Adele

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
(đổi hướng từ Adele (ca sĩ))
Bước tới: menu, tìm kiếm
Adele
MBE
Adele - Live 2009 (4) cropped.jpg
Adele (năm 2009)
Thông tin nghệ sĩ
Tên khai sinh Adele Laurie Blue Adkins
Sinh 5 tháng 5, 1988 (26 tuổi)
Tottenham, Bắc Luân Đôn, Anh
Nguyên quán West Norwood, South London, Anh
Nghề nghiệp Ca sĩ-nhạc sĩ
Thể loại Pop, rock, ska, soul, Blue-eyed soul, Blues countrypolitan,[1] country soul,[2] blues, jazz
Nhạc cụ Hát, guitar, piano, bass, celeste, percussion, keyboard
Năm 2006–nay
Hãng đĩa XL, Columbia
Website adele.tv

Adele Laurie Blue Adkins[3] MBE(sinh ngày 5 tháng 5 năm 1988), được biết đến nhiều hơn với cái tên ngắn gọn là Adele, là một ca sĩ-nhạc sĩ người Anh. Adele được đề nghị ký hợp đồng thu âm với hãng thu âm XL Recordings sau khi một người bạn của Adele đăng một bản demo trên trang Myspace vào năm 2006. Năm tiếp theo cô ấy nhận giải "Sự lựa chọn của Nhà phê bình" trong lễ trao giải Brit Awards và đoạt giải Sound of 2008 của kênh BBC. Album đầu tay của cô, 19 được phát hành vào năm 2008 với nhiều thành công về thương mại lẫn bình phẩm tại Anh. 19 được chứng nhận bốn lần đĩa bạch kim tại Anh quốc và hai lần đĩa bạch kim tại Hoa Kì.[4][5] Sự nghiệp của cô tại Mỹ được đẩy mạnh nhờ sự xuất hiện của cô tại chương trình Saturday Night Live vào cuối năm 2008. Vào lễ trao giải Grammy năm 2009, Adele đã nhận được giải Nghệ sĩ mới xuất sắc nhấtTrình diễn giọng Pop nữ xuất sắc nhất.[6][7]

Adele phát hành album thứ hai của cô - 21 vào đầu năm 2011.[8][9] Album nhận được những nhận xét tốt từ giới phê bình và thành công về mặt thương mại nhiều hơn album đầu tay, và đem lại cho cô sáu Giải Grammy năm 2012 bao gồm Album của năm, san bằng kỉ lục Nghệ sĩ nữ đoạt nhiều giải Grammy nhất trong một đêm.[10][11][12] 21 đã được chứng nhận 14 lần đĩa bạch kim tại Anh,[4] tại Mỹ album giữ vị trí dẫn đầu trong bảng xếp hạng lâu hơn bất kỳ album nào kể từ năm 1993.[13][14] Thành công của 21 đã được tuyên dương trong Sách Kỷ lục Guinness. Cô ấy trở thành nghệ sĩ đầu tiên bán được hơn 3 triệu bản album trong một năm tại Anh.[15] Với hai album và hai đĩa đơn đầu tiên trong album 21, "Rolling in the Deep" và "Someone Like You", Adele trở thành nghệ sĩ còn sống đầu tiên đạt được kỳ công với hai hit đều dẫn đầu cả bảng xếp hạng UK Official Singles Chart và Official Albums Chart cùng một lúc kể từ thời của Beatles vào năm 1964.[16][17] Với đĩa đơn thứ 3 phát hành trích từ album 21, "Set Fire to the Rain", đĩa đơn quán quân thứ 3 của cô tại Mỹ, Adele trở thành nghệ sĩ đầu tiên trong lịch sử dẫn đầu bảng xếp hạng album Mỹ cùng đồng thời 3 đĩa đơn quán quân Billboard Hot 100.[18] 21 là album quán quân trụ vững bảng xếp hạng lâu nhất của một nghệ sĩ đơn nữ trên bảng xếp hạng album tại Anh.[15] Với 21, Adele đã giành chiến thắng 6 hạng mục quan trọng nhất của Lễ trao giải Grammy lần thứ 54 trong đó có Album của năm, Thu âm của nămCa khúc của năm. Tại lễ trao giải Oscar lần thứ 85, Adele đã trở thành 1 trong 6 ca sĩ trong lịch sử giành giải Oscar cho hạng mục Ca khúc trong phim hay nhất với bài hát "Skyfall". Tuy nhiên cô chỉ tham gia viết lời và không có một vai diễn nào trong Skyfall. "Skyfall" là bài hát chủ đề trong bom tấn cùng tên về James Bond. Adele cũng có phần trình diễn live "Skyfall" tuyệt vời tại lễ trao giải Oscar lần thứ 85.

