Cha Bum-kun

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm
Đây là một tên người Triều Tiên, họ là Cha.
Cha Bum-kun
차범근
Cha Bum-Kun in 2009.jpg
Cha Bum-kun năm 2009
Thông tin cá nhân
Ngày sinh 22 tháng 5, 1953 (66 tuổi)
Nơi sinh Hwaseong, Gyeonggi, Hàn Quốc
Chiều cao 1,79 m (5 ft 10 12 in)
Vị trí Tiền đạo (bóng đá)
CLB trẻ
1972–1975 Đại học Cao Ly
CLB chuyên nghiệp*
Năm Đội ST (BT)
1976 Seoul Trust Bank
1976–1979[1][2] Sungmu FC
(Không quân Hàn Quốc)
1978–1979 SV Darmstadt 98 1 (0)
1979–1983 Eintracht Frankfurt 122 (46)
1983–1989 Bayer Leverkusen 185 (52)
Tổng cộng 308 (98)
Đội tuyển quốc gia
1970–1972 U20 Hàn Quốc
1972–1986 Hàn Quốc 136[3] (58)
Huấn luyện
1991–1994 Ulsan Hyundai
1997–1998 Hàn Quốc
1998–1999 Thâm Quyến F.C.
2004–2010 Suwon Samsung Bluewings

* Chỉ tính số trận và số bàn thắng ghi được ở giải vô địch quốc gia.

† Số trận khoác áo (số bàn thắng).
Tên tiếng Hàn
Hangul
Hanja
Romaja quốc ngữCha Beom-geun
McCune–ReischauerCh'a Pŏmgŭn

Cha Bum-kun (Hangul차범근; phát âm tiếng Triều Tiên: [tɕʰa.bʌm.ɡɯn] or [tɕʰa] [pʌm.ɡɯn]; sinh ngày 22 tháng 5 năm 1953) là một cựu danh thủ bóng đá người Hàn Quốc được biết đến với biệt danh Tscha BumĐức, có nghĩa là "Cha Boom" bởi những cú sút sấm sét của ông. Biệt danh này lần đầu tiên được sử dụng bởi tạp chí Kicker và còn ví ông là một trong số những cầu thủ vĩ đại nhất những năm 1980. Ông được sinh ra tại Hwaseong, tỉnh Gyeonggi. Đến năm 1972, Cha đã là cầu thủ trẻ nhất trong lịch sử được gọi là đội hình đội tuyển quốc gia Hàn Quốc. Sau khi trở thành cầu thủ hàng đầu tại quê nhà, ông chuyển đến thi đấu tại giải vô địch Bundesliga tại Đức và trở thành cầu thủ Hàn Quốc đầu tiên thi đấu tại châu Âu. Sau quãng thời gian thi đấu rất thành công với ba câu lạc bộ tại Đức, ông trở về quê nhà chuyển sang công tác huấn luyện. Cha Bum-kun đã bắt đầu dẫn dắt Ulsan Hyundai, sau đó là dẫn dắt đội tuyển Hàn Quốc tham dự Giải vô địch bóng đá thế giới 1998 và rồi là Suwon Samsung Bluewings. Ông được coi là biểu tượng tại Hàn Quốc nhờ những đóng góp cho Bundesliga và đội tuyển bóng đá quốc gia. Trong sự nghiệp của mình, ông đã từng khoác áo SV Darmstadt 98, Eintracht Frankfurt và Bayer Leverkusen, 135 lần khoác áo đội tuyển quốc gia và ghi được 58 bàn thắng, là cầu thủ ghi bàn hàng đầu của Hàn Quốc. Cha Bum-kun được trao giải Cầu thủ thế kỷ của châu Á bởi Liên đoàn Lịch sử Bóng đá và Thống kê Quốc tế (IFFHS).

