Uông

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
họ Uông viết bằng chữ Hán

Uông là một họ của người châu Á. Họ này có mặt ở Việt NamTrung Quốc (chữ Hán: 汪, bính âm: Wang). Trong danh sách Bách gia tính họ này đứng thứ 104, người mang họ Uông đông thứ 56 ở Trung Quốc theo thống kê năm 2006.

Dòng họ Uông ở Việt Nam[sửa | sửa mã nguồn]

Dòng họ Uông ở Việt Nam khởi nguồn ở xã Thái Hưng, huyện Thái Thụy, tỉnh Thái Bình, có thủy tổ là từ họ Giang. Dòng họ Uông ở Việt Nam hiện tại có 6 nhánh chính là Uông Sỹ, Uông Nhật,Uông Đình, Uông Chu, Uông Ngọc và Uông Văn. Thực chất, tên của dòng họ này chỉ là Uông chứ không có thêm các từ khác. Từ đó mà phân tán đi nhiều nơi hình thành nên các nhánh khác nhau. Nhánh Uông Sỹ hiện nay có nhiều ở Thái Bình, ở nhánh này, từ Sỹ chỉ là tên đệm nên tên có thể không có từ Sỹ. Nhánh Uông Nhật, Uông Đình và Uông Chu số lượng nhiều hơn có mặt chủ yếu ở các tỉnh Nghệ An, Hà TĩnhQuảng Bình. Nhánh Uông Ngọc có số lượng ít hơn tập trung ở khu vực Quảng Xương - Thanh Hóa. Còn nhánh Uông Văn có mặt ở một số tỉnh phía Nam. Ước tính số người mang họ này ở Việt Nam chỉ vào khoảng 200 - 400 người. Một số người nổi tiếng của dòng họ Uông: ông Uông Chu Lưu - phó chủ tịch Quốc hội; ông Uông Ngọc Dậu - giám đốc hệ thời sự - chính trị - tổng hợp VOV1 Đài Tiếng nói Việt Nam; ông Uông Đình Chất - nguyên phó hiệu trưởng Đại học Kiến trúc Hà Nội.[cần dẫn nguồn]

Về dòng họ Uông ở Thái Thụy - Thái Bình[sửa | sửa mã nguồn]

Uông Sỹ Điển có sách chép là Uông Sỹ Dư, sau đổi là Uông Sỹ Lãng, là Văn thần đời Lê Hiển Tông (黎顯宗;1740-1786).

Ông sinh năm Đinh Tỵ 1737 là con của danh sĩ Giang Sỹ Đoan. Sau đổi thành Uông Sỹ Đoan, quê làng Võ Nghị, huyện Thanh Lan, phủ Tiên Hưng, tỉnh Thái Bình, nay là xã Thái Hưng, huyện Thái Thuỵ, tỉnh Thái Bình.

Năm Bính Tuất 1766 ông đỗ tiến sĩ được bổ làm Ngự sử, rồi ra làm Đốc thị Thuận Hóa và Quảng Nam (1781). Sau về triều làm Bồi tụng tước Thao Đường Hầu. Có thời gian ông giảng sách ở cung vua Lê, chúa Trịnh.

Ông cùng với Nguyễn Hoàn, Võ Miên, Phan Trọng Phiên hợp soạn bộ Đại Việt lịch triều đăng khoa lục trong năm 1779 và là tác giả sách Nam hành tiểu kí. Đến năm Nhâm Tuất 1802 ông qua đời. Người đính chính Uông Sơn (Uông Sĩ Sơn, đời thứ 7 dòng họ Uông Sỹ), Uông Hải Đăng, đời thứ 9 dòng họ Uông )

Gia đình họ Uông hiếu học[sửa | sửa mã nguồn]

- Một gia đình họ Uông ở thị trấn Ba Đồn - Quảng Trạch - Quảng Bình có 4 người con đều đạt trình độ Thạc sĩ. Điều đáng nói là bố của 4 người con này làm nghề cắt tóc. Ông tên là Uông Đình Vũ, sinh năm 1949, nguyên quán Xuân Trường - Thanh Chương - Nghệ An. Các con của ông (đều có trình độ thạc sĩ) là: Uông Thị Ngọc Mai, Uông Thị Ngọc Loan, Uông Đình Hoàng, Uông Đình Thái.

