Kevin-Prince Boateng

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Kevin-Prince Boateng
Prince Boateng.jpg
Thông tin cá nhân
Tên đầy đủ Kevin-Prince Boateng
Ngày sinh 6 tháng 3, 1987 (27 tuổi)
Nơi sinh Berlin-Wedding, Tây Berlin, Tây Đức
Chiều cao 1,84 m (6 ft  12 in)
Vị trí Tiền vệ
Thông tin về CLB
CLB hiện nay Schalke 04
Số áo 9
CLB trẻ
1994 Reinickendorfer Füchse
1994–2005 Hertha BSC
CLB chuyên nghiệp*
Năm CLB ST (BT)
2004–2007 Hertha BSC II 29 (5)
2005–2007 Hertha BSC 43 (4)
2007–2009 Tottenham Hotspur 14 (0)
2009 Borussia Dortmund (cho mượn) 10 (0)
2009–2010 Portsmouth 22 (3)
2010–2013 Milan 74 (10)
2013– Schalke 04 16 (6)
Đội tuyển quốc gia
2001–2002 U-15 Đức 4 (1)
2002–2003 U-16 Đức 10 (3)
2003–2004 U-17 Đức 10 (1)
2004–2005 U-19 Đức 9 (4)
2005–2006 U-20 Đức 2 (0)
2006–2007 U-21 Đức 6 (0)
2010– Ghana 10 (2)
* Chỉ tính số trận và số bàn thắng được ghi ở giải Vô địch quốc gia cập nhật lúc 15 tháng 2, 2014 (UTC).

† Số trận khoác áo (số bàn thắng).

‡ Thống kê về thành tích tại ĐTQG được cập nhật lúc 19 tháng 11, 2013 (UTC)

Kevin-Prince Boateng (sinh ngày 6 tháng 3, 1987 tại Berlin-Wedding, Tây Berlin, Tây Đức) là cầu thủ bóng đá người Ghana sinh ra tại Đức thi đấu ở vị trí tiền vệ cho câu lạc bộ Schalke 04 tại Bundesliga. Anh từng là tuyển thủ của Đội tuyển bóng đá quốc gia Ghana.

Boateng bắt đầu sự nghiệp tại câu lạc bộ Hertha BSC ở Bundesliga. Từ 2007 đến 2009, anh đến Premier League thi đấu cho Tottenham Hotspur nhưng không thành công, trong đó có khoảng thời gian cho mượn ngắn tại Borussia Dortmund. Đến Portsmouth năm 2009, anh cùng đội bóng này về nhì cúp FA 2010 và sau đó một năm anh chuyển đến Serie A khoác áo AC Milan, nơi anh có danh hiệu vô địch Serie A mùa giải 2010-11.

Tuổi thơ[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 1981, Prince Boateng nhập cư từ Ghana vào Tây Đức, với hy vọng sẽ được đi học và trở thành một nhân viên hành chính tại đây. Nhưng giấc mộng không thành, người đàn ông da màu cao to trở thành một bồi bàn và D.J tại quán rượu. Ông quen Catherine Rahn, một người phụ nữ Đức có họ hàng với Helmut Rahn, huyền thoại đã ghi bàn ấn định chiến thắng cho Tây Đức trong trận chung kết World Cup 1954. Hai người dọn về sống cùng nhau, và trong vài năm sau đó, hai chú bé kháu khỉnh là George và Kevin lần lượt ra đời. Kevin sinh đúng ngày 6 tháng 3 năm 1987, ngày Quốc khánh Ghana.[1]

Năm Kevin được một tuổi rưỡi, Prince bỏ vợ con lại trong khu phố Wedding tồi tàn ở ngoại ô Berlin và đi tìm hạnh phúc mới với một tiếp viên hàng không xinh đẹp và có thêm cậu con trai Jérôme Boateng. Ông chuyển tới sống cùng vợ mới trong trung tâm thành phố. Còn Catherine vẫn lao động quần quật tối ngày để nuôi sống Kevin và George. Chính những ngày gian khó trong khu Wedding ấy đã khiến Kevin Boateng tự gọi mình là “Ghetto Kid”, một đứa bé lớn lên trong khu người da đen, như để nhấn mạnh rằng mình có một tuổi thơ không êm đềm.

