Suleiman I
Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
|
||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||
Suleiman I, Hoàng thượng, Người dẫn dắt tín đồ và Người kế vị đấng Tiên tri của Vạn vật (Tiếng Thổ Nhĩ Kỳ Ottoman: سليمان Sulaymān, tiếng Thổ Nhĩ Kỳ: I. Süleyman; được biết phổ biến nhất với cái tên Kanuni Sultan Süleyman) (6 tháng 11 năm 1494 – 5/6/7 tháng 9 năm 1566) là vị sultan thứ 10 và trị vì lâu dài nhất (46 năm) của đế quốc Ottoman, từ năm 1520 đến khi qua đời năm 1566. Ông được biết đến ở phương Tây với cái tên Suleiman Đại đế[1][2] (Muhteşem Süleyman trong tiếng Thổ Nhĩ Kỳ, Suleimanus Magnificus trong tiếng Latinh) và Nhà làm luật (Kanuni trong tiếng Thổ; tiếng Ả Rập:القانونى, al‐Qānūnī), cái tên bắt nguồn từ công cuộc tái xây dựng hệ thống pháp luật Ottoman của ông.
Suleiman đã trở thành một vị vua nổi bật của châu Âu vào thế kỷ XVI, là người làm nên sự tột đỉnh vinh quang của nền quân sự, chính trị và kinh tế của đế quốc Ottoman. Ông chinh phạt các vùng đất Thiên Chúa giáo như Beograd, Ródos và phần lớn Hungary, cho đến khi vây hãm Viên thất bại năm 1529. Ông còn thôn tính phần lớn vùng Trung Đông trong các cuộc chiến với nhà Safavid của Ba Tư, và một phần lãnh thổ rộng lớn ở Bắc Phi xa về phía Tây đến tận Algérie. Dưới triều đại ông, hải quân Ottoman làm chủ phần lớn các vùng biển từ Địa Trung Hải tới Biển Đỏ và Vịnh Ba Tư.[3]
Suleiman đích thân cải tổ lại luật pháp về xã hội, giáo dục, thuế má và hình phạt đối với kẻ phạm tội. Bộ luật của ông (được gọi là Kanuns) được chính quyền Ottoman áp dụng trong nhiều thế kỷ sau đó. Không những là một thi sĩ và một thợ kim hoàn; ông còn là một nhà bảo trợ lớn của nền nghệ thuật, chính ông đã góp phần quan trọng trong việc tạo nên một thời kì vàng son của nền mỹ thuật, văn học và kiến trúc của đế quốc Ottoman.[4] Suleiman nói được 4 thứ tiếng: Ba Tư, Ả Rập, Serbia và Chagatay (nguồn gốc cổ nhất của tiếng Thổ Nhĩ Kỳ)
Suleiman đã phá vỡ truyền thống vốn có của đế quốc khi ông cưới Roxelana, một cô gái trong hậu cung, cô được phong làm Hürrem Sultan; những âm mưu trong triều và quyền lực lớn khiến cho cô trở nên nổi danh. Con trai của Suleiman và Roxelana là Selim II, người kế vị Suleiman năm 1566, khi ông qua đời sau 46 trị vì.
Mục lục |
[sửa] Thiếu thời
Suleiman ra đời khoảng ngày 6 tháng 11 năm 1494 tại Trabzon dọc theo bờ biển Hắc Hải. Mẹ ông là Hoàng thái hậu Ayşe Hafsa Sultan hay Hafsa Hatun Sultan, qua đời năm 1534.[5] Khi Suleiman lên 7 tuổi, ông được học về khoa học, lịch sử, ngữ văn, thần học và sách lược quân sự trong các phòng học ở cung điện Topkapı tại Constantinopolis. Suleiman kết bạn với Ibrahim, một nô lệ về sau trở thành Tể tướng.[6] Năm 17 tuổi, Suleiman được cử đi làm quan Tổng trấn Kaffa (Theodosia) rồi Sarukhan (Manisa), và sống tại Erdine trong một thời gian ngắn.[7] Sau khi vua cha Selim I qua đời, Suleiman về Constantinopolis và lên ngôi, trở thành vị hoàng đế thứ 10 của đế quốc Ottoman. Sứ thần Venezia là Bartolomeo Contarini đã miêu tả về ông:
| “ |
Vị vua mới đã 25 tuổi, cao, nhưng rắn rỏi, và thanh tú. Chiếc cổ ông hơi cao, khuôn mặt gầy gò với chiếc mũi diều hâu. Ông có chút ria mép và một bộ râu quai nón hẹp; tuy thế mà khuôn mặt ông rất dễ nhìn, mặc dù da ông gần như tái nhợt. Ông được tung hô là một đức vua uyên bác, ưa chuộng nền học vấn, và cả triều thần đều hy vọng ông sẽ là một minh quân. Khăn quấn trên đầu ông phải nói là rất to lớn. |
” |
Nhiều sử gia cho rằng thuở nhỏ Suleiman thán phục Alexandros Đại đế.[8][9] Sau này, ông đã noi gương sự nghiệp lẫy lừng của Alexandros bằng những cuộc chinh phạt ở châu Á, châu Âu và cả châu Phi.