Sự nghiệp câu lạc bộ[sửa | sửa mã nguồn]

Ông nổi tiếng từ khi còn là một cầu thủ của trường Kyungshin vào năm 1970, cùng năm đó ông được gọi vào Đội tuyển bóng đá U-20 quốc gia Hàn Quốc. Năm 1972, Cha Bum-kun vào học tại Đại học Cao Ly. Sau khi tốt nghiệp, ông bắt đầu sự nghiệp bóng đá của mình với Câu lạc bộ Seoul Trust Bank vào năm 1976. Đến tháng 10 năm 1976, ông phải thực hiện nghĩa vụ quân sự cho quốc gia, và đó cũng là bước ngoặt của ông khi thi đấu cho đội bóng Lực lượng Không quân Hàn Quốc.[4] Ông được Friedel Rausch lúc đó là huấn luyện viên của FC Schalke 04 và ông chuyển đến thi đấu tại BundesligaĐức. Ông được coi là một trong những tiền đạo xuất sắc nhất ở Bundesliga trong suốt sự nghiệp của mình. Tháng 12 năm 1978, Cha được chuyển đến SV Darmstadt 98, nơi ông thi đấu chưa đến một tháng trước khi chuyển qua Eintracht Frankfurt. Do gặp vấn đề về nghĩa vụ quân sự nên sau trận đấu với VfL Bochum vào ngày 30 tháng 12 năm 1978, ông trở về Hàn Quốc vào ngày 5 tháng 1 năm 1979 để thực hiện nghĩa vụ quân sự cho đến ngày 31 tháng 5 năm 1979 và không chơi thêm trận nào cho SV Darmstadt 98 nữa.[5]

Sau khi hoàn thành nghĩa vụ quân sự, ông gia nhập Eintracht Frankfurt vào tháng 7 năm 1979. Cha đã gây ảnh hưởng ngay lập tức với câu lạc bộ mới của mình khi ghi bàn thắng trong ba trận liên tiếp. Frankfurt tiếp tục giành Cúp UEFA trong mùa giải 1979–80 và Cha được trao giải Cầu thủ xuất sắc nhất trận chung kết. Ông trở thành cầu thủ bóng đá được trả lương cao thứ ba ở Đức. Trong mùa giải 1981, chấn thương đầu gối trong một trận đấu với Leverkusen gần như khiến ông phải kết thúc sự nghiệp sớm, sự việc gần như đã dẫn đến một cuộc bạo loạn của các cổ động viên của Frankfurt. Cha Bum-kun sau đó đã kịp hồi phục để thi đấu trận chung kết Cúp quốc gia Đức, trận đấu mà ông đóng góp một bàn thắng trong chiến thắng 3–1 của Frankfurt. Tuy nhiên, ông đã quyết định chuyển đến Bayer Leverkusen vào năm 1983. Tại đây, ông đã giành thêm được một Cúp UEFA thứ hai vào năm 1988. Ông đã ghi bàn gỡ hòa khi đội bóng của mình gặp Espanyol để buộc trận đấu kết thúc hai hiệp chính với tỉ số 3-3. Leverkusen cuối cùng đã giành chiến thắng trong trận đấu ở loạt sút penalty, trở thành nhà vô địch. Đây là chiếc Cúp châu Âu đầu tiên mà Leverkusen giành được.

Năm 1989, Cha treo giày sau một sự nghiệp dài ở Bundesliga, trải qua 308 trận đấu, ghi được 98 bàn thắng (điều đặc biệt là không có bàn thắng nào từ phạt đền), thành tích cao nhất của một cầu thủ nước ngoài tại Bundesliga khi đó.[6] Trong suốt sự nghiệp 10 năm của mình, ông chỉ phải nhận duy nhất một thẻ vàng.

Sự nghiệp quốc tế[sửa | sửa mã nguồn]

Ông được gọi vào Đội tuyển bóng đá U-20 quốc gia Hàn Quốc năm 1970 cùng đội tuyển tham gia hai giải trẻ cấp châu lục tại Giải vô địch bóng đá trẻ châu Á năm 19711972. Khi mới chỉ 19 tuổi và đang theo học đại học năm 1972, ông đã được gọi vào đội tuyển quốc gia Hàn Quốc.