- Ông Vũ sinh ra trong một gia đình nghèo, đông anh em ở miền quê Xuân Trường (Thanh Chương, Nghệ An). Học hết lớp 7, ông tình nguyện nhập ngũ, được phân về đơn vị 34066 thuộc Tổng cục kỹ thuật - Bộ Quốc phòng, đóng tại Bắc Thái (cũ). Từ năm 1967 đến 1975, nhiệm vụ chính của ông là làm quân giới (sản xuất vũ khí, đạn dược...) phục vụ chiến đấu. Sau ngày hòa bình lặp lại, ông chuyển ngành sang làm công nhân quốc phòng thuộc Nhà máy Z115, Tổng cục Kỹ thuật - kinh tế, đến năm 1991 nghỉ hưu với tay nghề bậc 7/7.

- Như vậy, ở xã Xuân Trường - Thanh Chương - Nghệ An có một dòng họ Uông Đình. Có dịp tôi sẽ liên lạc với dòng họ Uông này.

Một số nhà thờ họ Uông[sửa | sửa mã nguồn]

- Mộ tổ họ Uông: xã Thái Hưng, huyện Thái Thụy, tỉnh Thái Bình- nơi phát sinh ra dòng họ Uông mà ở đây gọi là Uông Sĩ. Cũng là khởi nguồn cho các chi họ Uông khác. Phó chủ tịch quốc hội Uông Chu Lưu đã về đây cúng viếng. - Nhà thờ họ Uông cổ nhất: Đó là nhà thờ họ Uông Văn ở xóm Ba Gac, thôn Trúng Đích - Hạ Mỗ - Đan Phượng - Hà Nội (Hà Tây cũ). Nhà thờ được xây dựng cách nay khoảng 150 năm, nằm trong khuôn viên gia đình ông Uông Văn Từ. Nhà thờ này mới được trùng tu năm 2009.

- Nhà thờ họ Uông Ngọc ở Quảng Thái - Quảng Xương - Thanh Hóa: Thờ ông Uông Ngọc Châu, một đại thần - võ tướng thời nhà Lê. Ông có công đánh giặc Chiêm thành,sau được Nhà Vua giao cho vùng đất ven biển xứ Thanh (nay là Quảng Thái - Quảng Xương - Thanh Hóa)để sinh sống, an dân. Ông được người dân nơi đây phong là Thành hoàng Làng. Nhà thờ ông được con cháu họ Uông Ngọc xây vào lại vào năm 2000 (trước đây đã có nhà thờ ông, nhưng quy mô nhỏ hơn).Nhà thờ nằm trong khuôn viên nhà ông Uông Ngọc Thuận.

- Nhà thờ họ Uông ở huyện Hương Sơn - tỉnh Hà Tĩnh có khoảng 100 hộ có khoảng 350 đinh. Đây là dòng Uông Văn (Sau này 1 nhánh là Uông Xuân - Điển hình có anh hùng Uông Xuân Lý). Tương truyền đây là nơi thờ cụ Bà (Cụ ông thờ ở huyện Nghi Xuân chôn ở trên núi Quyết). Tế họ vào ngày 16 tháng 7 âm lịch hằng năm. Khi tế họ thì con cháu ở Nghi Xuân và Hưng Lộc đều về tham gia.

Nhà thờ Uông tộc tại Hưng Lộc Vinh. Nhà thờ họ Uông trước đây thuộc làng Ninh Thọ, xã Đức Thịnh, tổng Yên Trường, phủ Hưng Nguyên (nay là làng Đức Thịnh, xã Hưng Lộc, thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An). Di tích cách trung tâm thành phố Vinh khoảng 4km về phía Đông Bắc. Du khách thập phương có thể dễ dàng tham quan di tích bằng đường bộ với nhiều loại phương tiện theo tuyến đường quốc lộ Vinh – Cửa Hội – Cửa Lò.