[sửa] Mở mang bờ cõi
[sửa] Chiến tranh ở châu Âu
Sau khi lên ngôi, Suleiman bắt đầu một loạt cuộc chinh phạt, bao gồm việc dẹp cuộc nổi loạn của quan Tổng trấn Damacus do Ottoman lập nên năm 1521. Ban đầu, ông quyết định chiếm Beograd từ Vương quốc Hungary. Trước kia, ông cố Suleiman là Mehmed II từng tiến đánh Beograd, nhưng đại bại. Việc đánh chiếm Beograd có ý nghĩa rất quan trọng trong công cuộc chinh phạt Hungary, thế lực mạnh cuối cùng ở vùng Balkan còn đối địch với đế quốc Ottoman sau khi các nước Đông La Mã (Byzantine), Bulgaria và Serbia bị tiêu diệt. Năm 1521, Suleiman bắt đầu xâm lược Hungary và lệnh cho hải quân Ottoman vây hãm Beograd. Pháo binh Ottoman từ một hòn đảo trên sông sông Donau ngày đêm nã pháo dữ dội vào thành phố. Cuộc chiến đấu rõ ràng là không cân sức: trong khi quân Ottoman thì có quân số đông đảo và hoả lực rõ ràng trội hơn quá nhiều thì quân thủ thành chỉ có 700 người, đồng thời họ còn không nhận được tiếp viện từ Hungary. Cuối cùng Beograd rơi vào tay quân Ottoman vào ngày 21 tháng 8 năm 1521.[10]
Tin tức về sự thất thủ của Beograd - một thành lũy quan trọng của thế lực Thiên Chúa giáo - nhanh chóng lan khắp châu Âu. Một sứ thần của đế quốc La Mã Thần thánh tại Constantinopolis đã viết:
| “ | Việc Beograd bị quân Ottoman chiếm là ngọn nguồn của mọi bi kịch xảy ra với Hungary sau đó. Nó dẫn đến cái chết của vua Lajos, đến việc Buda thất thủ, việc Transylvania bị chiếm đóng, sự hủy diệt của một vương quốc phồn thịnh và nỗi sợ hãi của các quốc gia lân cận rằng họ có thể cũng sẽ chịu một số phận tương tự… | ” |
Con đường tiến vào Hungary và Áo rộng mở, nhưng Suleiman lại chuyển tầm nhìn sang đảo Ródos ở miền đông Địa Trung Hải, nơi hoạt động của các Hiệp sĩ Cứu tế, hoạt động như cướp biển của họ gần Tiểu Á và vùng Levant đã là một vấn đề nhức nhối đới với người Ottoman trong nhiều năm. Mùa hè năm 1522, thấy mình có khả năng lãnh đạo hải quân mà ông thừa hưởng từ cha, Suleiman phái một hạm đội gồm 400 chiến thuyền, phần mình thì dẫn 10 vạn quân vượt Tiểu Á để đến vùng đối diện đảo Ródos.[11] Sau 5 tháng vây hãm với nhiều trấn đánh khốc liệt, Ródos đầu hàng. Các Hiệp sĩ đảo Ródos được Suleiman cho phép rút lui yên bình khỏi Ródos. Họ thiết lập một căn cứ mới ở đảo Malta sau đó.
Thấy quan hệ giữa Hungary và đế quốc Ottoman trở nên xấu hơn, Suleiman tiếp tục chiến dịch ở Đông Âu và vào ngày 29 tháng 8 năm 1526, ông đánh tan liên quân Tiệp - Hung[12] do Lajos II của Hungary (1506 – 26) chỉ huy trong trận Mohács, bản thân Lajos rơi xuống sông chết đuối khi rút chạy. Thảm bại Mohács cùng là cái chết của Lajos khiến cho sức kháng cự của Hungary nhanh chóng sụp đổ; và đế quốc Ottoman trở thành một thế lực thống trị tại Đông Âu.[13] Theo sử sách, khi trông thấy thi thể bất động của Lajos, Suleiman đã tỏ thái độ thương cảm với ông vua xấu số:[14][15]
- “Ta vốn đem quân đội đến để chống lại hắn; nhưng ta không hề có ý muốn kết liễu cuộc đời của hắn trong khi hắn chỉ vừa mới cảm nhận được hương vị ngọt ngào của cuộc sống và của địa vị Hoàng tộc.”
Tuy nhiên, cùng lúc đó Đại công tước Áo là Ferdinand, em hoàng đế Karl V của đế quốc La Mã Thần thánh, cũng được lập làm vua Hungary. Ferdinand là chồng của Anna Jagellonica, chị gái Lajos II, và một hiệp ước trước đó đã quy định nếu Lajos chết mà không có con nối dõi thì Ferdinand làm vua Hungary.[16] Ferdinand cũng nhận được sự ủng hộ của một bộ phận quý tộc Hungary, trong khi đó một bộ phận khác vẫn trung thành với János Szapolyai, người được Suleiman ủng hộ nhưng các thế lực Thiên Chúa giáo châu Âu không công nhận. Hai vua Hungary động binh đánh nhau nhiều lần. Karl V cùng Ferdinand đã tấn công Hungary, chiếm lấy Buda. Suleiman I trả đũa bằng việc xua đại quân vượt thung lũng sông Donau (1529), lấy lại Buda, chiếm Estergon ở Hungary và sau đó tràn vào lãnh thổ Áo. Nhiều thành phố và thị trấn ở Áo bị quân Ottoman tàn phá và xâm chiếm. Mùa thu năm 1529, Suleiman cho quân vây hãm Viên. Đó là chiến dịch quân sự tham vọng nhất của đế quốc Ottoman thời đó và cũng đánh dấu điểm xa nhất mà thế lực này vươn tới Trung Âu. Nhưng rồi, chỉ với một đạo quân thủ thành chừng 16 nghìn người[17] người Áo khiến Suleiman nếm phải thất bại đầu tiên, và cũng từ đó gieo mối hận thù dai dẵng giữa hai nước, tồn tại mãi cho tới tận đầu thế kỷ XX.[18] Sau đó, vào năm 1532 Suleiman cũng thử tấn công Viên lần thứ hai nhưng cũng không thành. Nguyên do của hai lần thất bại một phần lớn là vì thời tiết xấu nên quân đội Ottoman không thể đem đầy đủ thiết bị công thành cần thiết đến chiến trường[19].
Năm 1540, con vua János Szapolyai là János II Zsigmond Szapolyai lên ngôi ở Hungary. Được tin, Ferdinand cũng đòi thừa kế vương vị Hungary và nhân cơ hội tình hình chính trị Hungary vẫn chưa ổn định sau việc chuyển giao giữa hai đời vua, năm 1541 Ferdinand và anh là Karl V xua quân tấn công Buda. Suleiman phản công và nhanh chóng đánh đuổi được quân của Ferdinand, đế quốc La Mã Thần thánh lại để mất thêm nhiều thành trì khác[20] và họ chỉ còn nắm giữ được miền bắc Hungary. Kết quả là Ferdinand và Karl buộc phải ký một hiệp ước 5 năm với đế quốc Ottoman, theo đó Ferdinand từ bỏ ngôi vua Hungary và phải triều cống hàng năm cho sultan, với tư cách là một lãnh chúa trên lãnh thổ Hungary. Ngoài ra trong hiệp ước còn có điều khoản quy định nhà Ottoman không công nhận Karl là “Hoàng đế” mà chỉ là “Vua Tây Ban Nha”, còn Suleiman I mới là người danh chính ngôn thuận giữ tước hiệu cao quý “Hoàng đế của đế quốc La Mã” (Kayser i Rum).[21]
Với việc các kẻ thù Âu châu liên tiếp bị đánh bại, đế quốc Ottoman nhanh chóng trở thành một thế lực đáng sợ trên bức tranh chính trị châu Âu.
