Nattō

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Natto khi được dùng đũa đảo lên
Natto làm nhân sushi

Nattō là một món ăn truyền thống của Nhật Bản làm từ hạt đậu tương lên men.

Đặc điểm[sửa | sửa mã nguồn]

Nattō có màu nâu, mùi khó ngửi, vị bùi và ngăm, có nhiều chất dịch rất nhớt và dính.

Nguồn gốc[sửa | sửa mã nguồn]

Nattō có thể bắt nguồn từ vùng chân dãy núi Himalaya tại Vân Nam lan tỏa ra bên ngoài. Nattō được truyền đến Nhật Bản lúc nào, hiện chưa thể xác minh. Hiện nay, nó được nhiều người Nhật ưa thích, nhất là vùng Kantō và vùng Tohoku.

Dinh dưỡng[sửa | sửa mã nguồn]

Natto được các nhà khoa học kết luận là chứa nhiều thành phần dinh dưỡng quý có lợi cho sức khỏe đã được các nghiên cứu y học khẳng định. Đó là các acid amin, enzym Nattokinase, vitamin K2, chất Pyrazine tạo nên mùi đặc trưng của Natto. Cùng với nước tương miso, nattō là một trong những nguồn protein quan trọng ở Nhật Bản thời phong kiến khi mà người ta không ăn thịt các loài thúchim.

Cách sử dụng[sửa | sửa mã nguồn]

Nattō được ăn như thức ăn kèm với cơm, hoặc nấu thành soup, hoặc làm nhân sushi cuộn, thậm chí làm cả spagettisoba. Còn có loại nattō sấy khô đóng bao để ăn như một món thức ăn nhẹ (snack).

Cách làm[sửa | sửa mã nguồn]

Người ta chọn các hạt đậu tương nhỏ, ngâm nước trong vòng một ngày cho mềm ra, đem luộc thật chín, rồi làm cho lên men. Cách làm cổ truyền là gói đậu tương đã xử lý như trên vào các túm rơm để lợi dụng vi khuẩn Bacillus subtilis (B. subtilis natto) trong đó làm lên men đậu tương. Ngày nay, người ta sử dụng một thứ men gọi là kosōkin để bắt đầu quá trình lên men khoảng 24 giờ trong môi trường nhiệt độ chừng 40 °C. Quá trình lên men này sẽ phân tách các protein trong hạt đậu tương thành axít amin chuỗi ngắn, một chất bổ dễ hấp thụ.

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]