Sự nghiệp câu lạc bộ[sửa | sửa mã nguồn]

Boateng thường được miêu tả là cầu thủ “có kỹ năng và tốc độ, được bổ sung thêm bởi khả năng nhận thức chiến thuật cao và thể lực mạnh mẽ."[2] Anh bắt đầu sự nghiệp của mình tại câu lạc bộ trẻ Reinickendorfer Füchse, và sau đó là Hertha Berlin.

Hertha Berlin[sửa | sửa mã nguồn]

Boateng đến Hertha vào ngày 1 tháng 7 năm 1994 khi anh mới 7 tuổi và gắn bó với câu lạc bộ cho đến ngày 31 tháng 7, 2007. Vời tài năng thể hiện ở đội trẻ, anh được đưa lên đội hình dự bị trong hai mùa giải. Frank Vogel, người phụ trách tuyến trẻ của Hertha Berlin phát hiện ra Kevin Boateng năm cậu mới chỉ 7 tuổi. “Cậu ấy là một tài năng”, ông tuyên bố khi đưa Boateng đến trung tâm huấn luyện của Hertha. 15 tuổi, dưới sự dìu dắt của Vogel, cậu đã trở thành thủ lĩnh của đội U16 Hertha vô địch giải trẻ nước Đức.

Năm 18 tuổi, Kevin đã có một chỗ đứng trong đội hình chính của Hertha dự Bundesliga. Cậu trai trẻ không phải là một người khiêm tốn: ngay từ khi còn rất trẻ, Boateng đã có ý thức về việc mình phải là trung tâm của đội bóng, và không ngần ngại thừa nhận rằng hình mẫu của anh là Rivaldo và Pele. Năm 2005, sau vài trận chơi cho đội 1 Hertha, phóng viên đã hỏi Boateng rằng: “Liệu cậu có tưởng tượng rằng mình sẽ được chơi cho ĐT Đức tại World Cup 2010 không?”. Boateng ngơ ngác: “Tại sao lại là 2010?”. Cậu nghĩ rằng mình đủ sức dự VCK World Cup 2006 cùng ĐT Đức.

Nhưng sau khởi đầu ấn tượng tại Bundesliga là một chuỗi những sự kiện khiến cho Kevin Boateng không những chẳng bao giờ có cơ hội khoác áo đội tuyển Đức mà còn trở thành một gương mặt khiến nước Đức cảm thấy khó chịu.

Tuy có hai lần bị đuổi khỏi sân, Boateng được đưa lên đội hình chính thức từ mùa giải 2005–06. Anh có trận đấu đầu tiên là trận gặp Eintracht Frankfurt tại vòng 2 Bundesliga mùa bóng 2005–06, vào sân từ băng ghế dự bị ở hiệp hai. Anh có lần ra sân chính thức đầu tiên tại Bundesliga trong trận hoà 2-2 với Borussia Mönchengladbach ở vòng đấu thứ 14.

Boateng được so sánh với PeléRivaldo về vai trò trên sân, do đó đôi khi anh bắt chước bộ đôi người Brazil với những khoảnh khắc khiến đám đông vô cùng thích thú.[3] Phong cách thi đấu này khiến anh nhận được nhiều sự tán thưởng nhưng đồng thời cũng khiến anh bị chỉ trích. Huấn luyện viên đội tuyển U-19 Đức, Uli Stielike, đã nói về anh, "Ở đẳng cấp cao, Kevin sẽ phải từ bỏ phong cách thi đấu ấy.”

Ngày 27 tháng 7 năm 2006, Boateng đã được nhận giải thưởng Huy chương Vàng Fritz Walter cho lứa tuổi U-19. Đây là giải thưởng dành cho các cầu thủ các đội tuyển trẻ Đức ở lứa tuổi U-17, U-18 và U-19. Một ban giám khảo bao gồm Liên đoàn Bóng đá Đức (DFB), huấn luyện viên các đội trẻ, và thành viên uỷ ban DFB đã bình chọn Boateng ở vị trí dẫn đầu.[4] Giám đốc thể thao Matthias Sammer và huấn luyện viên DFB Horst Hrubesch đã trao giải thưởng trị giá 20.000 euro[5] cho anh tại Stadtbauraum, Gelsenkirchen, Đức ngày 16 tháng 8, 2006. Trước đó, Boateng cùng giành Huy chương Đồng ở lứa tuổi U-18 năm 2005.