[sửa] Chiến tranh Ottoman - Safavid
Sau khi vua Suleiman I kí Hiệp ước Constantinopolis với các kẻ thù châu Âu thì ông nhanh chóng chuyển chú ý của mình sang Ba Tư, do nhà Safavid thuộc hệ phái Shia trị vì. Có hai nguyên nhân trực tiếp châm ngòi cho cuộc chiến tranh Ottoman - Safavid. Thứ nhất, shah Tahmasp I (1524 - 76) sai người ám sát Tổng trấn Bagdad - một người thân Ottoman - và thay thế bằng một nhân vật thân Ba Tư. Thứ hai, Tổng trấn Bitlits làm phản và chạy về phe Ba Tư.[22] Ngay lập tức, năm 1533, Suleiman hạ lệnh cho quan Tể tướng Ibrahim Pasha xua quân tấn công Bitlits và sau đó lấy luôn cả Tabriz mà không gặp phải bất cứ sự kháng cự đáng kể nào. Sang năm sau, Suleiman hội quân với Ibrahim và đánh thẳng vào lãnh thổ Ba Tư, tuy nhiên Tahmasp không giao chiến trực diện với Suleiman mà áp dụng chiến thuật rút lui bảo toàn lực lượng, đồng thời cho quân quấy nhiễu các cánh quân Ottoman khiến cho cuộc tiến quân trở nên rất khó khăn.[23] Cuối cùng, năm 1535, thành Bagdad cũng đầu hàng và thừa nhận Suleiman I là lãnh tụ tối cao của thế giới Hồi giáo, truyền nhân của các khalip nhà Abbasid.[24]
Với quyết tâm đánh dứt điểm Ba Tư, Suleiman khởi xướng chiến dịch Ba Tư thứ nhì (1548 - 1549). Một lần nữa, Tahmasp lại áp dụng chiến thuật rút lui và quấy nhiễu, khiến quân đội Ottoman phải trải qua một mùa đông khó khăn tại dãy Caucasus.[23] Suleiman buộc phải bỏ dở chiến dịch nhưng ông đã giành được (dù là tạm thời) các vùng đất Tabriz, Azerbaijan thuộc Iran, Van và một phần Gruzia.[25] Năm 1549, Suleiman I ca khúc khải hoàn trở về Constantinopolis.
Đến năm 1553 Suleiman lại khởi xướng chiến dịch Ba Tư. Vốn đã mất Erzurum về tay con trai Tahmasp, Suleiman nhanh chóng phản công, đoạt lại Erzurum rồi vượt qua sông Euphrates và tàn phá một phần lãnh thổ Ba Tư. Shah Tahmasp I lại tiếp tục chiến thuật như trước và kết quả là chiến cuộc trở nên dằng co. Cuối cùng hai bên ký Hiệp ước Amasya (1555), trong đó Suleiman đồng ý trả lại Tabriz nhưng được giữ toàn bộ miền đông Tiểu Á, Lưỡng Hà, thành phố Bagdad và một phần duyên hải Vịnh Ba Tư.[26]. Ngoài ra Ba Tư và Ottoman cũng cam kết sẽ không bao giờ tấn công nhau nữa.[27]
[sửa] Các chiến dịch ở Ấn Độ Dương và Ấn Độ
Ở Ấn Độ Dương, Suleiman phát động vài chiến dịch nhằm đánh đuổi người Bồ Đào Nha ra khỏi khu vực này và thiết lập lại con đường giao thương với Ấn Độ. Năm 1538 quân Ottoman chiếm Aden và Yemen để biến nơi đây thành bàn đạp cho những cuộc đột kích vào các thuộc địa Bồ Đào Nha ở bờ biển phía Tây Ấn Độ.[28] Trên đường đến Ấn Độ, hải quân Ottoman bị Bồ Đào Nha đánh bại trong cuộc vây hãm Diu vào tháng 9 năm 1538, nhưng sau đó họ rút về cố thủ tại Aden và củng cố hệ thống phòng ngự của họ tại đây với 100 khẩu pháo.[28][29] Từ căn cứ này, Sulayman Pasha làm chủ toàn xứ Yemen, đồng thời chiếm giữ Sa'na.[28] Tuy nhiên sau đó người dân Aden nổi dậy chống lại đế quốc Ottoman và cầu cứu kẻ thù của họ - Bồ Đào Nha, vì vậy người Bồ lại kiểm soát thành phố này cho đến khi nó bị Piri Reis chiếm lấy trong cuộc xâm chiếm Aden (1548).
Việc nắm vững quyền kiểm soát khu vực Biển Đỏ đã giúp Suleiman I phần nào giành được quyền khống chế con đường giao thương với Ấn Độ từ tay người Bồ Đào Nha và duy trì mối quan hệ giao thương ở mức độ đáng kể với Ấn Độ trong suốt thế kỷ XVI.[30]
Năm 1564, sứ thần của xứ Aceh (Indonesia ngày nay) đến Ottoman và thỉnh cầu Suleiman giúp đỡ họ trong cuộc kháng chiến chống Bồ Đào Nha. Suleiman đã nhận lời và phát động Cuộc viễn chinh của Ottoman vào Aceh, việc này đã cung cấp sự ủng hộ về quân sự rất đáng kể cho những người Aceh.[31]
[sửa] Chiến tranh ở Bắc Phi và Địa Trung Hải
Trong khi đang dốc sức củng cố những vùng đất mới chiếm được, Suleiman nhận được hung tin: thành Koroni ở Morea (Peloponnese hiện nay) bị mất vào tay của Andrea Doria, một Đô đốc Hải quân của hoàng đế Karl V. Năm 1535, Karl V đoạt lại Tunis, một thành trì quan trọng của quân Ottoman. Năm 1536 chiến tranh với Cộng hòa Venezia nổ ra khiến Suleiman I phải chấp nhận liên minh với François I của Pháp nhằm cùng chống lại Karl V.[22] Tất cả những sự kiện trên đều khiến Suleiman tỏ ra lo lắng về sự hiện diện của hải quân Tây Ban Nha trên biển Địa Trung Hải. Ông xem đó là dấu hiệu cho thấy Karl muốn tranh đoạt quyền thống trị Địa Trung Hải với đế quốc Ottoman. Suleiman cũng nhận thấy rằng hải quân Ottoman cần phải được tăng cường mạnh mẽ hơn nữa để đảm bảo ưu thế của người Thổ tại khu vực này, vì vậy, ông bổ nhiệm Khair ad Din (còn được biết đến với cái tên Barbarossa Hayreddin Pasha) làm tổng Đô đốc Hải quân Ottoman. Barbarossa nhanh chóng tiến hành việc tăng cường và xây dựng hạm đội Ottoman, đến mức khiến cho hạm đội này có số lượng ngang bằng với tất cả các nước Địa Trung Hải. Năm 1538, Barbarossa Hayreddin đánh tan tác hải quân Tây Ban Nha trong trận Preveza lừng danh. Các chiến thắng Preveza (1538) và Djerba (1565) sau đó khiến cho người Thổ vẫn duy trì quyền thống trị Địa Trung Hải suốt 33 năm cho đến khi diễn ra trận Lepanto năm 1571.