Ông tham dự Cúp bóng đá châu Á 1972 ghi được một bàn thắng, cùng với đội tuyển quốc gia vào đến trận chung kết nhưng thua trước Iran. Ông cũng là thành viên của đội tuyển Hàn Quốc tham dự Thế vận hội châu Á 1978, sân chơi mà Hàn Quốc đã giành huy chương vàng sau khi đánh bại Bắc Triều Tiên. Giải đấu quốc tế cuối cùng ông thi đấu là Giải vô địch bóng đá thế giới 1986 diễn ra tại Mexico, giải đấu mà Hàn Quốc đã không góp mặt kể từ năm 1954. Đó là giải đấu mà trước đó ông đã giã từ sự nghiệp thi đấu quốc tế nhưng đã bị thuyết phục trở lại. Tại giải đấu đó, Hàn Quốc để thua Argentina và Italia nhưng đã có trận hòa với Bulgaria. Các đối thủ của Hàn Quốc đã biết được khả năng ghi bàn của Cha, và ông đã các hậu vệ bị kèm rất chặt tại mọi thời điểm. Kết thúc giải đấu, ông không ghi được bàn thắng nào. Nhìn lại giải, Cha Bum-kun nói "Chúng tôi đã không tìm được chiến thắng đầu tiên mình, nhưng hành trình của đội tuyển không gây thất vọng khi chúng tôi chơi hết sức và chống lại các đội bóng xuất sắc nhất thế giới, trong đó có cả nhà vô địch cuối cùng Argentina". Ông đã giã từ sự nghiệp thi đấu quốc tế vĩnh viễn sau giải đấu đó.

Công tác huấn luyện[sửa | sửa mã nguồn]

Sự nghiệp huấn luyện của ông bắt đầu tại một đội bóng thi đấu ở giải K LeagueHyundai Horang-i từ năm 1991-1994. Đến tháng 1 năm 1997, ông trở thành huấn luyện viên trưởng của đội tuyến bóng đá quốc gia Hàn Quốc dẫn dắt đội tuyển tại Giải vô địch bóng đá thế giới 1998. Tuy nhiên, thất bại thảm hại 0-5 trước đội tuyển Hà Lan trong trận đấu thứ hai đã khiến Cha Bum-kun bị sa thải. Sau đó, ông đã đổ lỗi cho Hiệp hội bóng đá Hàn Quốc (KFA) về kết quả tồi tệ của đội bóng, với lý do thiếu các khoản tiền thưởng. Các trận đấu chuyên nghiệp tại Hàn Quốc sau đó đã được thay đổi nhưng KFA cũng đã đưa ra một lệnh cấm trước những phát ngôn của ông với thời gian 5 năm không được dẫn dắt các đội bóng tại Hàn Quốc, buộc ông và vợ đã phải ra nước ngoài.

Sau 18 tháng huấn luyện Thâm Quyến Bình AnTrung Quốc, ông chuyển sang công việc mới là bình luận viên của MBC. Chỉ đến cuối năm 2003, ông mới trở lại công tác huấn luyện khi nhận được lời đề nghị từ Suwon Samsung Bluewings. Thành công đã đến ngay lập tức khi câu lạc bộ của ông vô địch K League 2004, thành tích mà ông nhận định là còn hơn cả khi nâng chiếc Cúp UEFA vào năm 1988. Ông rời đội bóng vào ngày 6 tháng 6 năm 2010.

Cuộc sống cá nhân[sửa | sửa mã nguồn]

Ông là một tín đồ Kitô hữu mộ đạo, đưa ra ba điều quan trọng nhất trong cuộc đời của ông là gia đình, tôn giáo và bóng đá. Con trai thứ hai của ông Cha Du-ri cũng theo bước cha mình khi cũng đã thi đấu qua các câu lạc bộ ở Đức từ năm 2002 đến 2013 và sau đó treo giày vào năm 2015 sau hai mùa giải thi đấu cho FC Seoul.