Tottenham Hotspur[sửa | sửa mã nguồn]

Boateng đã ký hợp đồng thi đấu cho Tottenham Hotspur vào tháng 7 năm 2007, với phí chuyển nhượng là 5,4 triệu £.[6][7][8] Anh có trận đấu đầu tiên tại Premier League vào ngày 3 tháng 11 trong trận đấu với Middlesbrough, và sau đó tiếp tục có nhiều trận đấu được ra sân chính thức. Tuy nhiên, kể từ khi huấn luyên viên Martin Jol ra đi và huấn luyện viên Juande Ramos đến sân White Hart Lane cùng nhiều cầu thủ đẳng cấp khác, Boateng không còn giữ được vị trí trong đội hình chính thức và phải xuống đội hình dự bị.[9] Boateng có trận đấu đầu tiên dưới thời huấn luyện viên Harry Redknapp trong chiến thắng 4-2 trước Liverpool tại vòng 4 League Cup và trận đấu đầu tiên của mùa giải 2008–09 vào tháng 11 năm 2008 thua Everton.

Boateng đã được đưa đến Borussia Dortmund theo hợp đồng cho mượn cho đến hết mùa giải vào tháng 1 năm 2009.[10] Anh trở về Tottenham vào cuối mùa giải và có trận đấu cuối cùng cho Spurs khi vào sân thay người trong chiến thắng 5-1 trước Doncaster Rovers tại League Cup vào tháng 8 năm 2009.[11]

Portsmouth[sửa | sửa mã nguồn]

Boateng gia nhập Portsmouth vào đầu mùa giải 2009–10 với hợp đồng 3 năm và phí chuyển nhượng ước chừng 4 triệu £.[12][13] Anh có bàn thắng đầu tiên cho Portsmouth trong trận thua 3-2 trước Bolton Wanderers.[14] Anh tiếp tục thể hiện phong độ tốt trong một vài trận tiếp theo với vai trò tiền vệ trung tâm trong sơ đồ 4-4-2 và trở thành cầu thủ xuất sắc nhất trong tháng 9 của Portsmouth.[15]

Ngày 15 tháng 5 năm 2010, Boateng trở thành tâm điểm của nhiều sự tranh luận sau trận chung kết Cúp FA 2010 với Chelsea. Ở hiệp 1, pha vào bóng của anh nhằm vào Michael Ballack đã khiến cầu thủ này phải rời sân vì chấn thương.[16] Chấn thương sau đó đã được xác định là ở mắt cá chân và nó khiến cho cầu thủ người Đức không còn cơ hội tham dự World Cup 2010.[17][18]

Ở phút 54 của trận đấu, Porstmouth được hưởng quả phạt đền nhưng cú sút của Boateng đã bị thủ môn Petr Čech cản phá thành công.[19] Boateng sau đó đã gửi lời xin lỗi đến Ballack: "Tôi rất tiếc. Tôi không hề cố ý trong tình huống đó. Tôi chỉ vào bóng chậm một chút nên dẫn tới cú va chạm. Đó là một pha vào bóng ngu ngốc".[20] Tuy nhiên, một số tờ báo châu Âu đã nói rằng Boateng vì hiềm khích cá nhân nên đã cố tình chơi xấu khiến Ballack vắng mặt tại World Cup 2010.[21]

A.C. Milan[sửa | sửa mã nguồn]

Boateng chuyển đến Geona vào ngày 17 tháng 8 năm 2010, nhưng ngay lập tức đã gia nhập Milan theo hợp đồng cho mượn có thời hạn một năm trong đó có điều khoản thương lượng để Milan mua đứt Boateng nếu anh thi đấu tốt.[22][23] Phí chuyển nhượng của anh từ Portsmouth là 5 triệu £.[24] Tuy nhiên, sau đó theo giám đốc điều hành của AC Milan Adriano Galliani, bản hợp đồng này đã chuyển từ cho mượn trở thành đồng sở hữu giữa Genoa và Milan trị giá 5,25 triệu €. Hợp đồng này bao hàm cả việc chuyển Giacomo Beretta sang thi đấu cho Genoa, định giá 4 triệu €.[25]