Phía đông Ma Rốc và một phần lãnh thổ Bắc Phi bị sát nhập vào bản đồ Ottoman. Các quốc gia người Barbary tại Tripolitania, Tunisia, và Algérie trở thành các tỉnh tự trị của đế quốc, đóng vai trò như một tiền đồn trong cuộc chiến chống Karl V - kẻ đã thất bại trong âm mưu trục quân Thổ ra khỏi Tunisia năm 1541.[32] Những hoạt động của Cướp biển người Barbary tại Bắc Phi cũng được xem là một phần trong cuộc chiến chống lại hải quân Tây Ban Nha. Các hoạt động bành trướng của Suleiman I cũng giúp cho hải quân Ottoman thống trị Địa Trung Hải trong một thời gian ngắn. Thậm chí, họ còn kiểm soát cả Biển Đỏ và Vịnh Ba Tư cho đến khi bị đế quốc Bồ Đào Nha đánh bại. Quân Bồ Đào Nha đã đánh chiếm Ormus (nằm trên Vịnh Hormuz) năm 1515 và tiếp tục tranh giành Aden (ngày nay là Yemen) với Suleiman.
Năm 1542, để chống lại kẻ thù chung là nhà Habsburg, François đã nối lại liên minh Ottoman - Pháp. Năm 1543, Suleiman I hạ lệnh cho hải quân của Hayreddin Barbarossa dẫn 100 chiến thuyền galley phối hợp với hải quân Pháp ở Tây Địa Trung Hải[33]. Barbarossa trước tiên đem quân đánh phá bờ biển của Naples và đảo Sicilia, trong khi đó François I thì biến cảng Toulon thành một căn cứ của hải quân Ottoman trên đất Pháp. Tiếp sau đó liên quân Ottoman - Pháp phối hợp đánh chiếm Nice - một thành phố của đế quốc La Mã Thần thánh. Nhưng đến năm 1544 liên minh giữa François I và Suleiman I tạm thời chấm dứt do François đã ký hòa ước với đế quốc La Mã Thần thánh.
Sau khi mất Ródos, đảo Malta trở thành căn cứ mới của các Hiệp sĩ Cứu tế. Tại đây họ tiếp tục phát động những cuộc tấn công chống lại lực lượng hải quân Hồi giáo và điều này khiến cho người Thổ nổi giận. Vì vậy, năm 1565, Suleiman I phát động chiến dịch chinh phạt Malta nhằm loại trừ vĩnh viễn mối họa từ các Hiệp sĩ Cứu tế. Trong suốt gần 4 tháng (18-5 đến 8-9-1565) hải quân Ottoman do đô đốc Turgut Reis chỉ huy đã vây hãm và tàn phá đảo này. Tình hình lặp lại gần giống như trận thắng của quân Ottoman ở đảo Ródos trước kia khi hơn một nửa các hiệp sĩ tử trận tại Malta và gần như toàn bộ các pháo đài trên đảo bị phá hủy. Nhưng, Turgut Reis qua đời trong cuộc vây hãm và đến phút cuối hải quân Ottoman bị các hiệp sĩ và quân tiếp viện từ Tây Ban Nha đánh cho tan tác, phải rút khỏi Malta với con số thương vong tới 3 vạn binh sĩ[34].
[sửa] Đối nội
Trong khi ở phương Tây, ông được gọi là Suleiman Đại đế thì thần dân Thổ Nhĩ Kỳ gọi ông là Kanuni Suleiman hay Nhà làm luật. Nhà sử học Lord Kinross nhận định:
| “ |
Suleiman không chỉ là một nhà cầm quân tài ba, một vị vua giỏi cầm đao kiếm như cha và ông cố của mình. Ông khác với họ ở chỗ ông còn là một vị vua giỏi cầm viết. Ông là một nhà làm luật vĩ đại, trong mắt của thần dân ông là một bậc đế vương có tâm hồn cao thượng và là một biểu tượng cao cả của công lý. |
” |
Thật vậy, trong thời kỳ trị vì của mình Suleiman I đã thực hiện một cuộc cải cách mạnh mẽ về luật pháp. Tất nhiên, những phần mà Suleiman có thể cải tổ được chỉ là phần Kanuns bao gồm những vấn đề như hình pháp, ruộng đất và thuế; và Thánh luật (Shari'ah) thì theo truyền thống Hồi giáo, Suleiman cũng không thể động tới được. Cụ thể, Suleiman đã tập hợp tất cả những phán quyết và ý kiến của chín vua đời trước, loại bỏ các phần trùng lặp và những chỉnh sửa những điều mâu thuẫn, đồng thời cũng khéo léo tránh động chạm đến những điều luật tối thượng của Hồi giáo.[35] Cuối cùng, một bộ luật mới của đế quốc Ottoman mang tên là “Kanun-i Osmani” (Luật Ottoman) ra đời và nó đã tồn tại suốt hơn ba thế kỷ[36].