Thơ ấu[sửa | sửa mã nguồn]

Adele Laurie Blue Adkins được sinh ra tại Tottenham, phía bắc Luân Đôn, nước Anh ngày 5 tháng 5 năm 1988. Mẹ cô là Penny Adkins, người Anh, cha cô là Mark Evans, một người xứ Wales. Evans đã rời bỏ gia đình khi Adele lên hai tuổi, để người vợ trẻ 20 tuổi tự thân nuôi Adele, và Adele đã nói rằng cô sẽ không bao giờ tha thứ cho ông.[19] Cô đã bắt đầu ca hát từ năm bốn tuổi và cô khẳng định mình lúc đó đã bị ám ảnh bởi những giọng ca.[20] Adele đã khẳng định nhóm nhạc Spice Girls là nguồn cảm hứng lớn cho Adele và cô nói, "họ làm cho tôi có ngày hôm nay."[21] Adele cũng kể lại rằng cô thường đóng giả làm một trong các thành viên của Spice Girls ở các bữa tiệc tối khi còn nhỏ.[22] Để làm cho Adele trông giống như ca sĩ R&B và urban đương đại ở Anh Gabrielle thời bấy giờ, mẹ cô đã làm cho cô một kiểu mắt lấp lánh sequin giống hệt như ca sĩ ấy mà theo Adele điều đó thật xấu hổ.

Hai năm sau, cô và mẹ mình quay về Luân Đôn; đầu tiên là đến Brixton, và sau đó là quận láng giềng West Norwood, ở phía nam Luân Đôn.[23] West Norwood là chủ đề cho bản thu âm đầu tiên của Adele mang tựa đề "Hometown Glory", được sáng tác khi cô mới 16 tuổi.[24] Sau khi chuyển đến nam Luân Đôn, cô bắt đầu hâm mộ những nghệ sĩ R&B như Aaliyah, Destiny's ChildMary J. Blige.[25]

Adele cho biết một trong những khoảnh khắc định hình cho cuộc đời cô là khi xem Pink biểu diễn tại Học viện Brixton. "Cô ấy hát bài Missundaztood, lúc đó tôi chỉ khoảng 13 hay 14. Tôi chưa bao giờ nghe một ai, đặc biệt khi biểu diễn trong nhà, hát live hay như thế […] Tôi nhớ cảm giác như tôi đang ở trong một cái ống khí, giọng ca của cô ấy như thúc giục tôi. Thật là tuyệt vời. "[26][27]

Ở tuổi 14, Adele tình cờ biết đến Etta JamesElla Fitzgerald khi cô đi ngang qua dãy bán CD của các nghệ sĩ jazz tại một cửa hàng băng đĩa địa phương, và cô bị thu hút bởi hình ảnh của họ trên bìa đĩa nhạc.[24] Adele nói cô "bắt đầu nghe Etta James mỗi đêm một tiếng đồng hồ", và dần dần cô tự "khám phá ra giọng của chính mình".[24] Adele tốt nghiệp trường Biểu diễn nghệ thuật và Công nghệ BRIT tại Croydon vào tháng 5 năm 2006,[28], cũng là ngôi trường cô học chung với Leona LewisJessie J.[3][29] Adele tin rằng chính ngôi trường ấy đã nuôi dưỡng tài năng của mình[30] mặc dù vào thời điểm ấy, cô lại muốn học làm quản lý và phát hiện tài năng nghệ thuật, với mong muốn xây dựng sự nghiệp âm nhạc cho người khác.[3]

Sự nghiệp[sửa | sửa mã nguồn]

2006–10: Những ngày đầu và album 19[sửa | sửa mã nguồn]