Di sản[sửa | sửa mã nguồn]

Cha Bum-kun được coi là cầu thủ bóng đá Hàn Quốc xuất sắc nhất thế kỷ XX, một trong những biểu tượng của bóng đá châu Á. Ông chính là người tiên phong thi đấu tại Bundesliga trở thành một trong những cầu thủ bóng đá xuất sắc nhất của giải đấu. Chính nhờ thành công đó mà các đội bóng của Đức sau này rất ấn tượng với các cầu thủ Hàn Quốc để tin tưởng ở những lứa cầu thủ sau này như Cha Du-ri, Ji Dong-won, Son Heung-min. Sau chiến thắng của Frankfurt trong năm UEFA Cup 1980, Lothar Matthäus gọi ông là tiền đạo hay nhất thế giới.

  • Ông trở thành cầu thủ thứ 9 trong lịch sử vô địch Cúp UEFA với hai câu lạc bộ khác nhau.
  • Ông từng là cầu thủ nước ngoài ghi nhiều bàn thắng nhất lịch sử Bundesliga trước năm 1988 khi xô đổ kỷ lục trước đó của Ente Lippens với 92 bàn thắng. Tính đến tháng 9 năm 2016, ông xếp thứ 6 trong danh sách này sau Claudio Pizarro, Giovane Élber, Robert Lewandowski, Stéphane ChapuisatAílton Gonçalves da Silva.
  • Với 17 bàn thắng ghi được tại mùa giải 1985–86 vẫn là số bàn thắng ghi được nhiều nhất bởi một cầu thủ châu Á trong lịch sử Bundesliga. Người xếp sau ông là Vahid Hashemian của Iran với 16 bàn thắng trong mùa giải 2003–04 với Bochum.
  • Ông là cầu thủ ghi bàn nhiều nhất cho đội tuyển quốc gia với 58 bàn thắng trong các trận đấu quốc tế.

Danh hiệu[sửa | sửa mã nguồn]

Cầu thủ[sửa | sửa mã nguồn]

Eintracht Frankfurt

Bayer 04 Leverkusen

Hàn Quốc

Cá nhân

Huấn luyện viên[sửa | sửa mã nguồn]

Suwon Samsung Bluewings

Cá nhân

Thống kê sự nghiệp[sửa | sửa mã nguồn]

Câu lạc bộ[sửa | sửa mã nguồn]

Câu lạc bộ Bundesliga Cúp quốc gia Châu lục Tổng
Mùa giải Câu lạc bộ Giải đấu Trận Bàn thắng Trận Bàn thắng Trận Bàn thắng Trận Bàn thắng
Đức Bundesliga DFB-Pokal Châu Âu Tổng
1978–79 Darmstadt 98 Bundesliga 1 0 0 0 - 1 0
1979–80 Eintracht Frankfurt 31 12 4 0 11 3 46 15
1980–81 27 8 6 6 5 2 38 16
1981–82 31 11 1 0 6 1 38 12
1982–83 33 15 1 0 - 34 15
1983–84 Bayer Leverkusen 34 12 1 0 - 35 12
1984–85 29 10 3 4 - 32 14
1985–86 34 17 4 2 - 38 19
1986–87 33 6 2 1 3 2 38 9
1987–88 25 4 0 0 10 2 35 6
1988–89 30 3 5 0 2 0 37 3
Tổng Đức 308 98 27 13 37 10 372 121
Tổng số 308 98 27 13 37 10 372 121

Quốc tế[sửa | sửa mã nguồn]

[16]

Đội tuyển Hàn Quốc
Năm Trận Bàn thắng
1972 23 6
1973 17 8
1974 13 2
1975 17 9
1976 20 13
1977 26 15
1978 16 5
1979 0 0
1980 0 0
1981 0 0
1982 0 0
1983 0 0
1984 0 0
1985 0 0
1986 3 0
Tổng 135 58

Trận đấu quốc tế[sửa | sửa mã nguồn]