Trong bộ luật của mình, Suleiman đặc biệt chú ý cải thiện đời sống của các rayah (người bình dân), nhất là những rayah theo Thiên Chúa giáo đang phải làm việc trên lãnh địa của các Siphahi. Phần Kanune Rayah, hay “Luật Rayah” của ông đã điều chỉnh lại các khoản thuế đánh lên các rayah đồng thời cải thiện địa vị xã hội của họ. Theo luật của Suleiman I, các rayah này được đối xử tốt hơn trước rất nhiều, đến mức nhiều nông nô ở châu Âu đã sang Thổ Nhĩ Kỳ sống để được làm rayah. Đồng thời Suleiman cũng bảo vệ những người dân theo Do Thái giáo. Khoảng cuối năm 1553 hay 1554, theo sự đề nghị của bác sĩ và nha sĩ Moses Hamon, một người Tây Ban Nha theo Do Thái giáo được vua sủng ái, Suleiman đã ra chiếu chỉ tố cáo những tin đồn rằng việc người theo đạo Do Thái hay hiến tế người sống là những tin đồn vô căn cứ[37]. Đồng thời, Suleiman ban hành những luật lệ mới về hình pháp, quy định mức tiền phạt đối với một số tội đặc biệt, đồng thời bãi bỏ tử hình và hình phạt chặt tứ chi đối với một số tội khác. Suleiman cũng tiến hành cải cách thuế vụ, đánh thuế trên nhiều sản phẩm đa dạng ví dụ như lương thực, gia súc, mỏ, lợi nhuận từ các hoạt động giao dịch… Đặc biệt những quan chức phạm tội sẽ bị nhà vua tịch thu tài sản và ruộng đất.
Giáo dục cũng là một lãnh vực quan trọng mà Suleiman rất quan tâm. Thời đó, các trường học đều do các thánh đường Hồi giáo tài trợ, nhờ đó các được miễn giảm phí khá nhiều so với các trường học châu Âu cùng thời.[38] Tại thủ đô Constantinopolis, Suleiman cho xây dựng thêm nhiều mekteb (trường tiểu học) dạy trẻ em viết, đọc và giáo lý Hồi giáo. Sau đó, các học sinh sẽ chọn vào học một trong tám Medrese (trường cao đẳng), nơi đó chúng sẽ được dạy các môn ngữ pháp, siêu hình, triết học, thiên văn và thuật chiêm tinh. Ở các medrese cấp cao hơn (trường đại học), những người tốt nghiệp sẽ trở thành các imam (tu sĩ Hồi giáo) hoặc thành các thầy giáo. Các trung tâm giáo dục thường được xây dựng xung quanh các sân nhỏ của các thánh đường Hồi giáo, ngoài ra còn những công trình khác như thư viện, căn tin trường học và phòng ăn tu viện, đài phun nước, nhà bếp và bệnh viện nhằm phục vụ cho các tầng lớp nhân dân.
[sửa] Thành tựu văn hóa
Dưới sự bảo trợ của Suleiman I, việc mở mang văn hoá Ottoman phát triển cực thịnh. Hàng trăm người ở tầng lớp thượng lưu có văn hoá (được gọi là Ehl-i Hiref, “Thiên tài đoàn thể”) được mời đến cung điện Topkapı, nơi ở của hoàng tộc. Sau khi học nghề, các hoạ sĩ và thợ thủ công có thể làm chức quan phù hợp với lĩnh vực của họ, và mỗi năm được trả lương theo hàng quý. Các sổ ghi lương là bằng chứng cho sự phóng khoáng của Suleiman, nhiều văn kiện từ năm 1526 liệt kê đến 40 người thượng lưu với trên 600 thành viên trong “Thiên tài đoàn thể”. Hội này đã lôi cuốn những thợ thủ công giỏi trên toàn quốc đến chầu vua, không kể họ là người Hồi giáo hay người các vùng bị quân Ottoman chinh phạt ở châu Âu, kết quả là ba nền văn hoá Hồi giáo, Thổ Nhĩ Kỳ và châu Âu được hoà hợp với nhau.[39] Những thợ thủ công trong triều bao gồm họa sĩ, người đóng sách, người làm đồ da lông thú và thợ kim hoàn. Khác với các bậc tổ phụ chỉ đề cao văn hoá Ba Tư (vua cha Selim I từng làm thơ bằng tiếng Ba Tư), triều đình Suleiman ra sức phát triển nền văn hoá riêng của nước nhà.[40]
Bản thân Suleiman là một nhà thơ lớn, viết thơ tiếng Ba Tư và Thổ dưới bút danh Muhibbi (người yêu quý). Một số câu thơ của ông trở thành tục ngữ Thổ Nhĩ Kỳ, nổi tiếng nhất là “Everyone aims at the same meaning, but many are the versions of the story”. Năm 1543, khi con trai nhỏ của ông là Mehmed qua đời, Suleiman sáng tác một bản dùng chữ cái hoa để ghi năm làm cảm động lòng người:
Ngoài Suleiman, nhiều nhà thơ lớn như Fuzuli và Baki đã góp phần bổ sung cho kho tàng văn chương Ottoman. Sử gia nghiên cứu về văn chương, E. J. W. Gibb cho rằng “thơ văn thế giới, và cả Thổ Nhĩ Kỳ không lúc nào phát triển mạnh mẽ như ở thời vua này”.[41] Bài thơ nổi tiếng nhất của Suleiman:[43]
The people think of wealth and power as the greatest fate, But in this world a spell of health is the best state. What men call sovereignty is a worldly strife and constant war; Worship of God is the highest throne, the happiest of all estates. (bản Anh ngữ)
Suleiman cũng nổi tiếng vì đã đỡ đầu việc xây dựng một loạt các công trình kiến trúc của đế quốc. Để biến Constantinopolis thành trung tâm của nền văn minh Hồi giáo, Suleiman đã khởi xướng một loạt dự án xây dựng các cây cầu, thánh đường Hồi giáo, cung điện và một số công trình phục vụ việc từ thiện và xã hội. Công trình lớn nhất trong số đó được kiến trúc sư trưởng Mimar Sinan - người đã đưa kiến trúc Ottoman lên tới thời hoàng kim - xây dựng. Sinan đã xây 300 công trình kiến trúc trên khắc đế quốc, kể cả 2 tuyệt tác của ông là thánh đường Süleymaniye và Selimiye — được xây dựng ở Edirne dưới thời người con trai cũng là người kế vị ông, Selim II. Suleiman cũng tu sửa thánh đường Masjid Qubbat As-Sakhrah ở Jerusalem và những bức tường thành phố Jerusalem (nay còn tồn tại ở thành phố cổ Jerusalem), trùng tu thánh đường Kaaba ở Mecca, và xây dựng một phức hợp công trình ở Damascus.[44]
[sửa] Đời tư
[sửa] Hürrem Sultan
Suleiman I cũng nổi tiếng với chuyện tình giữa ông và Roxelana (1505 - 1558), một cung phi người gốc Rutheni (nay nằm trên lãnh thổ miền tây Ukraina). Cái tên Roxelana do những nhà ngoại giao Tây Âu đặt ra, bắt nguồn từ chữ Russelazie, ám chỉ nguồn gốc Slavơ của bà[45]. Roxelana nguyên là con của một giáo phụ Chính thống giáo ở Ukraina, bị bắt và nuôi dưỡng như một cung nữ của Suleiman. Bà nhanh chóng giành được sự sủng ái của Suleiman và trở thành chính cung hoàng hậu của ông, một điều chưa từng xảy ra suốt 2 thế kỷ trước đó[26]. Thậm chí Suleiman còn cho phép Roxelana ở lại trong hoàng cung suốt cả đời, trong khi đó theo truyền thống Ottoman là khi Thái tử đến tuổi trưởng thành và được giao cai quản một địa phương thì người mẹ phải tháp tùng theo anh ta và chỉ được về cung khi thái tử lên kế ngôi.[46].
