu tiên của Quân đội Nhân dân Việt Nam mang phiên hiệu 202[3][4]. Tuy nhiên, mãi 3 ngày sau, ngày 5 tháng 10 năm 1959, Bộ Quốc phòng mới ký quyết định thành lập một đơn vị thiết giáp cấp trung đoàn trực thuộc Bộ Tổng Tư lệnh, lấy phiên hiệu là Trung đoàn 202, mang mật danh H02, do Thiếu tá Đào Huy Vũ làm Trung đoàn trưởng, Thiếu tá Đặng Quang Long làm Chính ủy[1]. Ngày 5 tháng 10 về sau trở thành ngày truyền thống của Binh chủng Tăng - Thiết giáp Quân đội Nhân dân Việt Nam.

Sau khi thành lập, Đoàn H02 lần lượt được đưa về nước, làm nòng cốt để tiếp tục huấn luyện theo thực tế trong nước. Ngày 13 tháng 7 năm 1960, những chiếc xe tăng T-34 và pháo tự hành SU-76 và một số xe chuyên dụng đã được chuyên chở bằng tàu hỏa từ Trung Quốc về tới Việt Nam[2].

Cũng trong năm 1960, một số đoàn học viên khác cũng được gửi đi Liên Xô để được đào tạo nâng cao và học về loại T-54 hiện đại hơn. Tuy nhiên, do những bất đồng chính trị, từ cuối năm 1964, Việt Nam không gửi các đoàn học viên sang học tại nữa.[5]

Ngày 1 tháng 3 năm 1961, đại đội huấn luyện, mật danh C12, được thành lập để huấn luyện đào tạo cho Sư đoàn 308 một tiểu đoàn xe tăng với quân số 172 người, đào tạo cho Bộ 10 cán bộ, 150 thợ sửa chữa xe tăng, thiết giáp và 2 đại đội xe bọc thép với quân số 164 người.[6]

Cuối tháng 3 năm 1961, Việt Nam tiếp nhận giúp Lào 44 xe tăng lội nước PT-76. Một lớp tập huấn gồm 26 cán bộ, chiến sĩ được các chuyên gia Liên Xô hướng dẫn sử dụng và bảo dưỡng, để sau đó bàn giao và huấn luyện lại cho quân đội Pathet Lào.[6]

Ngày 29 tháng 2 năm 1962, Việt Nam tiếp nhận thêm một số trang bị mới bao gồm 19 xe PT-76, 11 xe T-54, 1 xe MTY-10, 4 xe dắt T-34 do Liên Xô viện trợ. Cuối năm 1963, Việt Nam tiếp nhận thêm 72 xe T-34, 11 xe T-54, 31 xe PT-76. Lúc này, tổng số xe tăng thiết giáp và các xe hỗ trợ của Việt Nam đã có là 164 chiếc các loại.[6]

Ngày 22 tháng 6 năm 1965, trung đoàn xe tăng thứ hai được thành lập trên cơ sở các học viên từ Liên Xô về cùng với những chiếc T-54 được viện trợ, mang phiên hiệu 203. Bộ Tư lệnh Thiết giáp cũng được thành lập. Trung tá Đào Huy Vũ, Trung đoàn trưởng Trung đoàn 202 được cử là Phó Tư lệnh, đảm nhận quyền Tư lệnh. Trung tá Lê Ngọc Quang được cử làm Chính ủy.

Tháng 2 năm 1968, lực lượng tăng thiết giáp Quân đội Nhân dân Việt Nam tham chiến lần đầu tiên tại Tà Mây - Làng Vây (đường 9 - Khe Sanh). Từ năm 1971 trở đi, các đơn vị xe tăng - thiết giáp dần phát triển, hình thành các đơn vị trực thuộc binh chủng và trực thuộc các quân khu, quân đoàn. Từ năm 1968 cho đến hết năm 1975, tăng thiết giáp đã tham gia chiến đấu hơn 200 trận, đặc biệt đã dẫn đầu 5 cánh quân giải phóng Sài Gòn trong chiến dịch Hồ Chí Minh. Đại đội trưởng đại đội xe tăng 4 Bùi Quang Thận đã cắm lá cờ chiến thắng trên nóc Dinh Độc Lập. Chính ủy Lữ đoàn xe tăng 203 Bùi Văn Tùng là người thay mặt Quân Giải phóng Miền Nam Việt Nam tiếp nhận sự đầu hàng của Tổng thống Dương Văn Minh ngày 30 tháng 4 năm 1975.

Ngày 20 tháng 10 năm 1976, Binh chủng Tăng Thiết giáp được Quốc hội và Chính phủ Việt Nam tuyên dương danh hiệu Đơn vị Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.