Adele biểu diễn tại Kilburn, London vào năm 2007

4 tháng sau khi tốt nghiệp, cô phát hành hai ca khúc trong kỳ báo thứ 4 của trang web âm nhạc PlatformsMagazine.com.[31] Cô cũng thu âm một bản demo gồm 3 ca khúc cho một dự án mở lớp học và đưa cho một người bạn[3], chính người này đã đăng nó lên mạng xã hội Myspace, nơi đưa cô đến những thành công bước đầu, đặc biệt là một cuộc gọi đầy hứa hẹn của hãng thu âm XL Recordings. Cô nghi hoặc về lời đề nghị hấp dẫn này bởi vì công ty thu âm duy nhất cô biết đến Virgin Records, và sau đó cô đã dẫn theo người bạn đó cùng với mình đến cuộc họp.[29][32] Nick Huggett làm việc tại XL giới thiệu người quản lý Jonathan Dickins tại công ty September Management cho Adele và vào tháng 6 năm 2006, Dickins trở thành người đại diện chính thức của cô.[33] Công ty September cũng đang quản lý Jamie T vào thời điểm ấy và đã lấy được niềm tin của Adele, vì cô cũng là một fan hâm mộ đối với Jamie T. Huggett sau đó đã ký hợp đồng với Adele và hãng XL vào tháng 9 năm 2006.[33] Adele đã góp giọng cho Jack Peñate trong ca khúc, "My Yvonne", nằm trong album đầu tay của anh, và đây cũng là thời điểm cô gặp gỡ nhà sản xuất Jim Abbiss, người đã nắm vai trò sản xuất phần lớn bài hát trong album đầu tay của cô - 19, và tiếp tục là album 21.[34] Bài hát bước ngoặt của Adele, "Hometown Glory", được phát hành vào tháng 10 năm 2007.[33] Adele đã hỗ trợ Will Young trong buổi concert năm 2007 MENCAP Little Noise Sessions, nhằm mục đích từ thiện cho Liên Đoàn công giáo tại Luân Đôn.

Vào năm 2008, cô được hát chính và biểu diễn acoustic với sự góp sức của Damien Rice.[35][36] Cô trở thành người đầu tiên nhận giải Critics' Choice của lễ trao giải BRIT và được xếp hạng nhất trong một cuộc bầu chọn thường niên của giới phê bình âm nhạc trên BBC, Giọng ca của năm 2008, đây cũng là tiên đoán cho một bước đột phá lớn của cô sau này.[37][38] 19, được đặt tên theo tuổi của Adele lúc cô viết các ca khúc trong album, lọt ngay vào bảng xếp hạng nước Anh tại vị trí số 1. ‘’Bách khoa toàn thư của Nhạc hiện đại’’ của The Times gọi ‘’19’’ là một bản ghi âm blue-eyed soul ‘’quan trọng’’.[39] Cô phát hành đĩa đơn thứ hai của mình mang tên "Chasing Pavements" vào ngày 14 tháng 1 năm 2008, hai tuần sau khi ra album đầu tay. Album đạt vị trí thứ hai trên bảng xếp hạng UK, và giữ nguyên vị trí này trong 4 tuần.[40] Adele được đề cử giải Mercury Prize năm 2008 cho album 19.[41] Cô cũng thắng một giải Urban Music Award cho ‘’Trình diễn Jazz hay nhất".[42] Cô đồng thời nhận một đề cử Q Awards trong hạng mục Trình diễn Đột phá[43] và đề cử Music of Black Origin trong hạng mục Nữ ca sĩ UK hay nhất.[44] Vào tháng 3 năm 2008, Adele ký hợp đồng với hãng Columbia Records và XL Recordings nhằm tấn công vào thị trường Mỹ.[45] Cô bắt tay vào làm một chuyến lưu diễn ngắn tại Bắc Mỹ cũng trong tháng này.[45] 19 được phát hành tại Mỹ vào tháng 6.[30] Tạp chí Billboard nhận xét: "Adele thật sự có tiềm năng trở thành một trong những nghệ sĩ đáng được trân trọng và truyền cảm hứng nhất trong thời đại hiện nay."[46] Chuyến lưu diễn toàn cầu An Evening with Adele bắt đầu từ tháng năm 2008 và kết thúc vào tháng 6 năm sau.