Suleiman đã từng làm một bài thơ tình tặng cho Roxelana dưới bút danh Muhibbi:
- “Throne of my lonely niche, my wealth, my love, my moonlight.
- My most sincere friend, my confidant, my very existence, my Sultan, my one and only love.
- The most beautiful among the beautiful…
- My springtime, my merry faced love, my daytime, my sweetheart, laughing leaf...
- My plants, my sweet, my rose, the one only who does not distress me in this world…
- My Istanbul, my Caraman, the earth of my Anatolia
- My Badakhshan, my Baghdad and Khorasan
- My woman of the beautiful hair, my love of the slanted brow, my love of eyes full of mischief…
- I'll sing your praises always
- I, lover of the tormented heart, Muhibbi of the eyes full of tears, I am happy.” (bản Anh ngữ)[47]
[sửa] Ibrahim Pasha
Pargalı İbrahim Pasha là bạn thời nhỏ của Suleiman. Ibrahim xuất thân trong gia đình theo Chính thống giáo Hy Lạp; thuở nhỏ được học ở trường học nội cung (Palace School) theo chế độ devshirme. Ibrahim đã được phong làm 1 tay Khuyển, Ưng, rồi được bổ làm người cầm đầu quân túc bảo vệ hoàng gia.[51] Ibrahim Pasha trở thành quan Tể tướng năm 1523 và thống lĩnh toàn bộ quân đội. Suleiman cũng trao cho Ibrahim chức beylerbey xứ Rumelia, cho Ibrahim quyền định đoạt tất cả miền đất thuộc Thổ Nhĩ Kỳ ở châu Âu, cũng như quyền điều động binh lính tại lãnh địa ấy trong thời chiến. Theo nhà chép sử thế kỷ XVII, Ibrahim đã yêu cầu Suleiman I không trao quá nhiều tự trị cho những vùng đất ấy vì lo sợ như vậy sẽ mất an ninh; Suleiman trả lời rằng dưới quyền cai trị của ông, trong bất cứ trường hợp nào Ibrahim cũng không giờ bị phế bỏ.[52]
Nhưng về sau thì Ibrahim cũng đánh mất lòng tin của Suleiman. Trong 13 năm làm Tể tướng, sự thăng tiến nhanh về quyền lực cũng như gia tài đồ sộ đã khiến cho Ibrahim có thêm nhiều kẻ thù trong số các quan triều. Bản báo cáo của Ibrahim với Suleiman về cuộc chiến chống nhà Safavid ở Ba Tư cho thấy sự trơ tráo của Ibrahim: trong đó Ibrahim, xưng làm serasker sultan, một việc khiến cho Suleiman cảm thấy mình đặc biệt bị sỉ nhục.[53]
Sự ngờ vực của Suleiman đối với Ibrahim bị làm tồi tệ hơn bởi mâu thuẫn giữa Tể tướng với Thượng thư Bộ Hộ Iskender Chelebi. Mâu thuẫn này kết thúc với âm mưu ám hại Chelebi, và Ibrahim đã ra sức thuyết phục Suleiman khép viên thượng thư này vào tội chết. Tuy nhiên, trong lời nói cuối cùng trước khi chết Chelebi đã lên tiếng buộc tội Ibrahim mưu phản.[53]
Lời nói lúc hấp hối của Chelebi đã cho Suleiman I thấy sự phản bội của Ibrahim, và vào ngày 15 tháng 3 năm 1536 cái xác không hồn của Ibrahim được tìm thấy ở cung điện Topkapi.
[sửa] Việc lựa chọn thái tử
Hai bà vợ của Suleiman I sinh hạ 8 người con trai, nhưng chỉ có 4 người còn sống trong thập niên 1550 là Mustafa, Selim, Bayezid, và Jihangir. Trong số họ, chỉ có Mustafa không phải là con Hürrem Sultan, nhưng lại là con của Gülbahar Sultan (“hoa xuân”), cớ khả năng trở thành người kế vị. Hürrem lo sợ khi Mustafa lên ngôi và giết các con mình. Mustafa còn được xem là hoàng tử tài ba nhất, và được Tể tướng Pargalı İbrahim Pasha ủng hộ. Sứ thần Áo Busbecq nói:
| “ |
Trong các con của Suleiman có cậu tên Mustafa, học rất giỏi, từ khi 24 - 25 tuổi thì có đủ khả năng trị nước; cầu mong Chúa không cho một tên giặc Barbary như thế xâm lược Tổ quốc tôi… (rồi đề cập đến “thiên tư phi thường” của Mustafa) |
” |
|
—[54] |
||
Hürrem ít khi tham gia vào việc chọn thái tử. Dù là vợ Suleiman, nhưng bà không có nhiều quyền hành như hoàng hậu Anh đương thời là Anne Boleyn.[55] Tuy nhiên, không phải là Hürrem không có thế lực lớn về chính trị. Vì lẽ đế quốc Ottoman không có phương pháp chọn thái tử, một vị vua mới thường xử tử các anh em còn lại để bảo vệ ngai vàng của mình. Do lo sợ các con mình sẽ bị hành hình, Hürrem dùng cường quyền để loại trừ những người ủng hộ Mustafa.[43]
Thế là, trong cuộc tranh giành quyền lực dường như là thủ mưu của Hürrem,[51] Suleiman giết Ibrahim và phong con rể Hürrem là Rustem Pasha làm quan Tể tướng. Năm 1552, khi Rustem làm tổng chỉ huy trong chiến dịch phạt Ba Tư, âm mưu chống Mustafa bắt đầu. Rustem sai một trong những cận thần của Suleiman báo cáo về triều đình, vì sultan không thân chinh, rằng quân sĩ xem đây là thời điểm thích hợp để đưa hoàng tử Mustafa trẻ tuổi lên ngôi; đồng thời Rustem tuyên truyền rằng Mustafa đã có ý đồ cướp ngôi. Khi nghe tin, Suleiman rất giận dữ vì tin rằng hoàng tử Mustafa muốn làm phản, và đến hè, khi quân Ottoman rút khỏi Ba Tư, ông đến ở lều tại thu lũng Ereğli[56], và gọi Mustafa đến để cho ông “có thể xử lý tội phạm rồi hồi kinh mà không chút lo sợ”.[57]