Chỉ huy, lãnh đạo binh chủng qua các thời kỳ[sửa | sửa mã nguồn]

Tư lệnh[sửa | sửa mã nguồn]

STT Họ tên Thời gian tại chức Cấp bậc tại nhiệm Chức vụ cuối cùng Ghi chú
Đào Huy Vũ 6.1965- 9.1971 Trung tá, Thượng tá Phó Tư lệnh, kiêm quyền Tư lệnh
1 Nguyễn Thế Lâm 10.1971- 11.1974 Đại tá, Thiếu tướng (1974) Tư lệnh chính thức đầu tiên
2 Đào Huy Vũ 12.1974-7.1980 Đại tá, Thiếu tướng (1979)
3 Lê Xuân Kiện 8.1980- 12.1989 Thiếu tướng
4 Trần Doãn Kỷ 6.1990- 11.1993 Thiếu tướng
5 Đoàn Sinh Hưởng 12.1993- 11.2002 Đại tá, Thiếu tướng (1999) Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân
6 Lê Xuân Tấu 12.2002- 5.2005 Đại tá, Thiếu tướng (2003) Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân
7 Vũ Bá Đăng 6.2005-4.2010 Đại tá, Thiếu tướng (2006)
8 Hoàng Trung Kiên 5.2010-nay Đại tá, Thiếu tướng (2010)
9 Nguyễn Khắc Nam 10.2013-nay Đại tá

Chính ủy, phó Tư lệnh chính trị[sửa | sửa mã nguồn]

STT Họ tên Thời gian tại chức Cấp bậc tại nhiệm Chức vụ cuối cùng Ghi chú
1 Lê Ngọc Quang 1965-1972 Trung tá, Thượng tá Chính ủy đầu tiên
2 Phạm Sinh 1972-? Đại tá
3 Bùi Quỳ Thiếu tướng
4 Hoàng Đăng Huệ Thiếu tướng
5 Ngô Văn Ny Thiếu tướng
6 Nguyễn Hữu Thìn ?- 2004 Thiếu tướng
7 Nguyễn Đức Khiển 2004-2009 Đại tá, Thiếu tướng (2006)
8 Nguyễn Đức Cường 2009-2012 Đại tá, Thiếu tướng (2010)
9 Nguyễn Thanh Hải 2012-nay Đại tá, Thiếu tướng (2012)

Tham mưu trưởng[sửa | sửa mã nguồn]

STT Họ tên Thời gian tại chức Cấp bậc tại nhiệm Chức vụ cuối cùng Ghi chú
Dương Đằng Giang Thiếu tá 1965-1967 Tham mưu phó, kiêm quyền Tham mưu trưởng
1 Dương Đằng Giang Trung tá 1967-1972 Tham mưu trưởng đầu tiên
Lê Xuân Tấu Đại tá 1993-2002 Tư lệnh Binh chủng Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân
Nguyễn Đình Tâm Đại tá, Thiếu tướng  ?-2010 Phó Tư lệnh Quân đoàn 4 Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân
Nguyễn Khắc Nam Thiếu tướng 2011-nay

Tổ chức hiện tại[sửa | sửa mã nguồn]

Cơ quan lãnh đạo[sửa | sửa mã nguồn]

Trụ sở Bộ Tư lệnh: Đường Phạm Văn Đồng, huyện Từ Liêm, Hà Nội

  • Tư lệnh: Thiếu tướng, Nguyễn Khắc Nam
  • chính ủy: Thiếu tướng, Nguyễn Thanh Hải

Các Cơ quan và Đơn vị trực thuộc[sửa | sửa mã nguồn]

Trang thiết bị[sửa | sửa mã nguồn]