Adele biểu diễn trên sân khấu năm 2009

Cô sau đó hủy chuyến lưu diễn Mỹ năm 2008 để được ở cạnh bạn trai cũ. Cô nói với tạp chíNylon vào tháng 6 năm 2009, "Tôi thấy là, ‘Tôi không thể tin là mình lại làm vậy.’ Có vẻ nó hơi vô tâm… Tôi đã uống hơi nhiều, và đó cũng là chuyện căn bản trong mối quan hệ giữa tôi và anh ta. Tôi không thể sống xa anh ấy, và tôi nghĩ, ‘Thôi, OK, mình chỉ việc hủy mọi việc lại thôi’." Vào giữa tháng 10 năm 2008, có vẻ như nỗ lực của Adele tấn công vào thị trường Hoa Kỳ gần như thất bại.[47][48] Sau đó, cô cũng hát với tư cách khách mời vào ngày 18 tháng 10 năm 2008 trong một tập của chương trình Saturday Night Live của đài NBC. Chương trình còn có sự xuất hiện của ứng viên phó tổng thống Mỹ Sarah Palin. Và tập này nhận được rating cao nhất trong 14 năm với 17 triệu lượt xem. Adele đã biểu diễn 2 ca khúc "Chasing Pavements" và "Cold Shoulder",[49] và ngày hôm sau, album 19 đứng đầu bảng xếp hạng trên iTunes và xếp hạng 5 trên Amazon.com, trong khi đó bài hát "Chasing Pavements" leo lên đến hạng 25.[50] Album đạt vị trí 11 trên Billboard 200 tiếp theo đó, một bước nhảy đến 35 bậc chỉ từ tuần trước..[51]

Tháng 11 năm 2008, Adele chuyển đến Notting Hill sau khi rời nhà mẹ mình, một bước chuyển biến giúp cô dần từ bỏ rượu bia.[52] Album được chứng nhận đĩa Vàng vào tháng 2 năm 2009 bởi Hiệp hội Công nghiệp ghi âm Hoa Kỳ.[53] Đến tháng 7 năm 2009, album đã được bán 2.2 triệu bản trên toàn thế giới.[54]

Adele tại Seattle,Washington

Vào năm 2010, Adele nhận được một đề cử Grammy cho Giọng nữ Pop xuất sắc nhất cho ca khúc ‘’Hometown Glory".[55] Vào tháng 4, bài hát "My Same" của cô lọt vào bảng xếp hạng đĩa đơn của Đức sau khi được Lena Meyer-Landrut biểu diễn trong một chương trình tìm kiếm tài năng Unser Star für Oslo (Our Star for Oslo), đây cũng là chương trình để Đức chọn người cho cuộc thi Eurovision Song Contest 2010.[56][57]

Vào cuối tháng 9, sau khi biểu diễn trên The X Factor, một phiên bản "Make You Feel My Love" của Adele (bản gốc của Bob Dylan) tiếp tục lọt vào bảng xếp hạng đĩa đơn UK tại vị trí số 4.[58] Trong chương trình đặc biệt vào năm 2010 của CMT Artists of the Year, Adele diễn song ca bài hát "Need You Now" của Lady Antebellum cùng Darius Rucker.[59] Màn trình diễn này sau đó được đề cử tại CMT Music Award.[60]

Danh sách đĩa nhạc[sửa | sửa mã nguồn]

Lưu diễn[sửa | sửa mã nguồn]

Giải thưởng[sửa | sửa mã nguồn]

Giải thưởng và thành tích
Tiền nhiệm:
Amy Winehouse
Giải Grammy cho Nghệ sĩ mới xuất sắc nhất
2009
Kế nhiệm:
Zac Brown Band
Tiền nhiệm:
Mika
Sound of... (BBC)
2008
Kế nhiệm:
Little Boots