Mustafa có hai sự lựa chọn: hoặc là phải đến lều của vua cha và chịu chết; hoặc là, nếu hoàng tử này từ chối, Mustafa sẽ bị kết tội mưu phản. Cuối cùng, Mustafa chấp nhận đến lều của cha, vì tin rằng các binh sĩ ủng hộ sẽ bảo vệ mình. Busbecq, người đã nghe một người chứng kiến kể lại, đã miêu tả về phút cuối của Mustafa. Khi Mustafa đến lều của cha, các thái giám của Suleiman tấn công Mustafa, và vị hoàng tử trẻ đã đánh trả ác liệt. Thấy vậy, Suleiman từ trong buồng hé mặt ra và “chỉ huy một cách dữ dội, liếc nhìn đe doạ các thái giám, và cứng rắn quở trách bọn họ. Thấy vậy, những người câm điếc[58] chấn chỉnh lại tinh thần, vật Mustafa xuống đất và, thả dây cung xung quanh cổ anh, thế là anh bị siết cổ chết”.[59]
Có lẽ là do thương tiếc người anh khác mẹ của mình, Jihangir qua đời vài tháng sau cái chết của Mustafa.[60] Hai hoàng tử còn sống, Bayezid và Selim, đều là tổng trấn các tỉnh của đế quốc. Tuy nhiên, trong vòng vài năm hai anh em đánh lẫn nhau.[61] Với sự giúp đỡ của quân triều đình, Selim đánh bại Bayezid ở Konya năm 1559, khiến Bayezid cùng bốn người con sang Ba Tư lánh nạn. Suleiman cống cho shah Tahmasp I của Ba Tư một số lượng vàng lớn, đổi lại Tahmasp phải xử tử hoặc trao trả Bayezid. Cuối cùng, năm 1561 Tahmasp cho phép đao phủ Thổ thắt cổ Bayezid và 4 người con,[60] mở đường cho Selim lên ngôi 7 năm sau. Ngày 5/6 tháng 11 năm 1566,[62] Suleiman I, vốn đã rời Constantinopolis mà còn thân chinh chống quân Hungary, đột ngột qua đời trước khi quân Ottoman thắng trận Szigetvár ở Hungary.[63]
[sửa] Vai trò trong lịch sử
Đế quốc Ottoman dưới triều Suleiman I là một trong những cường quốc hạng nhất thế giới về mặt diện tích, tài chính và có sực mạnh quân sự vô địch[64]. Các cuộc bành trướng của Suleiman đã giúp đế quốc kiểm soát được nhiều thành phố quan trọng và nổi tiếng của Hồi giáo: Mecca, Medina, Bagdad; phần lớn Bắc Phi và nhiều vùng đất rộng lớn tại bán đảo Balkan (ngày nay là một phần của Hungary, Croatia và Romania). Các cuộc chinh phạt của ông tại Balkan đã khiến người Thổ Ottoman trở thành một thế lực đáng gờm trên cán cân quyền lực tại châu Âu. Sứ thần Busbecq đã nhận xét về “mối họa xâm lược của quân Thổ” như sau:
| “ |
Về phía người Thổ Nhĩ Kỳ là một nguồn tài nguyên dồi dào của một đế quốc hùng mạnh, có sức mạnh không thể bị suy suyển, bách chiến bách thắng trong chiến tranh, dai sức với gian khổ, thống nhất, kỷ luật, cần kiệm và cẩn mật… Thử đoán xem chuyện gì sẽ xảy ra với chúng ta?… Khi người Thổ đã kí hòa ước với Ba Tư thì họ sẽ lao thẳng vào cổ họng chúng ta với toàn bộ sức mạnh Đông phương; thật là một sự kém chuẩn bị mà chúng ta không dám nói… |
” |
Đúng ba mươi năm sau khi ông qua đời, William Shakespeare sáng tác vở kịch Merchant of Venice với nhân vật “Sultan Solyman”. Trong vở kịch này “Solyman” được mô tả như một thiên tài quân sự trong hồi 2, cảnh 1.
Thành tích của Suleiman I không chỉ được thể hiện trên mặt quân sự. Nhà du hành người Pháp Jean de Thévenot trong một thế kỷ sau đã chứng kiến “một nền tảng nông nghiệp vững chắc của đế quốc, đời sống tốt của người nông dân, sự dồi dào của nông sản và sự ưu việt của tổ chức chính quyền nhà Ottoman”.[65] Những cải cách của Suleiman không những đã mang lại cho ông danh hiệu “Nhà làm luật” mà còn góp phần rất lớn cho sự trường tồn của đế quốc Ottoman sau khi Suleiman qua đời, một thành tựu mà “phải mất đến mấy đời vua sa đoạ sau mới phá hoại được”.[66]
Dưới sự bảo trợ của Suleiman I, nghệ thuật, kiến trúc, văn học, triết học và thần học của đế quốc Ottoman cũng đạt đến thời kì hoàng kim.[4][67] Ngày nay, đường chân trời ở Bosphorus, và nhiều thành phố của Cộng hòa Thổ Nhĩ Kỳ, hoặc là từng thuộc đế quốc Ottoman xưa vẫn còn tồn tại những công trình kiến trúc tuyệt đẹp của Mimar Sinan. Một trong số đó là Thánh đường Hồi giáo Süleymaniye chính là nơi an nghỉ cuối cùng của Suleiman I và Hürrem Sultan; họ được mai táng ở hai gian phòng khác nhau trong ngôi thánh đường này.
[sửa] Suleiman I trong văn hóa đương đại
- Là nhân vật trong tác phẩm “The Shadow of the Vulture” của Robert E. Howard.