Dòng họ Uông là một trong những dòng họ có mặt sớm nhất trên mảnh đất Hưng Lộc, nổi tiếng bởi truyền thống hiếu học và yêu nước. Trải qua các triều đại, nhiều người làm quan to, đậu đạt, thành danh như: Uông Trọng Công (Đại tướng Đô đốc thời Lê), Uông Mạnh Chướng (Thượng thư Bộ Lại thời Nguyễn), Uông Văn Hoan, Uông Văn Đường, Uông Nhật Hân, Uông Sỹ Tư (đậu Tú tài, Thám hoa thời Nguyễn); Uông Sỹ Túy, Uông Huy Danh (tham gia phong trào Văn Thân – Cần Vương do vua Hàm Nghi khởi xướng)…

Nhà thờ họ Uông được xây dựng năm Mậu Dần – thời Nguyễn (1878) để thờ phụng tổ tiên dòng họ Uông.

Không chỉ có nhiều giá trị về văn hóa, Nhà thờ họ có những giá trị lịch sử to lớn. Đây là nơi đã ghi dấu những năm tháng đấu tranh kiên cường của nhân dân Hồng Lam trong phong trào Xô Viết Nghệ Tĩnh 1930-1931.

Tháng 7/1929, đồng chí Nguyễn Phong Sắc (cán bộ Đông Dương Cộng Sản Đảng) đã về bắt mối với đồng chí Hoàng Trọng Trì và một số đảng viên Tân Việt; hội viên Việt Nam Thanh niên Cách mạng đồng chí Hội ở Lộc Đa, Đức Thịnh, Yên Dũng lập ra “Chi bộ Đông Dương Cộng sản Đảng nông thôn phía Đông Bắc Vinh – Bến Thủy” gồm 7 đảng viên do đồng chí Hoàng Trọng Trì làm Bí thư. Đây là một trong năm chi bộ cộng sản đầu tiên của Hưng Nguyên.

Tháng 6/1930, Xứ ủy Trung Kỳ và Tỉnh ủy Vinh – Bến Thủy đã cử cán bộ về trực tiếp chỉ đạo phong trào ở Lộc Đa. Với vị trí gần trung tâm Vinh – Bến Thủy, địa thế uy nghi, khuất tịch, cây cối rậm rạp, ít có người qua lại nên Xứ ủy Trung Kỳ và Tỉnh ủy Vinh – Bến Thủy đã quyết định chọn Nhà thờ họ Uông làm cơ sở hoạt động và lãnh đạo trực tiếp phong trào Xô Viết Nghệ Tĩnh.

Tháng 7/1930, với chủ trương “…Chỉ có đấu tranh mới đòi được quyền lợi… Chỉ khi nào anh em đứng dậy làm cách mạng Cộng sản, đánh đổ tư sản đế quốc thì mới hết khổ.” Xứ ủy Trung Kỳ đã phát động quần chúng đấu tranh “Đòi quyền lợi ruộng đất cho nông dân và đời sống cho công nhân. Bỏ sưu thuế, chia ruộng đất của đại địa chủ cho dân cày nghèo…”


Tối 15/7/1930, tại Nhà thờ họ Uông đã diễn ra cuộc họp của Xứ ủy Trung Kỳ và Tỉnh ủy Vinh – Bến Thủy để đánh giá tình hình các cơ sở Đảng. Nhận thấy sự tồn tại của chi bộ ghép 7 làng không còn phù hợp với phong trào cách mạng của nhân dân, Xứ ủy Trung Kỳ đã quyết định tách thành 2 chi bộ là Lộc Đa và Đức Thịnh để chỉ đạo phong trào sâu sát ở từng địa phương. Chi bộ Lộc Đa gồm các đồng chí Dương Kiên, Hoàng Ngãi, Phạm Thành (đồng chí Dương Kiên được bầu làm Bí thư). Chi bộ Đức Thịnh gồm các đồng chí: Uông Văn Tự, Uông Nhật Vượng, Uông Nhật Hoành (đồng chí Uông Văn Tự làm Bí thư).

Đến đầu tháng 9/1930, tại Nhà thờ họ Uông, Xứ ủy Trung Kỳ tiếp tục tổ chức cuộc họp với sự tham gia của các đồng chí: Nguyễn Phong Sắc, Nguyễn Khuê, Nguyễn Đình Cận, Nguyễn Đức Cảnh, Nguyễn Duy Trinh và một số đại biểu của các đảng bộ tỉnh Nghệ An, Hà Tĩnh và Thanh Hóa. Hội nghị tiến hành tổ chức một loạt cuộc đấu tranh quyết liệt hơn, rộng rãi hơn với yêu cầu gắn liền lợi ích chính trị với lợi ích dân sinh – kinh tế, phát động quần chúng hình thành một thế trận mới nhằm xóa bỏ bộ máy chính quyền tay sai ở cơ sở, lập nên chính quyền Xô Viết công nông.