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ “Adele: New Record is 'Quite Different'”. SPIN.com. 2 tháng 11 năm 2010. Truy cập ngày 8 tháng 5 năm 2011. 
  2. ^ “Adele Unearths Country-Soul Gem » Cover Me”. Covermesongs.com. Truy cập ngày 8 tháng 5 năm 2011. 
  3. ^ a ă â b Frehsée, Nicole (22 January 2009), "Meet Adele, the U.K.'s Newest Soul Star", Rolling Stone. (1070):26
  4. ^ a ă “Certified Awards Search”. British Phonographic Industry. Truy cập ngày 1 tháng 3 năm 2011. 
  5. ^ “Recording Industry Association of America”. RIAA. Truy cập ngày 4 tháng 5 năm 2013. 
  6. ^ “Brits on top: Duffy, Adele and Coldplay clinch top awards as they lead British winners at Grammys”. Daily Mail (London: Associated Newspapers). 9 tháng 2 năm 2011. Truy cập ngày 12 tháng 7 năm 2011. 
  7. ^ Coldplay, Robert Plant, Radiohead, Duffy and Adele win at Grammy Awards, Daily Mirror, Retrieved 21 February 2011
  8. ^ “Adele: New Record is 'Quite Different'”. Spin Magazine. 2 tháng 11 năm 2010. Truy cập ngày 8 tháng 5 năm 2011. 
  9. ^ “Adele to Release '21' Sophomore Album in February Billboard 2 November 2010”. Billboard. 14 tháng 9 năm 2009. Truy cập ngày 8 tháng 5 năm 2011. 
  10. ^ “Grammy Awards 2012: Adele wins six awards tying with Beyoncé for most trophies won in one night”. Telegraph. Truy cập ngày 29 tháng 6 năm 2012. 
  11. ^ “Grammys 2012 winners: Adele wins SIX Awards as music world remembers Whitney Houston | Mail Online”. Dailymail.co.uk. 14 tháng 2 năm 2012. Truy cập ngày 29 tháng 6 năm 2012. 
  12. ^ “British soul singer Adele preps summer U.S. tour”. Los Angeles Times. 8 tháng 2 năm 2011. Truy cập ngày 8 tháng 5 năm 2011. 
  13. ^ “Adele's '21' - Biggest No. 1 Album Since 'Bodyguard'”. Billboard. 25 tháng 1 năm 2012. Truy cập ngày 31 tháng 1 năm 2012. 
  14. ^ Adele's "21" breaks records again CBS News. Retrieved 31 January 2012
  15. ^ a ă Kaufman, Gil (14 tháng 9 năm 2011). “Adele, Lady Gaga, Justin Bieber Land New Guinness Records”. MTV. Truy cập ngày 23 tháng 9 năm 2011. 
  16. ^ "Adele beats Lady Gaga to No 1… and matches Beatles for two top five singles and two top five albums in the same week", Daily Mail (UK), Retrieved 21 February 2011
  17. ^ "Adele's 'Someone Like You' Tops UK Singles Chart", MTV, Retrieved 21 February 2011
  18. ^ “Adele Makes Billboard History After 'Set Fire To The Rain' Tops US Chart”. Capital FM. 27 tháng 1 năm 2012. Truy cập ngày 29 tháng 6 năm 2012. 
  19. ^ "Interview: Adele Atkins, Singer". The Guardian. Truy cập 21 tháng 3 năm 2013.
  20. ^ "Grammy-nominated Adele talking fame in stride". The Baltimore Sun. Truy cập 21 tháng 3 năm 2013.
  21. ^ Walker, Marie. "Adele: I Love Spice Girls!". Now Magazine. Truy cập 21 tháng 3 năm 2013.
  22. ^ "Chasing Adele". Star Tribune. Truy cập 21 tháng 3 năm 2013.
  23. ^ Heawood, Sophie (28 tháng 12 năm 2007). “Adele-ation starts here”. The Times (London). 
  24. ^ a ă â Newman, Melinda (1 tháng 2 năm 2009). “Amy Who? Now, Adele's the One With the Buzz”. The Washington Post. Truy cập ngày 23 tháng 4 năm 2010. 
  25. ^ “ADELE: Up close and personal”. Bluesandsoul.com. Bản gốc lưu trữ ngày 8 tháng 7 năm 2011. Truy cập ngày 18 tháng 8 năm 2011. 
  26. ^ “Adele – Defining Moments”. Spinner. 23 tháng 12 năm 2010. Truy cập ngày 29 tháng 6 năm 2012. 
  27. ^ “Adele Says Hearing Pink Sing Changed Her Life”. Socialite Life. Truy cập ngày 29 tháng 6 năm 2012. 
  28. ^ Youngs, Ian (4 tháng 1 năm 2008). “Soul singers top new talent list”. BBC News. Truy cập ngày 1 tháng 1 năm 2010. 
  29. ^ a ă Collis, Clark (19 December 2008), "Spotlight on... Adele". Entertainment Weekly. (1026):62
