Chủ đề:Lịch sử

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm

Cổng tri thức Lịch sử

Historia của Nikolaos Gyzis

Historia của Nikolaos Gyzis

Lịch sử là môn học về nghiên cứu và phân tích những sự kiện đã xảy ra. Sự kiện bao gồm sự kiện bản thể luận và sự kiện nhận thức luận nên do đó, trong thực tế, chỉ có một số sự kiện lịch sử được xem là "thật". Đa số các nhà nghiên cứu các sự kiện lịch sử này (thường được gọi là sử gia) tin rằng quan điểm hiện tại của chúng ta có thể đổi cách hiểu những sự kiện xưa. Vì thế cách giải thích những sự kiện xưa thay đổi thường xuyên qua các thời kỳ. Những giải thích dựa theo các nguồn gốc "căn bản" – những văn kiện được viết ra vào lúc đó hay gần sau lúc đó – thường được xem là có giá trị nhất.

Lịch sử ít nhất có hai nghĩa. Thứ nhất là sự biến đổi của vật tồn tại trong hiện thực được diễn đạt khác đi và định nghĩa là Lịch sử. Tuy nhiên việc bảo tồn quá trình đó là không có và cuối cùng biến mất. Một ý nghĩa khác của lịch sử là chỉ kết quả ghi chép lại với đối tượng là sự biến chuyển đang dần biến mất đó tức là ghi chép lịch sử. Như vậy cái trước được gọi là nghĩa rộng: toàn thể các sự kiện, cái thứ hai được gọi là sách lịch sử. Các nhà nghiên cứu đều có mong muốn nghiên cứu sâu lịch sử và dự đoán tương lai.

Tuy nhiên cả ghi chép lịch sử cũng không có khả năng ghi chép toàn bộ khuôn mặt nó chịu sự chi phối của tri thức, giá trị quan, bối cảnh thời đại, lực lượng của người chấp bút và nó trở thành hiện tượng được ghi chép qua bộ lọc và bóp méo sự thật. Edward Hallett Carr trong tác phẩm Lịch sử là gì đã chỉ ra điều đó. Các ghi chép trong chính sử bao gồm sự phản tỉnh hay bất lợi cho kẻ thắng thường có độ tin cậy cao hơn.

Kị binh quân đội Đức Quốc xã tiến vào ngoại vi Mogilev, tháng 7 năm 1941

Trận Smolensk năm 1941 là một trận đánh lớn trong Chiến tranh Xô-Đức. Đây là một tổ hợp các trận đánh phòng thủ kết hợp với các hoạt động phản kích của quân đội Liên Xô chống lại Cụm tập đoàn quân Trung tâm và một phần Cụm tập đoàn quân Bắc của quân đội Đức Quốc xã đang tấn công theo hướng trực chỉ Moskva theo Kế hoạch chiến dịch Barbarossa. Trong vòng hai tháng từ 10 tháng 7 tới 10 tháng 9 năm 1941, cuộc chiến ác liệt tiếp tục diễn ra trên một vùng lãnh thổ rộng lớn với mặt trận trải dài kéo từ 600 đến 650 km trên tuyến Idritsa và Velikie Luky ở phía bắc tới Loev và Novgorod-Seversky ở phía nam; có chiều sâu lên đến 200-250 km từ Polotsk, Vitebsk và Zhlobin ở phía tây đến Andreapolya, Yartsevo, Yelnya và Trubchevsk ở phía đông. Chiến dịch được phát động bởi các đòn tấn công của Tập đoàn quân xe tăng 2 do tướng Heinz Guderian chỉ huy và Tập đoàn quân xe tăng 3 do tướng Hermann Hoth chỉ huy thuộc Cụm Tập đoàn quân Trung Tâm của quân đội Đức Quốc Xã. Cuộc tấn công bao gồm hai đòn công kích vu hồi liên tiếp trên khu vực từ Vitebsk-Orsha đến Smolensk nhằm bao vây tiêu diệt một phần binh lực của bốn phương diện quân Liên Xô. Phòng thủ tại tuyến này bao gồm Phương diện quân phía Tây do nguyên soái Semyon Timoshenko chỉ huy, Phương diện quân Dự bị do đại tướng Georgi Zhukov chỉ huy, Phương diện quân Trung tâm do thượng tướng Fyodor Isodorovich Kuznetsov chỉ huy và Phương diện quân Bryansk do trung tướng Andrei Yeremenko chỉ huy. Mặc dù một phần Tập đoàn quân 16, Tập đoàn quân 19 và Tập đoàn quân 20 (Liên Xô) bị bao vây và tiêu diệt hoặc bị bắt làm tù binh ở phía Nam Smolensk nhưng một phần lớn lực lượng của các tập đoàn quân 16 và 19 đã rút lui an toàn. Việc "để sổng" một lực lượng lớn quân đội Liên Xô như vậy đã khiến Hitler quyết định từ bỏ chiến thuật bao vây tiêu diệt các lực lượng Hồng quân, thay vào đó quân Đức tập trung vào mục tiêu tấn công các khu vực giàu tiềm năng kinh tế của Liên Xô như các vùng nông nghiệp trù phú ở đồng bằng ven các con sông Dniepr, Volga, Don; các khu công nghiệp Voronezh, Kharkov, Zaporozhe, Poltava, Krasnograd, Nikolaev, Krivoi Rog...; nhằm phá hoại nền kinh tế của Liên Xô, hy vọng bằng cách đó làm cho họ suy kiệt và đi đến chỗ sụp đổ. (xem tiếp…)