- Một thánh đường Hồi giáo được xây ở Mariupol, Ukraine, được đặt theo tên Kanuni Sultan Süleyman và được mở cửa năm 2005. Thánh đường được nhà kinh doanh Thổ Nhĩ Kỳ, ông Salih Cihan - cũng sinh ra ở Trabzon. Ở thánh đường này, mỗi ngày tín đồ Hồi giáo đi lễ cầu kinh năm lần, đồng thời đi lễ cầu kinh vào ngày thứ sáu.
[sửa] Chú thích
- ^ Các tài liệu tiếng Việt chưa thống nhất cách dịch cho Muhteşem Süleyman: sách 1001 nhân vật và sự kiện lịch sử thế giới dịch là Suleiman Uy vũ, sách "Lịch sử thế giới: Từ 570 triệu năm trước đến 1990: Trình bày bằng những hình ảnh cụ thể" dịch là Sulayman Người tuyệt vời, Sulayman Oai phong lẫm liệt. Sách "1001 nhân vật và sự kiện lịch sử thế giới" dịch là Suleiman Uy vũ. Tiếng Hán của tên hiệu này là 苏莱曼大帝 (Tôi Lai Mạn Đại đế). Trong tiếng Anh, tên hiệu này là Suleiman the Magnificent hay Suleiman the Great. Tra trên Google thì có trang web gọi là "Süleyman Vĩ Nhân", "Suleyman Cao thượng" hay "Suleiman Vĩ đại".
- ^ Merriman 1944
- ^ Mansel 1998, tr. 61
- ^ a b Atil 1987, tr. 24
- ^ Clot 1992, tr. 25
- ^ Barber, Noel (1973). The Sultans, trang 36, New York: Simon & Schuster.
- ^ Clot 1992, tr. 28
- ^ Lamb 1951, tr. 14
- ^ Barber 1976, tr. 23
- ^ Imber 2002, tr. 49
- ^ Kinross 1979, tr. 176
- ^ Nguyễn Thị Thư, Lịch sử Trung Cận Đông, NXB Giáo dục, ISBN 83867
- ^ Kinross 1979, tr. 187
- ^ Severy 1987, tr. 580
- ^ Embree, Suleiman The Magnificent.
- ^ Imber 2002, tr. 52
- ^ Turnbull, Stephen (2003). The Ottoman Empire 1326 – 1699, trang 50, New York: Osprey Publishing.
- ^ Imber 2002, tr. 50
- ^ Labib 1979, tr. 444
- ^ Imber 2002, tr. 53
- ^ Imber 2002, tr. 54
- ^ a b Imber 2002, tr. 51
- ^ a b Sicker 2000, tr. 206
- ^ Clot 1992, tr. 93
- ^ 1548–49
- ^ a b Kinross 1979, tr. 236
- ^ 1553–55
- ^ a b c The history of Aden, 1839-72 by Zaka Hanna Kour p.2 [1]
- ^ An economic and social history of the Ottoman Empire by Halil İnalcik p.326 [2]
- ^ History of the Ottoman Empire and modern Turkey by Ezel Kural Shaw p.107 [3]
- ^ Cambridge illustrated atlas, warfare: Renaissance to revolution, 1492-1792 by Jeremy Black p.17 [4]
- ^ Kinross 1979, tr. 227.
- ^ Kinross 1979, tr. 53.
- ^ The History of Malta
- ^ Greenblatt 2003, tr. 20
- ^ Greenblatt 2003, tr. 21.
- ^ Mansel 1998, tr. 124.
- ^ Kinross 1979, tr. 211.
- ^ Atıl, The Golden Age of Ottoman Art, 24–33.
- ^ Mansel 1998, tr. 70.
- ^ a b Halman, Suleyman the Magnificent Poet
- ^ Muhibbî (Kanunî Sultan Süleyman)(Tiếng Thổ Nhĩ Kỳ) bản tiếng Thổ Nhĩ Kỳ: شهزادهلر گزيدهسی سلطان محمدم(Şehzadeler güzidesi Sultan Muhammed’üm), trong đó các số Abjad (Ả Rập) tổng cộng 950 - năm tương đương với 1543 SCN trong lịch Hồi giáo.
- ^ a b Mansel 1998, tr. 84.
- ^ Atıl 1987, tr. 26.
- ^ Ahmed 2001, tr. 43
- ^ Mansel 1998, tr. 86
- ^ A 400 Year Old Love Poem
- ^ Bản thân Agostino chưa bao giờ diện kiến Suleiman, nhưng có thể Agostino đã thấy và phác họa chiếc mũ miện ở Venezia
- ^ The Metropolitan Museum of Art. 1968. “Turquerie” The Metropolitan Museum of Art Bulletin, New Series 26 (5): 229.
- ^ Levey 1971, tr. 65
- ^ a b Mansel 1998, tr. 87
- ^ Clot 1992, tr. 49
- ^ a b Kinross 1979, tr. 230
- ^ Clot 1992, tr. 155
- ^ Mansel 1998, tr. 85
- ^ Ünal, Tahsin (1961). The Execution of Prince Mustafa in Eregli, trang 9-22.
- ^ Clot 1992, tr. 157
- ^ Dịch từ "the mutes" trong sách của Kinross, chỉ các Thái giám.
- ^ Kinross 1979, tr. 239.
- ^ a b Mansel 1998, tr. 89.
- ^ Kinross 1979, tr. 240.
- ^ Yapp, Suleiman I
- ^ Imber 2002, tr. 60.
- ^ Clot 1992, tr. 298.
- ^ Ahmed 2001, tr. 147.
- ^ Lamb 2001, tr. 325.
- ^ Russell, The Age of Sultan Suleyman
[sửa] Tham khảo
|
[sửa] Đọc thêm
|
[sửa] Liên kết ngoài
| Tìm thêm về Suleiman I tại một trong những đồng dự án của Wikipedia | ||
| Commons | Hình ảnh | |
| Wiktionary | Từ điển | |
| Wikibooks | Sách | |
| Wikiquote | Danh ngôn | |
| Wikisource | Tư liệu | |
|
Suleiman I
Sinh: 6 tháng 11, 1494 Mất: 5 tháng 9, 1566 |
||
| Hiệu | ||
|---|---|---|
| Tiền vị: Selim I |
Sultan của đế quốc Ottoman 22 tháng 9, 1520 – 5 tháng 9, 1566 |
Kế vị Selim II |
| Tiền vị: Selim I |
Khalip của Hồi giáo 22 tháng 9, 1520 – 5 tháng 9, 1566 |
Kế vị Selim II |
|
|||||||||||||||||