Các cuộc đấu tranh đã diễn ra sôi nổi, mạnh mẽ và đạt được nhiều thắng lợi ở Lộc Đa – Đức Thịnh cũng như các huyện trong hai tỉnh Nghệ Tĩnh.

Ngày 30/8/1930, tại Nam Đàn đã diễn ra cuộc biểu tình của 3000 nông dân kéo lên huyện đường buộc tri huyện phải ký văn bản chấp nhận các yêu sách của quần chúng và không được nhũng nhiễu nhân dân.

Ngày 1/9/1930, hai vạn nhân dân Thanh Chương đã vượt sông Lam sang vây phá huyện đường khiến tên tri huyện và bọn nhan lại hoảng loạn, bỏ công đường chạy tháo thân. Cuộc đấu tranh giành thắng lợi triệt để, chính quyền Xô Viết ra đời đầu tiên tại huyện Thanh Chương.

Đỉnh cao của phong trào Xô Viết Nghệ Tĩnh là cuộc đấu tranh ngày 12/9/1930, của 8000 quần chúng nhân dân tại Hưng Nguyên và Nam Đàn. Thực dân Pháp đã đưa máy bay đến tàn sát làm 217 người chết và 125 người bị thương…

Tại Lộc Đa và Đức Thịnh, theo chủ trương của Xứ ủy và Tỉnh ủy, Chi bộ Lộc Đa - Đức Thịnh đã tích cực vận động quần chúng đấu tranh đòi bọn hào lý địa phương phải trả lại tiền phù thu lạm bổ, các thứ thuế điền, tiền nghĩa thương để chia cho dân nghèo, cảnh cáo, vạch mặt những tên tay sai của thực dân. Trước khí thế đấu tranh mạnh mẽ của quần chúng, bọn hào lý các làng phải đem lúa, tiền nhũng lạm trả lại cho dân…

Tháng 9/1930, trong khí thế nổi dậy thành lập chính quyền Xô Viết ở nhiều nơi như Yên Dũng và một số làng, xã ở Hưng Nguyên, tại Lộc Đa chính quyền Xô Viết cũng ra đời do đồng chí Hoàng Ngãi phụ trách.

Sau khi ra đời, chính quyền Xô Viết ở Lộc Đa đã nhanh chóng thành lập các tổ chức, đoàn thể cách mạng như: 17 tổ Nông hội đỏ với 227 hội viên, hội Phụ nữ giải phóng có 40 hội viên, Đoàn Thanh niên Cộng sản có 120 đoàn viên, đội Tự vệ đỏ có 15 đội viên…

Tháng 11/1930, chính quyền Xô Viết vận động nhân dân đứng lên yêu cầu hào lý địa phương cho nhân dân “vay” quỹ “nghĩa thương”, buộc chúng phải thực hiện không dám cưỡng lại. Xã bộ nông bắt bọn hào lý nộp ngay 400 quan tiền và đem chia cho dân nghèo. Cũng trong thời gian này chính quyền Xô Viết ở Lộc Đa, Đức Thịnh phối hợp với chính quyền Xô Viết ở Yên Dũng, Đức Hậu, Ân Hậu…lãnh đạo nông dân đến “vay” thóc của các địa chủ lớn…

Khi phát hiện ra các hoạt động của chính quyền Xô Viết ở các làng, xã và phong trào nông dân nổi dậy đấu tranh ở nông thôn mà điểm nóng là Lộc Đa, Đức Thịnh, Yên Dũng… thực dân Pháp đã cấp tốc dùng sức mạnh quân sự để đối phó. Chúng đem lính khố đỏ và lính khố xanh đóng 3 đồn tại Đền Trìa, làng Tháp (cách nhà thờ họ Uông 100m), quán Cố Kham trên đường Vinh – Cửa Hội, đồng thời chúng buộc bọn hào lý lập ra nhiều điếm canh trong các xóm ngõ. Tuy nhiên, chi bộ Đảng Lộc Đa, Đức Thịnh vẫn lãnh đạo nhân dân bất chấp sự đàn áp, khủng bố của kẻ thù, tổ chức đấu tranh dưới nhiều hình thức khác nhau như: mít tinh kỷ niệm Quảng Châu Công Xã (đêm 26/12/1930 với sự tham gia của hàng nghìn người); mít tinh phản đối địch khủng bố, tàn sát nhân dân Song Lộc và vận động ủng hộ các nạn nhân ở Song Lộc…