Chân dung William III của Sir Godfrey Kneller

William III hoặc William xứ Orange (14 tháng 11 năm 16508 tháng 3 năm 1702) là Hoàng thân Orange, từ năm 1672 là Tổng đốc các tỉnh lớn của Cộng hòa Hà Lan, rồi được tôn làm Vua Anh, Scotland, và Ireland kể từ năm 1689. Là một thành viên của Nhà Orange-Nassau, William III trị vì Anh, Scotland, và Ireland sau cuộc Cách mạng Ving quang, khi nhạc phụ của ông, James II của Anh, bị phế truất. William đồng trị vì với vợ, Mary II, cho đến khi Mary băng hà ngày 28 tháng 12 năm 1694. Ông là “William II” ở Scotland, và là “William III” ở Anh và Ireland. Tại Bắc Ireland và Scotland, người ta còn gọi ông là “Vua Billy”.

Là tín hữu Kháng Cách, William tham gia các cuộc chiến chống Louis XIV của Pháp, một quân vương Công giáo đầy quyền lực, trong bối cảnh châu Âu đang bị chia cắt bởi các thế lực Công giáo và Kháng Cách. Phần lớn là nhờ thanh danh ấy mà William được tôn làm vua nước Anh nơi có nhiều người luôn e sợ một sự phục hồi ảnh hưởng Công giáo do những nỗ lực của James đem cựu giáo trở lại vương quốc này. Chiến thắng của William III tại mặt trận Boyne khi ông đánh bại James II năm 1690 vẫn được Hội Orange ở Bắc Ireland kỷ niệm cho đến ngày nay. Thời trị vì của William nổi bật với sự khởi đầu của giai đoạn chuyển đổi quyền lực từ thể chế cai trị độc đoán của dòng họ Stuart sang thể chế tập trung nhiều quyền lực hơn cho Quốc hội dưới triều Hanover. (xem tiếp…)


Đế quốc Anh
Hohenfriedeberg - Attack of Prussian Infantry - 1745.jpg

Trận Hohenfriedberg là một trận đánh ác liệt trong chiến tranh Kế vị Áo. Trong trận chiến này, quân Phổ do đích thân vua Friedrich II thống lĩnh, đập nát liên quân Áo-Sachsen dưới sự chỉ huy của vương công Karl Alexander xứ Lothringen. Đây là một trong những chiến thắng đầy ấn tượng của vị vua - chiến binh Friedrich II Đại đế nước Phổ. Theo nhà sử học người ÚcChristopher M. Clark, đây có lẽ là trận đánh quyết định nhất trong cuộc chiến tranh Silesia lần thứ hai. (1744 - 1745). Trận đánh này được gọi là “một loạt cuộc giao chiến lẻ tẻ”, do các phần của Quân đội Phổ không kết hợp với nhau mà tấn công kẻ thù. Trong trận này, do liên quân Áo-Sachsen không thể giúp đỡ lẫn nhau, họ đã tạo điều kiện cho quân Phổ sửa sai, và giành chiến thắng vẻ vang, đưa trận thắng Hohenfriedberg trở thành một trong những cuộc hành quân vĩ đại nhất của người Đức.Trong chiến dịch năm 1745, cùng các trận như KesselsdorfFontenoy cuộc chiến tại Hohenfriedberg trở thành ba chiến thắng vĩ đại nhất trong thời kỳ Chiến tranh Kế vị Áo. Friedrich II xem trận này là "một chiến thắng quyết định chưa từng có kể từ trận thắng Blenheim". Quân đội Áo không hoàn toàn suy sụp, họ rút về có thủ ở Vương quốc Bohemia (Tiệp Khắc). Sau đó, ông cất quân chinh phạt xứ Bohemia, nhưng lại bị đánh bật. Sau đó, nhờ có chiến thắng Kesselsdorf, vào ngày 18 tháng 5 năm 1745, thành Dresden thất thủ, vua Friedrich II cũng trở thành bá chủ của Lãnh địa Tuyển hầu tước xứ Sachsen, bắt họ phải triều cống cho mình. Nước Áo thất bại, ông buộc triều đình Áo phải tôn trọng triệt để những điều khoản được ký kết trước đây. (xem tiếp…)


Trong những hoàn cảnh khác nhau, tình cảm của nhân loại biến ảo vô thường làm sao! Những thứ hôm nay chúng ta thích, thường là những thứ ngày mai chúng ta ghét, những thứ hôm nay chúng ta theo đuổi thường là những thứ ngày mai chúng ta né tránh, những thứ hôm nay chúng ta mong muốn thường là những thứ ngày mai chúng ta sợ hãi, thậm chí là hồn siêu phách lạc.

Thomas JeffersonTổng thống thứ 3 của Hợp chúng quốc Hoa Kỳ


Ngày này năm xưa

Panthéon Jeanne d'Arc détail6.JPG

30 tháng 5: Ngày Nghị viện tại Croatia; Ngày "người Ấn Độ đến" tại Trinidad và Tobago.


Độ phân giải tối đa: 2.644 × 1.610 điểm ảnh
Bức tranh Đệ nhất tổng tài vượt dãy Anpơ trên đèo Grand-Saint-Bernard do Jacques-Louis David vẽ vào năm 1800, hiện đang được trưng bày tại Lâu đài Malmaison, Rueil-Malmaison.

Họa sĩ: Jacques-Louis David


Tham gia

Chủ đề Lịch sử đang được xây dựng nên rất cần sự giúp đỡ, đóng góp của các bạn về nội dung lẫn giao diện. Các bạn có thể:


Các đề tài

Các thể loại

Trên các dự án Wikimedia