Boateng có trận đấu đầu tiên cho Milan trong chiến thắng 4-0 trước Lecce khi vào sân thay cho Alexandre Pato ở phút 76.[26] Anh có màn ra mắt tại UEFA Champions League trong chiến thắng 2-0 của Milan trước Auxerre ngày 15 tháng 9.[27] Bàn thắng đầu tiên của anh cho Rossoneri đến trong chiến thắng 3-0 trước Brescia ngày 4 tháng 12.[28]

Mùa bóng đầu tiên của Boateng tại AC Milan, anh đã đóng góp vào chức vô địch Serie A của Milan. Trong buổi lễ ăn mừng Scudetto đầu tiên sau 7 năm, các cầu thủ Milan đã được chứng kiến màn nhảy moonwalk đầy điêu luyện của anh.[29] Ngày 24 tháng 5 năm 2011, Milan đã mua toàn bộ 100% quyền sở hữu Boateng từ Genoa với giá 7 triệu euro.[30][31] Ngày 6 tháng 8 năm 2011, Boateng đã ghi bàn ấn định chiến thắng 2-1 trong trận tranh Siêu cúp quốc gia Ý 2011 với Inter Milan, giúp AC Milan lần thứ sáu giành danh hiệu này.[32]

Ngày 23 tháng 10 năm 2011, anh lập một hat-trick chỉ trong vòng 14 phút, từ phút 49 đến phút 63 sau khi vào sân từ băng ghế dự bị, giúp Milan lội ngược dòng thắng Lecce 4-3 sau khi bị dẫn trước 3-0 ở hiệp 1.[33] Đây là một trong những cú hat-trick nhanh nhất trong lịch sử.[34]

Schalke 04[sửa | sửa mã nguồn]

Ngày 30 tháng 8 năm 2013, AC Milan thông báo đã đạt được thỏa thuận chuyển nhượng Boateng cho câu lạc bộ tại BundesligaSchalke 04.[35]

Boateng có trận ra mắt cho Schalke 04 trong chiến thắng 2-0 trước Bayer Leverkusen.[36] Ngày 14 tháng 9 năm 2013, anh ghi bàn thắng duy nhất trong trận đấu với Mainz.[37] Ngày 30 tháng 10, anh được các cổ động viên Schalke 04 bầu chọn là cầu thủ xuất sắc nhất trong tháng.[38] Mười ngày sau đó, anh lập cú đúp đem về chiến thắng 3-1 cho Schalke trước Werder Bremen.[39][40]

Sự nghiệp đội tuyển quốc gia[sửa | sửa mã nguồn]

Boateng đã có 41 lần thi đấu cho các đội tuyển U-15, U-16, U-19 và U-21 Đức, ghi được 8 bàn thắng. Ngày 20 tháng 7 năm 2005, tại Giải vô địch bóng đá U-21 châu Âu 2005, anh đã có một bàn thắng vào lưới U-19 Hy Lạp từ khoảng cách hơn 40 mét.[41] Bàn thắng này đã được những người xem của một chương trình thể thao nổi tiếng ở Đức bình chọn là Bàn thắng của Tháng.[42]

Boateng bắt đầu khiến cả châu Âu chú ý tại giải vô địch U19 châu Âu 2005 trong màu áo U19 Đức, với một bàn thắng từ giữa sân vào lưới Hy Lạp. Quê hương Ghana vẫy gọi, đề nghị anh cùng Black Stars dự World Cup 2006. Nhưng Boateng từ chối vì muốn thi đấu cho Đức. Huấn luyện viên của Hertha Berlin, Dieter Hoeneß, đã khen ngợi quyết định này của Boateng, giúp anh có thể thi đấu cho đội tuyển Đức.

Ngày 27 tháng 3 năm 2007, truyền thông Đức đưa tin Boateng đã nói với huấn luyện viên đội tuyển Đức Joachim Löw rằng anh sẽ thi đấu cho Ghana.[43][44]

Nhưng cơ hội ấy không bao giờ đến. Ngày 9 tháng 9 năm 2007, tờ Berliner Morgenpost đưa tin[45] rằng huấn luyện viên đội tuyển U-21 Đức Dieter Eilts quyết định sẽ không triệu tập Boateng nữa vì một sự kiện không vui đã xảy ra tại sân tập của đội trong chuyến du đấu vào tháng 6 năm 2007 ở Pháp[46]. Sau 6 trận chơi cho U21 Đức, bất chấp những lời tán dương liên tục từ giới chuyên môn, HLV Dieter Eilts tuyên bố lạnh lùng sẽ không bao giờ triệu tập Kevin-Prince Boateng nữa. Giới thạo tin cho rằng đã có chuyện gì đó diễn ra khi U21 Đức tập trung cho giải trẻ Toulon, còn lý do của Eilts rất đơn giản: “Tôi không thể triệu tập một người không biết tuân lệnh”. Con đường đi đến với Mannschafts của Boateng chính thức kết thúc từ thời điểm đó.