  30. ^ Lỗi chú thích: Thẻ <ref> sai; không có nội dung trong thẻ ref có tên BlogCriticsInterview
  31. ^ “Platform 04”. Platformsmagazine.com. Bản gốc lưu trữ ngày 22 tháng 7 năm 2011. Truy cập ngày 18 tháng 8 năm 2011. 
  32. ^ “Billboard presents: Adele”. Link.brightcove.com. Truy cập ngày 18 tháng 8 năm 2011. 
  33. ^ a ă â “Interview with Jonathan Dickins”. HitQuarters. 14 tháng 7 năm 2008. Truy cập ngày 18 tháng 2 năm 2011. 
  34. ^ Jones, Damian (6 tháng 4 năm 2009). “Peñate collaborates with Adele”. BBC News. Truy cập ngày 8 tháng 5 năm 2011. 
  35. ^ “Q&A: Adele's charity acoustic set BBC Radio 1”. BBC News. 12 tháng 11 năm 2008. Truy cập ngày 1 tháng 1 năm 2010. 
  36. ^ “Adele hits the big time”. ITN. 12 tháng 11 năm 2008. [[]][liên kết hỏng]
  37. ^ Youngs, Ian (4 tháng 1 năm 2008). “Entertainment | Sound of 2008: Adele”. BBC News. Truy cập ngày 29 tháng 6 năm 2012. 
  38. ^ “Adele Wins Brits Critics Choice Award”. Billboard.com. 14 tháng 9 năm 2009. Truy cập ngày 29 tháng 6 năm 2012. 
  39. ^ Cairns, Dan (1 tháng 2 năm 2009). “Blue-eyed soul: Encyclopedia of Modern Music The Times”. London. Truy cập ngày 23 tháng 4 năm 2010. 
  40. ^ “This Week's Releases: 21 January 2008”. NME (UK). 21 tháng 1 năm 2008. 
  41. ^ Jade Wright (23 tháng 7 năm 2008). “Views & Blogs—Columnists—Echo columnists—Last Shadow Puppets tipped for Nationwide Mercury music prize”. Liverpool Echo. Truy cập ngày 18 tháng 8 năm 2011. 
  42. ^ “Winners for 6th Annual Urban Music Awards 2008 Announced”. Urban Music Awards. 16 tháng 11 năm 2008. Truy cập ngày 22 tháng 6 năm 2012. 
  43. ^ “Duffy nominated for Q awards double Wales Online”. 3 tháng 9 năm 2008. 
  44. ^ “Estelle And Leona Lewis Lead 2008 Mobo Nominations”. Gigwise. 11 tháng 9 năm 2008. Truy cập ngày 18 tháng 8 năm 2011. 
  45. ^ a ă “Adele Inks U.S. Deal With Columbia”. Billboard. Truy cập ngày 18 tháng 8 năm 2011. 
  46. ^ Billboard – Google Books. Books.google.com. 7 tháng 6 năm 2008. Truy cập ngày 29 tháng 6 năm 2012. 
  47. ^ “The Richmond Times Dispatch”. 23 tháng 10 năm 2008. [[]][liên kết hỏng]
  48. ^ Reed, James (12 tháng 1 năm 2009). “'19' going on superstar”. The Boston Globe. 
  49. ^ “Saturday Night Live Season 34 Josh Brolin/Adele”. The New York Times. Truy cập ngày 8 tháng 5 năm 2011. 
  50. ^ “Adele enjoys an "SNL" bump”. Newsday. 20 tháng 10 năm 2008. 
  51. ^ “AC/DC Debuts At No. 1 With 784,000”. Billboard. 29 tháng 10 năm 2008. 
  52. ^ “Adele Explains Booze & Love Meltdown”. Contactmusic. 8 tháng 6 năm 2009. Truy cập ngày 8 tháng 5 năm 2011. 
  53. ^ “Perry's Platinum Pucker”. RIAA. 23 tháng 3 năm 2009. Truy cập ngày 8 tháng 5 năm 2011. 
  54. ^ “Adele 'puts career on hold for dog”. Digital Spy. 21 tháng 7 năm 2009. Truy cập ngày 8 tháng 5 năm 2011. 
  55. ^ “TWO-TIME GRAMMY AWARD WINNER ADELE TO PERFORM ON CBS INTERACTIVE MUSIC GROUP'S "LIVE ON LETTERMAN" WEBCAST SERIES” (Thông cáo báo chí). CBS. Truy cập ngày 22 tháng 6 năm 2012. 
  56. ^ Klier, Marcus (2 tháng 2 năm 2010). “Live: First heat in Germany”. ESCToday. Truy cập ngày 22 tháng 2 năm 2011. 
  57. ^ (tiếng Đức)“Musicline.de – Chartverfolgung – Adele – My Same”. Media Control Charts. 21 tháng 2 năm 2010. Truy cập ngày 22 tháng 2 năm 2011. 
  58. ^ “Oasis, Radiohead and Adele set for chart re-entries thanks to 'The X Factor'?”. NME. UK. 29 tháng 9 năm 2010. Truy cập ngày 8 tháng 5 năm 2011. 
  59. ^ “Adele and Darius Rucker perform Need You Now on CMT Artists of the Year”. Kncifm.radio.com. 16 tháng 1 năm 2011. Truy cập ngày 18 tháng 8 năm 2011. 
  60. ^ 2011 CMT Music Awards Nominees Revealed. Country Music Television. 2011. Truy cập ngày 7 tháng 5 năm 2011. 

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]