Tỉ số với số bàn thắng của Hàn Quốc trước[17]
# Ngày Địa điểm Đối thủ Tỉ số Kết quả Giải đấu
1 10 tháng 5 năm 1972 Bangkok, Thái Lan  Cộng hòa Khmer 4–1 Won Cúp bóng đá châu Á 1972
2 19 tháng 7 năm 1972 Kuala Lumpur, Malaysia  Singapore 4–1 Thắng Cúp Merdeka
3 23 tháng 7 năm 1972 Kuala Lumpur, Malaysia  Indonesia 2–0 Thắng Cúp Merdeka
4 29 tháng 7 năm 1972 Kuala Lumpur, Malaysia  Malaysia 2–1 Thắng Cúp Merdeka
5 20 tháng 9 năm 1972 Seoul, Hàn Quốc  Thái Lan 3–0 Thắng Cúp Tổng thống
6 22 tháng 11 năm 1972 Bangkok, Thái Lan  Indonesia 1–1 Hòa Cúp Nhà vua Thái Lan
7 19 tháng 5 năm 1973 Seoul, Hàn Quốc  Thái Lan 4–0 Thắng Vòng loại Giải vô địch bóng đá thế giới 1974
8 28 tháng 5 năm 1973 Seoul, Hàn Quốc  Israel 1–0 Thắng Vòng loại Giải vô địch bóng đá thế giới 1974
9 22 tháng 9 năm 1973 Seoul, Hàn Quốc  Cộng hòa Khmer 6–0 Thắng Cúp Tổng thống
10 22 tháng 9 năm 1973 Seoul, Hàn Quốc  Cộng hòa Khmer 6–0 Thắng Cúp Tổng thống
11 30 tháng 9 năm 1973 Seoul, Hàn Quốc  Malaysia 2–0 Thắng Cúp Tổng thống
12 16 tháng 12 năm 1973 Bangkok, Thái Lan  Cộng hòa Khmer 5–0 Thắng Cúp Nhà vua Thái Lan
13 22 tháng 12 năm 1973 Bangkok, Thái Lan  Miến Điện 2–0 Thắng Cúp Nhà vua Thái Lan
14 25 tháng 12 năm 1973 Bangkok, Thái Lan  Malaysia 2–1 Thắng Cúp Nhà vua Thái Lan
15 18 tháng 5 năm 1974 Seoul, Hàn Quốc  Miến Điện 3–0 Thắng Cúp Tổng thống
16 25 tháng 12 năm 1974 Hong Kong, Vương quốc Anh  Indonesia 3–1 Thắng Trận giao hữu
17 29 tháng 7 năm 1975 Kuala Lumpur, Malaysia  Malaysia 3–1 Thắng Cúp Merdeka
18 7 tháng 8 năm 1975 Kuala Lumpur, Malaysia  Thái Lan 6–0 Thắng Cúp Merdeka
19 9 tháng 8 năm 1975 Kuala Lumpur, Malaysia  Nhật Bản 3–1 Thắng Cúp Merdeka
20 9 tháng 8 năm 1975 Kuala Lumpur, Malaysia  Nhật Bản 3–1 Thắng Cúp Merdeka
21 9 tháng 8 năm 1975 Kuala Lumpur, Malaysia  Nhật Bản 3–1 Thắng Cúp Merdeka
22 11 tháng 8 năm 1975 Kuala Lumpur, Malaysia  Indonesia 5–1 Thắng Cúp Merdeka
23 15 tháng 8 năm 1975 Kuala Lumpur, Malaysia  Bangladesh 4–0 Thắng Cúp Merdeka
24 21 tháng 12 năm 1975 Bangkok, Thái Lan  Miến Điện 3–1 Thắng Cúp Nhà vua Thái Lan
25 21 tháng 12 năm 1975 Bangkok, Thái Lan  Miến Điện 3–1 Thắng Cúp Nhà vua Thái Lan
26 6 tháng 3 năm 1976 Seoul, Hàn Quốc  Trung Hoa Đài Bắc 3–0 Thắng Thế vận hội mùa hè 1976
27 27 tháng 3 năm 1976 Seoul, Hàn Quốc  Nhật Bản 2–2 Thắng Thế vận hội mùa hè 1976
28 10 tháng 8 năm 1976 Kuala Lumpur, Malaysia  Ấn Độ 8–0 Thắng Cúp Merdeka