Thời gian đó, hiểu được hy vọng của mình với đội tuyển Đức đã hết, Boateng quyết định sẽ chơi cho Ghana. Ngày 12 tháng 5 năm 2010, FIFA chính thức chấp thuận việc Boateng được chơi cho Ghana (vì trên danh nghĩa anh mang quốc tịch Đức). Đúng 3 ngày sau, anh lại cho nước Đức thêm một lý do để hắt hủi mình, trong trận chung kết FA Cup giữa Portsmouth và Chelsea, Boateng đã có một pha vào bóng khiến Michael Ballack, đội trưởng đội tuyển Đức khi đó đứt dây chằng cổ chân, đồng nghĩa với việc tước quyền dự World Cup của “số 13” và khiến sức mạnh của Mannschafts suy giảm.

Ngày 7 tháng 5 năm 2010, huấn luyện viên trưởng đội tuyển Ghana, ông Milovan Rajevac đã chọn Boateng vào danh sách sơ bộ 30 cầu thủ chuẩn bị cho World Cup 2010.[47] Ngày 12 tháng 5 năm 2010, FIFA cuối cùng đã chấp thuận việc thay đổi quốc tịch của Boateng[48], giúp anh có cơ hội được thi đấu cho Ghana tại World Cup.[49] Ngày 5 tháng 6, anh có trận đấu đấu đầu tiên cho Ghana trong chiến thằng 1-0 trước Latvia.[50] Anh mang tên Prince trên áo đấu, từ tên thánh Kevin-Prince của mình. Điều này là nhằm phân biệt giữa anh và người em trai Jérôme Boateng cũng như người đồng đội ở Ghana Derek Boateng. Anh cũng chọn khoác áo số 23, số áo thi đấu của anhh tại Portsmouth.[51] Ngày 23 tháng 6 năm 2010, Boateng đã có cuộc đối đầu với người em trai Jérôme đang thi đấu cho đội tuyển Đức và trận đấu đã kết thúc với tỉ số 1-0 nghiêng về Đức.[52] Đây là lần đầu tiên trong lịch sử World Cup hai anh em ruột chơi cho hai đội tuyển quốc gia khác nhau đối đầu với nhau.[53]

Ngày 26 tháng 6, trong trận đấu vòng 2 với Mỹ trên sân vận động Royal Bafokeng, Boateng đã ghi bàn mở tỉ số trận đấu. Ở phút thứ 5, tận dụng sai lầm của tiền vệ Mỹ Ricardo Clark, Boateng cướp được bóng rồi sau pha dẫn bóng với tốc độ cao, anh đã dứt điểm quyết đoán bằng chân trái vào góc gần ở gần vạch 16m50 đánh bại thủ môn Tim Howard.[54] Chung cuộc Ghana giành chiến thắng 2-1 và lần đầu tiên lọt vào tứ kết World Cup. Tuy nhiên, Ghana cuối cùng đã dừng bước ở tứ kết sau khi thua Uruguay ở những loạt sút luân lưu.

Ngày 4 tháng 11 năm 2011, sau 9 trận thi đấu cho đội tuyển Ghana, ở tuổi 24, Boateng đã tuyên bố từ giã đội tuyển và sự nghiệp quốc tế vì thi đấu ở cường độ cao sẽ ảnh hưởng đến sức khỏe của anh.[55]

Thống kê sự nghiệp[sửa | sửa mã nguồn]

Bàn thắng cho đội tuyển quốc gia[sửa | sửa mã nguồn]

# Ngày Địa điểm Đối thủ Bàn thắng Kết quả Giải đấu
1 26 tháng 6, 2010 Sân vận động Royal Bafokeng, Rustenburg, Nam Phi  Hoa Kỳ 1-0 2-1 World Cup 2010.
2 19 tháng 11, 2013 Sân vận động 30 tháng 6, Cairo, Ai Cập  Ai Cập 1-2 1-2 Vòng loại World Cup 2014

Cuộc sống cá nhân[sửa | sửa mã nguồn]

Boateng tự gọi bản thân mình là "Cậu bé Ghetto" vì anh sinh ra tại quận Wedding là một quận nghèo ở Berlin.[56] Tên chính thức của anh là Kevin Boateng, nhưng anh thường thích được gọi là Kevin-Prince vì nó có mang tên cha anh, Prince Boateng.