Tuy chính quyền Xô Viết ở Lộc Đa, Đức Thịnh chỉ tồn tại trong thời gian không dài nhưng đã mang lại một làn gió mới và để lại dấu ấn sâu đậm trong mỗi người dân nơi đây.

Nhà thờ họ Uông là một trong những địa điểm làm việc của Xứ ủy Trung kỳ và Tỉnh ủy Vinh – Bến Thủy, nơi đây Xứ ủy Trung Kỳ đã có những quyết sách lớn chỉ đạo phong trào Xô Viết Nghệ Tĩnh. Đây cũng là nơi in ấn, cất dấu tài liệu bí mật của Đảng trong phong trào Xô Viết Nghệ Tĩnh năm 1930-1931.

Sau cách mạng Tháng 8/1945, xét thấy công lao của những người nuôi dưỡng, bảo vệ cơ quan Xứ ủy Trung Kỳ ở Đức Thịnh, Nhà nước đã tặng bằng “Có công với nước” cho gia đình ông Uông Văn Tự, Uông Đình Nghĩa, Uông Nhật Hoành….

Không chỉ là một trong những di tích tiêu biểu mang giá trị lịch sử của xã Hưng Lộc, Nhà thờ họ Uông còn mang trong mình nhiều giá trị văn hóa tốt đẹp của nhân dân Lộc Đa – Đức Thịnh.

Ban đầu, Nhà thờ họ Uông gồm 3 gian nhà tranh, tọa lạc trên một khu đất rộng, xung quanh cây cối xanh tốt. Trước mặt di tích là cánh đồng rộng mênh mông của nhân dân Hưng Lộc. Năm 1944, nhà thờ được xây cất lại vững chãi với diện tích 30m2 bằng nhiều loại gỗ quý như lim, săng lẻ…, mái được lợp ngói đỏ Hưng Kỳ. Bài trí nội thất gồm 3 gian thờ: gian giữa thờ Đại tướng Đô đốc Uông Trọng Công; gian phải thờ Thượng thư Bộ lại Uông Mạnh Chướng; còn gian trái thờ con cháu dòng họ Uông các đời sau. Kết cấu kiến trúc của nhà thờ được xây dựng theo kiểu: “Tiền hạ - Hậu trụ” để tiện cho việc thờ cúng. Trên các đầu đao của nhà thờ có 8 con rồng chầu lại. Ở giữa nóc có biểu tượng hổ phù và mặt nguyệt. Đến năm 1982 nhà thờ tiếp tục được tu sửa lại trước sự tàn phá của thiên tai. Trải qua bao thăng trầm của lịch sử, hiện nay Nhà thờ họ Uông vẫn còn giữ được nhiều hiện vật quý báu như: 5 ngai thờ, một số mâm chè, đài sáp, lư hương, gươm, mũ thờ…

Hàng năm, dòng họ Uông thường tổ chức tế lễ tổ tiên, tưởng nhớ các liệt sỹ đã hy sinh trong phong trào Xô Viết Nghệ Tĩnh vào các ngày rằm, mồng một âm lịch. Di tích này trở thành một trong những địa chỉ để con cháu gần xa và du khách thập phương tham quan, khảo cứu về những năm tháng đấu tranh oanh liệt của ông cha trong những năm 1930-1931.

Với những giá trị to lớn đó, Nhà thờ họ Uông đã được Bộ Văn hóa Thông tin (nay là Bộ Văn hóa Thể thao và Du Lịch) công nhận là di tích lịch sử, văn hóa cấp quốc gia vào năm 1992.

Người Việt Nam họ Uông nổi tiếng[sửa | sửa mã nguồn]

Người Trung Quốc họ Uông nổi tiếng[sửa | sửa mã nguồn]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]