29 10 tháng 8 năm 1976 Kuala Lumpur, Malaysia  Ấn Độ 8–0 Thắng Cúp Merdeka
30 10 tháng 8 năm 1976 Kuala Lumpur, Malaysia  Ấn Độ 8–0 Thắng Cúp Merdeka
31 15 tháng 8 năm 1976 Kuala Lumpur, Malaysia  Miến Điện 2–2 Hòa Cúp Merdeka
32 11 tháng 9 năm 1976 Seoul, Hàn Quốc  Malaysia 4–4 Hòa Cúp Tổng thống
33 11 tháng 9 năm 1976 Seoul, Hàn Quốc  Malaysia 4–4 Hòa Cúp Tổng thống
34 11 tháng 9 năm 1976 Seoul, Hàn Quốc  Malaysia 4–4 Hòa Cúp Tổng thống
35 13 tháng 9 năm 1976 Seoul, Hàn Quốc  Ấn Độ 4–0 Thắng Cúp Tổng thống
36 17 tháng 9 năm 1976 Seoul, Hàn Quốc  Singapore 7–0 Thắng Cúp Tổng thống
37 17 tháng 9 năm 1976 Seoul, Hàn Quốc  Singapore 7–0 Thắng Cúp Tổng thống
38 22 tháng 12 năm 1976 Bangkok, Thái Lan  Malaysia 1–1 Hòa Cúp Nhà vua Thái Lan
39 14 tháng 2 năm 1977 Singapore, Singapore  Singapore 4–0 Thắng Trận giao hữu
40 18 tháng 2 năm 1977 Manama, Bahrain  Bahrain 4–1 Thắng Trận giao hữu
41 20 tháng 3 năm 1977 Seoul, Hàn Quốc  Israel 3–1 Thắng Vòng loại Giải vô địch bóng đá thế giới 1978
42 3 tháng 4 năm 1977 Seoul, Hàn Quốc  Nhật Bản 1–0 Thắng Vòng loại Giải vô địch bóng đá thế giới 1978
43 26 tháng 6 năm 1977 Hong Kong, Vương quốc Anh  Hồng Kông 1–0 Thắng Vòng loại Giải vô địch bóng đá thế giới 1978
44 17 tháng 7 năm 1977 Kuala Lumpur, Malaysia  Libya 4–0 Thắng Cúp Merdeka
45 22 tháng 7 năm 1977 Kuala Lumpur, Malaysia  Indonesia 5–1 Thắng Cúp Merdeka
46 24 tháng 7 năm 1977 Kuala Lumpur, Malaysia  Miến Điện 4–0 Thắng Cúp Merdeka
47 31 tháng 7 năm 1977 Kuala Lumpur, Malaysia  Iraq 1–0 Thắng Cúp Merdeka
48 27 tháng 8 năm 1977 Sydney, Australia  Úc 1–2 Thua Vòng loại Giải vô địch bóng đá thế giới 1978
49 3 tháng 9 năm 1977 Seoul, Hàn Quốc  Thái Lan 3–1 Thắng Cúp Tổng thống
50 5 tháng 9 năm 1977 Busan, Hàn Quốc  Ấn Độ 3–0 Thắng Cúp Tổng thống
51 5 tháng 9 năm 1977 Busan, Hàn Quốc  Ấn Độ 3–0 Thắng Cúp Tổng thống
52 13 tháng 9 năm 1977 Seoul, Hàn Quốc  Malaysia 3–0 Thắng Cúp Tổng thống
53 5 tháng 11 năm 1977 Kuwait City, Kuwait  Kuwait 2–2 Hòa Vòng loại Giải vô địch bóng đá thế giới 1978
54 19 tháng 7 năm 1978 Kuala Lumpur, Malaysia  Nhật Bản 4–0 Thắng Cúp Merdeka
55 22 tháng 7 năm 1978 Kuala Lumpur, Malaysia  Iraq 2–0 Thắng Cúp Merdeka
56 25 tháng 7 năm 1978 Kuala Lumpur, Malaysia  Indonesia 2–0 Thắng Cúp Merdeka
57 11 tháng 12 năm 1978 Bangkok, Thái Lan  Bahrain 5–1 Thắng Đại hội Thể thao châu Á 1978
58 17 tháng 12 năm 1978 Bangkok, Thái Lan  Trung Quốc 1–0 Thắng Đại hội Thể thao châu Á 1978