Anh đã kết hôn với cô bạn gái lâu năm Jennifer 2 ngày sau khi ký hợp đồng thi đấu cho Tottenham Hotspur.[57]

Anh đang có hơn 20 hình xăm trên khắp cơ thể. Mỗi hình xăm đều mang một ý nghĩa đặc biệt nào đó ví dụ như hình xăm ghi tên Berlin, nơi anh sẽ không bao giờ xuất hiện trên sân bóng với tư cách “người nhà”. Đặc biệt, trên mình Boateng còn có xăm 2 chú hề. Một chú đang khóc, một chú đang cười. “Tôi tin rằng cuộc đời là như thế: hôm trước cười, hôm sau sẽ phải khóc”, Boateng triết lý.

Ở giai đoạn đầu sự nghiệp, Boateng từng mắc hội chứng nghiện mua sắm do ảnh hưởng của các vấn đề cá nhân. Anh khẳng định mình còn sở hữu "khoảng 200 mũ lưỡi trai, khoảng 20 áo vest bằng da và 160 đôi giày". Những thứ khác mà anh từng mua bao gồm một chiếc Lamborghini, HummerCadillac, tất cả đều trong một ngày. Boateng từ đó cũng đã vượt qua được vấn đề này.[58]

Danh hiệu[sửa | sửa mã nguồn]

Câu lạc bộ[sửa | sửa mã nguồn]

Tottenham Hotspur
AC Milan

Cá nhân[sửa | sửa mã nguồn]