Ảnh Xe Nguồn gốc Loại Phiên bản Số lượng hoạt động Chú thích
Xe tăng chiên đấu chủ lực - Tổng cộng khoảng 1550
T-55 skos RB.jpg
T-54/55  Liên Xô Tăng chiến đấu chủ lực T-54/55 T-55M3
~850
T-62 smokescreen.JPEG
T-62  Liên Xô Tăng chiến đấu chủ lực T-62 250
T-54A or Type 59 main battle tank at the Reunification Palace.jpg
Type-59 Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa Tăng chiến đấu chủ lực Type-59 ~350
Char T-34.jpg
T-34  Liên Xô Tăng chiến đấu chủ lực T-34 ~100 Chủ yếu dùng để huấn luyện
Xe tăng lội nước - Tổng cộng khoảng 750
PT-76 National Museum of the Great Patriotic War.jpg
PT-76  Liên Xô Xe tăng lội nước PT-76 ~300
PT-76 01.JPG
PT-85  CHDCND Triều Tiên Xe tăng lội nước PT-85 100
Type 63 tank - above.jpg
Type-63 Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa Xe tăng lội nước Type-63 150
Type 63 tank - above.jpg
Type-62 Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa Xe tăng lội nước Type-62 200
Xe chiến đấu bộ binh -Tổng cộng khoản 1200
BMP-1 03.jpg
BMP-1  Liên Xô Xe chiến đấu bộ binh BMP-1 600
BMP-2 military parade rehearsal.jpg
BMP-2  Liên Xô Xe chiến đấu bộ binh BMP-2 600
Xe thiết giáp chở quân - Tổng cộng khoảng 1295
BTR-40-latrun-2.jpg
BTR-40  Liên Xô Xe thiết giáp chở quân BTR-40 Chưa rõ
BTR-50-latrun-1-2.jpg
BTR-50  Liên Xô Xe thiết giáp chở quân BTR-50 800
Old Soviet tanks in Yuzhno Sakhalinsk.jpg
BTR-60  Liên Xô Xe thiết giáp chở quân BTR-60 500
BTR70 002.jpg
BTR-70  Liên Xô Xe thiết giáp chở quân BTR-70 150
Btr-80 in Serbia.jpg
BTR-80  Liên Xô Xe thiết giáp chở quân BTR-80 10-15
Vietnamese M113 in the Army Museum in Saigon, 2012-01.jpg
M-113 Cờ Hoa Kỳ Hoa Kỳ Xe thiết giáp chở quân M-113 ~200
BTR-152-TCM-20-hatzerim-2.jpg
BTR-152  Liên Xô Xe thiết giáp chở quân BRT-152 Chưa rõ
Xe thiết giáp trinh sát -Tổng cộng khoản 1080
PL MWP Brdm1.JPG
BRDM-1  Liên Xô Xe thiết giáp trinh sát BRDM-1 200
BRDM-2 on a military parade.JPEG
BRDM-2  Liên Xô Xe thiết giáp trinh sát BRDM-2 480
RAM2000vehicle.jpg
RAM-2000  Israel Xe thiết giáp trinh sát RAM-2000 100
Cadillac Gage Commando.JPEG
Cadillac Gage Commando Cờ Hoa Kỳ Hoa Kỳ Xe thiết giáp trinh sát Cadillac Gage Commando 300
Pháo mặt đất tự hành - Tổng cộng khoảng 240
Self-propelled artillery in Brest Fortress.jpg
SU-100  Liên Xô Pháo tự hành SU-100 100
2S1 Gvozdika.jpg
2S1 Gvozdika  Liên Xô Pháo mặt đất tự hành 2S1 Gvozdika 150
2S3 Akatsiya.JPEG
2S3 Akatsiya  Liên Xô Pháo mặt đất tự hành 2S3 Akatsiya 70
Pháo phòng không tự hành - Tổng cộng khoảng 300
ZSU-57-2 Hun 2010 02.jpg
ZSU-57-2  Liên Xô Pháo phòng không tự hành ZSU-57-2 200
ZSU-23-4-Camp-Pendleton.jpg
ZSU-23-4 Shilka  Liên Xô Pháo phòng không tự hành ZSU-23-4 Shilka 100

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ a ă Âm vang vết xích... H02
  2. ^ a ă Hồi ức "Công trường 92 ngày ấy" của Đại tá Dương Đằng Giang, nguyên phó trung đoàn trưởng đầu tiên Trung đoàn Tăng 202 (1959-1963), Tham mưu trưởng Binh chủng. "Theo vết xích xe tăng", Tập 2, Nhà xuất bản Hội nhà văn, 2004.
  3. ^ Hồi ức "Tôi trở thành chiến sĩ xe tăng như thế đấy!" của Đại tá Phùng Văn Minh, nguyên Phó Tham mưu trưởng Bộ Tư lệnh Tăng – Thiết giáp. "Theo vết xích xe tăng", Tập 1, Nhà xuất bản Hội nhà văn, 2002.
  4. ^ Theo Đại tá Dương Đằng Giang, nguyên Tham mưu trưởng Binh chủng thì phiên hiệu 202 chỉ là trùng lắp ngẫu nhiên với số học viên xe tăng. Theo ông thì do quy định tổ chức quân đội lúc đó, các sư đoàn bộ binh bắt đầu bằng số 3 và các đơn vị pháo (kể cả xe tăng) bắt đầu bằng số 2. (Hồi ức "Những ngày trứng nước" của Đại tá Dương Đằng Giang. "Theo vết xích xe tăng", Tập 1, Nhà xuất bản Hội nhà văn, 2002).
  5. ^ Hồi ức "Những kỷ niệm về trường tăng Tat-sơ-ken" của Đại tá Đinh Quang Tuệ, cựu học viên Tăng - Thiết giáp, khoá đầu tiên đào tạo tại Liên Xô (1960-1964). "Theo vết xích xe tăng", Tập 1, Nhà xuất bản Hội nhà văn, 2002.
  6. ^ a ă â "Biên niên sự kiện ngành kỹ thuật Tăng-Thiết giáp", Nhà xuất bản Quân đội Nhân dân, 1996.

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]