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ “차범근 이적동의서 받아” (bằng tiếng Korean). The Dong-a Ilbo. Ngày 2 tháng 7 năm 1979. Truy cập ngày 4 tháng 9 năm 2015. 
  2. ^ Mặc dù Cha gia nhập SV Darmstadt 98 vào tháng 12 năm 1978, ông trở lại Hàn Quốc vào ngày 5 tháng 1 năm 1979 và đã phục vụ quân sự cho đến tháng 5 năm 1979 trong câu lạc bộ bóng đá của lực lượng không quân.
  3. ^ Các nguồn khác nhau liệt kê các con số khác nhau về số trận và bàn thắng trong đội tuyển quốc gia của Cha. RSSSF: 121 trận, 55 bàn thắng: Yoon, Hyung-Jin; Mamrud, Roberto; Schneider, Marius (ngày 23 tháng 10 năm 2002). “Bum-Kun Cha - Century of International Appearances”. RSSSF. Truy cập ngày 5 tháng 9 năm 2015. 
    Hiệp hội Bóng đá Hàn Quốc: 136 trận, 58 bàn thắng: “Cha Bum-kun National Team Stats”. Hiệp hội Bóng đá Hàn Quốc (bằng tiếng Korean). Truy cập ngày 5 tháng 9 năm 2015. 
  4. ^ “이적물의 차범근 10월초 입대” (bằng tiếng Korean). Kyunghyang Newspaper. Ngày 3 tháng 9 năm 1976. Truy cập ngày 4 tháng 9 năm 2015. 
  5. ^ “차범근과 병역문제” (bằng tiếng Korean). The Dong-a Ilbo. Ngày 8 tháng 1 năm 1979. 
  6. ^ Matthias Arnhold (ngày 28 tháng 3 năm 2012). “Cha Bum-Kun – Matches and Goals in Bundesliga”. Rec.Sport.Soccer Statistics Foundation. Truy cập ngày 19 tháng 4 năm 2012. 
  7. ^ “축구 베스트11선정 最優秀선수 車範根 기자단”. Kyunghyang. Ngày 22 tháng 12 năm 1973. 
  8. ^ “Bundesliga 'Team of the Season' 1964-2012 ("Kicker")”. BigSoccer Forums. Ngày 22 tháng 2 năm 2013. 
  9. ^ “IFFHS HISTORY: ASIA – PLAYER OF THE CENTURY (1900-1999)”. IFFHS. Ngày 10 tháng 10 năm 2017. 
  10. ^ “The World's best Player of the Century”. IFFHS. Ngày 4 tháng 1 năm 2000. 
  11. ^ “IFFHS announce the 48 football legend players”. IFFHS. Ngày 25 tháng 1 năm 2016. Truy cập ngày 14 tháng 9 năm 2016. 
  12. ^ “Asian Player of the Year”. RSSSF. Ngày 18 tháng 1 năm 2018. 
  13. ^ “2004삼성하우젠 K리그 대상은 '수원 잔치'. Ohmynews. Ngày 15 tháng 12 năm 2004. 
  14. ^ “이운재, MVP 영예...신인상은 이승렬, 감독상은 차범근 감독”. Sports Chosun. Ngày 9 tháng 12 năm 2008. 
  15. ^ “최우수감독상 수상한 차범근 감독”. Newsis. Ngày 8 tháng 11 năm 2009. 
  16. ^ “Cha Bum-kun Official Stats by Korea Football Association”. Korea Football Association. Truy cập ngày 6 tháng 9 năm 2015. 
  17. ^ Mamrud, Roberto; Villante, Eric (ngày 9 tháng 6 năm 2016). “Bum-Kun Cha - Century of International Appearances”. RSSSF. Truy cập ngày 2 tháng 8 năm 2017. 

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]