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Phong Huyền (18 tháng 11 năm 2011). “Kevin-Prince Boateng: Chàng hoàng tử bị bỏ rơi”. Bóng Đá. Truy cập ngày 20 tháng 11 năm 2011. 
  2. ^ “Accolades for young German talent”. FIFA. 1 tháng 1 năm 2006. Truy cập ngày 1 tháng 1 năm 2006. 
  3. ^ “Honour for Hertha youngster”. Hertha BSC. 27 tháng 7 năm 2007. Truy cập ngày 27 tháng 7 năm 2007. 
  4. ^ “He Should Do Well: Kevin-Prince Boateng”. Square Football. 27 tháng 7 năm 2006. Truy cập ngày 27 tháng 7 năm 2006. 
  5. ^ “DFB verleiht Fritz-Walter-Medaille an die "Nachwuchsspieler des Jahres"”. Wflv.de. 1 tháng 1 năm 2006. Truy cập ngày 1 tháng 1 năm 2006. 
  6. ^ “Hetha accept Tottenham bid for Boateng”. BBC Sport. 31 tháng 7 năm 2007. Truy cập ngày 12 tháng 7 năm 2007. 
  7. ^ “Hertha accept Spurs Boateng bid”. BBC Sport. 12 tháng 7 năm 2007. Truy cập ngày 12 tháng 7 năm 2007. 
  8. ^ “Boateng signs for Spurs”. Tottenham Hotspur F.C. 31 tháng 7 năm 2007. Truy cập ngày 31 tháng 7 năm 2007. 
  9. ^ “Tottenham's shame at the Lane falls mainly on the man from Spain”. www.dailymail.co.uk. 30 tháng 9 năm 2008. Truy cập ngày 27 tháng 6 năm 2010. 
  10. ^ “Boateng leaves Spurs for Dortmund”. BBC Sport. 11 tháng 1 năm 2009. 
  11. ^ “Doncaster 1 – 5 Tottenham”. BBC Sport. 26 tháng 8 năm 2009. Truy cập 28 tháng 8 năm 2009. 
  12. ^ “Boateng joins Pompey”. Trang web chính thức của câu lạc bộ Portsmouth. 28 tháng 8 năm 2009. 
  13. ^ “Portsmouth make midfield signings.”. BBC Sport. 28 tháng 8 năm 2009. Truy cập ngày 28 tháng 8 năm 2009. 
  14. ^ “Portsmouth 2 – 3 Bolton”. BBC. 12 tháng 9 năm 2009. Truy cập ngày 13 tháng 9 năm 2009. 
  15. ^ http://www.portsmouthfc.co.uk/News/news/Boateng-September-Player-Of-The-Month.aspx
  16. ^ “Ballack feels the pain as Boateng's father reveals players' feud”. Independent.co.uk. 18 tháng 5 năm 2010. Truy cập ngày 6 tháng 6 năm 2010. 
  17. ^ Laura Williamson (18 tháng 5 năm 2010). “Boateng feels fury of a nation as Germany captain Ballack is ruled out of finals”. Dailymail.co.uk. Truy cập ngày 6 tháng 6 năm 2010. 
  18. ^ “Germany captain Michael Ballack ruled out of World Cup”. BBC Sport. 17 tháng 5 năm 2010. Truy cập ngày 17 tháng 5 năm 2010. 
  19. ^ “Chelsea 1 - 0 Portsmouth”. BBC Sport. 15 tháng 5 năm 2010. Truy cập ngày 17 tháng 5 năm 2010. 
  20. ^ Boateng xin lỗi Ballack vì cú vào bóng thô bạo
  21. ^ Boateng cố ý hại Michael Ballack?
  22. ^ “Kevin-Prince Boateng leaves Portsmouth for Italy”. BBC Sport. 18 tháng 8 năm 2010. Truy cập ngày 18 tháng 8 năm 2010. 
  23. ^ Đ.K.L. (Theo Goal, Eurosport, AFP) (19 tháng 8 năm 2010). “AC Milan mua được Kevin-Prince Boateng”. Tuổi Trẻ Online. Truy cập ngày 20 tháng 8 năm 2010. 
  24. ^ “ECCO THE PRINCE”. acmilan.com (A.C. Milan). 17 tháng 8 năm 2010. Truy cập ngày 17 tháng 8 năm 2010. 
  25. ^ “AC Milan Group 2010 Annual Report”. AC Milan (bằng Tiếng Ý). Tháng 4 2011. Truy cập ngày 24 tháng 6 năm 2011. 
  26. ^ Minh Kha (30 tháng 8 năm 2010). “Milan thắng to để chào đón Ibrahimovic”. Vnexpress. Truy cập ngày 30 tháng 8 năm 2010. 
  27. ^ Mạnh Tiến (17 tháng 9 năm 2010). “Boateng hạnh phúc sau màn ra mắt”. Bongda.com.vn. Truy cập ngày 16 tháng 9 năm 2010. 
  28. ^ “Easy win takes Milan clear”. ESPN Soccernet. 4 tháng 12 năm 2010. Truy cập ngày 5 tháng 12 năm 2010. 
  29. ^ C.Y. (17 tháng 5 năm 2011). “Kevin-Prince Boateng cũng biết nhảy moonwalk”. Tuổi Trẻ Online. Truy cập ngày 7 tháng 8 năm 2011. 
