Tsukemen

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm

Tsukemen

Very hot tsukemen (close-up).jpg
Tsukemen nóng sốt
Tên thay thếRamen nhúng
LoạiMì nước
Địa điểm xuất xứNhật Bản
Vùng hoặc bangTokyo
Thành phần chínhramen lạnh, nước dùng
Nấu ăn:Tsukemen trên Wikibooks
Phương tiện liên quan tới Media: Tsukemen tại Wikimedia Commons

Tsukemen (つけ麺? ramen nhúng)[1] là một món ramen trong ẩm thực Nhật Bản gồm mỳ ăn sau khi được nhúng vào một bát canh hoặc nước dùng (nước xuýt) riêng. Món ăn được Tokuo Yamagishi, một nhà hàng ở Tokyo, Nhật Bản chế ra vào năm 1961, sau đó nó đã trở thành một món ăn rất phổ biến ở Tokyo và khắp Nhật Bản. Tại Hoa Kỳ, tsukemen đã trở nên phổ biến ở Los Angeles, trong khi nó vẫn còn tương đối hiếm ở nhiều thành phố khác của Mỹ.

Tổng quan[sửa | sửa mã nguồn]

Tsukemen là một món mỳ ramen Nhật Bản trong ẩm thực Nhật Bản bao gồm các món mỳ và súp riêng biệt hoặc nước dùng, trong đó mỳ ăn liền trong súp [2][3]. Sobaudon là một số loại mỳ dùng trong món ăn[2][4][5]. mỳ thường phục vụ lạnh, trong khi súp thường được phục vụ nóng, phục vụ mùa và làm ẩm mỳ[2][3]. Các loại mỳ cũng có thể được phục vụ ở nhiệt độ phòng[6]. Các thành phần bổ sung được sử dụng trong món ăn thường được phục vụ trên đỉnh hoặc bên cạnh trong đĩa mỳ[6]. Một số thành phần bổ sung được sử dụng bao gồm nori, chashu, menma, tamago và trứng luộc[6][7].

Súp được dùng làm nước chấm, và thường mạnh hơn và đậm hơn trong hương vị so với nước dùng ramen tiêu chuẩn[2][6]. Dashi, một món canh trong ẩm thực Nhật Bản, có thể được sử dụng[2], được chuẩn bị sử dụng cơ sở súp hoặc kho còn được gọi là "dashi". Một số nhà hàng thêm nước nóng để pha loãng món canh vào cuối bữa ăn, giảm sức mạnh và làm cho nó ngon miệng hơn như một món canh để kết thúc bữa ăn[2][8].

Lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

Tsukemen ở Nhật Bản

Tsukemen được Kazuo Yamagishi (1935-2015) chế ra vào năm 1961, người đã sở hữu nhà hàng Taishoken, một nhà hàng ramen nổi tiếng ở Tokyo, Nhật Bản[2][9][10]. Năm 1961, Yamagishi bổ sung món ăn vào món ăn của nhà hàng bằng tên "morisoba đặc biệt", bao gồm "mỳ soba lạnh với súp để nhúng"[9]. Vào thời điểm đó, nó đã được bán với giá 40 yen Nhật, và món ăn sớm Trở nên phổ biến ở nhà hàng Taishoken[9][11]. Đến năm 2015, hơn 100 nhà hàng Taishoken hiện diện ở Nhật Bản[9].

Trong những năm gần đây (khoảng năm 2000-nay), tsukemen đã trở thành một món ăn rất phổ biến ở Tokyo và khắp Nhật Bản, và một số nhà hàng hiện nay vẫn tồn tại ở đất nước mà nó đã khai thác nó một cách độc đáo[1][2][12][13]. Tsukemen cũng được phục vụ tại các nhà hàng ở Hoa Kỳ[6] và ở các nước khác. Trong những năm gần đây (khoảng năm 2013-nay), Tsukemen đã trở thành một món ăn phổ biến ở một số cửa hàng ramen ở Los Angeles[6]. Ngược lại, ở các khu vực khác của Hoa Kỳ, như Chicago, món ăn không phổ biến và hiếm khi được phục vụ trong các nhà hàng[14].

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ a ă Yagihashi, T.; Salat, H. (2011). Takashi's Noodles. Potter/TenSpeed/Harmony. tr. 86. ISBN 978-1-60774-201-2. 
  2. ^ a ă â b c d đ e Orkin, I.; Ying, C. (2013). Ivan Ramen: Love, Obsession, and Recipes from Tokyo's Most Unlikely Noodle Joint. Ten Speed Press. tr. 169. ISBN 978-1-60774-446-7. 
  3. ^ a ă Kimoto-Kahn, A. (2016). Simply Ramen: A Complete Course in Preparing Ramen Meals at Home. Race Point Publishing. tr. 117. ISBN 978-1-63106-144-8. 
  4. ^ Eaton, Hillary (28 tháng 10 năm 2015). “Watch Your Udon Noodles Being Made at Musashiya in Westwood, Opening Today”. L.A. Weekly. Truy cập ngày 22 tháng 2 năm 2017. 
  5. ^ Time Out Tokyo. Time Out Guides. Time Out Guides. 2010. tr. 157. ISBN 978-1-84670-121-4. 
  6. ^ a ă â b c d Scattergood, Amy (31 tháng 7 năm 2013). “7 L.A. Ramen Shops for Great Bowls of Tsukemen”. L.A. Weekly. Truy cập ngày 22 tháng 2 năm 2017. 
  7. ^ “Barikata dishes out new treats”. Sun.Star Cebu. 17 tháng 2 năm 2017. Truy cập ngày 22 tháng 2 năm 2017. 
  8. ^ Sietsema, Robert (7 tháng 8 năm 2011). “Dish No. 61: Pork Kimchee Tsukemen Soba at Cocoron”. Village Voice. Truy cập ngày 22 tháng 2 năm 2017. 
  9. ^ a ă â b “Ramen legend Kazuo Yamagishi passes away at 80”. Japan Bullet. 21 tháng 2 năm 2017. Truy cập ngày 22 tháng 2 năm 2017. 
  10. ^ Solt, G. (2014). The Untold History of Ramen: How Political Crisis in Japan Spawned a Global Food Craze. California Studies in Food and Culture. University of California Press. tr. 161. ISBN 978-0-520-27756-4. 
  11. ^ “Death of a Noodle Master”. NHK World. 2 tháng 4 năm 2015. Truy cập ngày 22 tháng 2 năm 2017. 
  12. ^ Dodd, J.; Richmond, S. (2011). The Rough Guide to Japan. Rough Guide to... Rough Guides. tr. pt276. ISBN 978-1-4053-8926-6. 
  13. ^ Swinnerton, Robbie (6 tháng 7 năm 2012). “Rokurinsha: A ramen line-up worth dipping into”. The Japan Times. Truy cập ngày 22 tháng 2 năm 2017. 
  14. ^ Dolinsky, Steve (28 tháng 10 năm 2016). “Tsukemen puts hot-and-cold twist on ramen”. ABC7 Chicago. Truy cập ngày 22 tháng 2 năm 2017. 

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]