  30. ^ “Prince Sorride”. Trang web chính thức của AC Milan. 24 tháng 5 năm 2011. Truy cập ngày 24 tháng 5 năm 2011. 
  31. ^ “Boateng è del Milan Riscatto da 7 milioni”. La Gazzetta dello Sport (bằng Tiếng Ý). 25 tháng 5 năm 2011. Truy cập ngày 11 tháng 6 năm 2011. 
  32. ^ Xuân Hà (6 tháng 8 năm 2011). “AC Milan đoạt Siêu Cúp Italia 2011”. Bóng đá số. Truy cập ngày 6 tháng 8 năm 2011. 
  33. ^ “Lecce – Milan 3 - 4: Boateng lập hat-trick, Milan ngược dòng thần kỳ”. TTVH Online. 23 tháng 10 năm 2011. Truy cập ngày 7 tháng 11 năm 2011. 
  34. ^ Khánh Nguyễn (26 tháng 10 năm 2011). “10 hat-trick nhanh nhất lịch sử”. VTV.vn. Truy cập ngày 7 tháng 11 năm 2011. 
  35. ^ “A.C. Milan Official Communication”. A.C. Milan. 30 tháng 8 năm 2013. Truy cập ngày 30 tháng 8 năm 2013. 
  36. ^ Fahey, Ciaran (1 tháng 9 năm 2013). “Video Highlights: Bundesliga wrap: Schalke win on Boateng's debut”. 3news.co.nz. 3 News. Truy cập ngày 1 tháng 9 năm 2013. 
  37. ^ “Boateng earns Schalke the spoils”. Bundesliga. 14 tháng 9 năm 2013. Truy cập ngày 15 tháng 9 năm 2013. 
  38. ^ “Kevin-Prince Boateng voted player of the month by Schalke 04 fans”. goal.com. Goal.com. 30 tháng 10 năm 2013. Truy cập ngày 11 tháng 11 năm 2013. 
  39. ^ “Boateng brace nods Schalke past Bremen”. bundesliga.com. Bundesliga. 9 tháng 11 năm 2013. Truy cập ngày 10 tháng 11 năm 2013. 
  40. ^ “Boateng grabs double in Schalke win”. goal.com. Goal.com. 10 tháng 11 năm 2013. Truy cập ngày 11 tháng 11 năm 2013. 
  41. ^ “Greece 0–3 Germany”. UEFA. 20 tháng 7 năm 2005. Truy cập ngày 20 tháng 7 năm 2005. 
  42. ^ “No.17 Kevin Boateng”. Hertha BSC. 27 tháng 7 năm 2006. Truy cập ngày 27 tháng 7 năm 2006. 
  43. ^ “Die zweite Heimat”. Tagesspiegel.de. 27 tháng 3 năm 2007. Truy cập ngày 27 tháng 3 năm 2007. 
  44. ^ “Boateng droht mit Abgang nach Ghana”. stadion.de. 27 tháng 3 năm 2007. Truy cập ngày 27 tháng 3 năm 2007. 
  45. ^ “Boateng übt sich in Geduld”. Berliner Morgenpost. 27 tháng 9 năm 2007. Truy cập ngày 9 tháng 9 năm 2007. 
  46. ^ “"Wollten eine Veränderung der Persönlichkeiten"”. Welt Online. 21 tháng 9 năm 2007. Truy cập ngày 21 tháng 9 năm 2007. 
  47. ^ “Ghana wartet auf die FIFA”. Transfermarkt.de. Truy cập ngày 6 tháng 6 năm 2010. 
  48. ^ “Kevin Boateng cleared to play for Ghana at World Cup”. BBC News. 12 tháng 5 năm 2010. Truy cập ngày 6 tháng 6 năm 2010. 
  49. ^ “Kevin-Prince Boateng erhält Spielerlaubnis für Ghana‎”. Sportbild.bild.de. Truy cập ngày 6 tháng 6 năm 2010. 
  50. ^ “Boateng impresses Milovan on debut”. Ghanaweb.com. Truy cập ngày 6 tháng 6 năm 2010. 
  51. ^ “Serbia vs Ghana match details”. FIFA. Truy cập ngày 3 tháng 7 năm 2010. 
  52. ^ “Ghana 0-1 Germany”. BBC News. 29 tháng 6 năm 2010. Truy cập ngày 6 tháng 7 năm 2010. 
  53. ^ McDonnell, David (22 tháng 6 năm 2010). “Boateng brothers put feud aside to make World Cup history”. Daily Mirror. Truy cập ngày 22 tháng 6 năm 2010. 
  54. ^ Đánh bại Mỹ, Ghana lần đầu tiên vào tứ kết World Cup
  55. ^ Sannie, Ibrahim (4 tháng 11 năm 2011). “Kevin-Prince Boateng retires from The Black Stars”. BBC Sport & BBC News. Truy cập ngày 24 tháng 8 năm 2012. 
  56. ^ “Die große Rotation”. Berliner-Zeitung. 1 tháng 8 năm 2006. Truy cập ngày 1 tháng 8 năm 2006. 
  57. ^ “Boateng puts Euro campaign ahead Of Honeymoon”. Author: ESPN. Soccernet.com. 10 tháng 8 năm 2007. Truy cập ngày 10 tháng 8 năm 2007. 
  58. ^ “Boateng Slams Pompey Medics”. Sky Sports. 19 tháng 2 năm 2010. Truy cập ngày 19 tháng 2 năm 2010. 

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]