Nhất Cú Trí Giáo

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
(đổi hướng từ Nhất Cú Tri Giáo)
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm
Thiền sư Trung Quốc
Tam.jpg

Bồ-đề-đạt-ma đến Huệ Năng

Ngưu Đầu Thiền

Nhánh Thanh Nguyên Hành Tư

Nhánh Nam Nhạc Hoài Nhượng

Lâm Tế tông

Hoàng Long phái

Dương Kì phái

Tào Động tông

Quy Ngưỡng tông

Vân Môn tông

Pháp Nhãn tông

Khác


Thiền Sư Nhất Cú Trí Giáo(zh: 一 句 智 教), là một thiền sư trung quốc, thuộc Tào Động Tông đời thứ 30. Sư sống vào thế kỷ XVI – XVII, là đệ tử nối pháp của thiền sư Tử Mai Tịnh Chu. Sư là thầy, người đã truyền chánh pháp nhãn tạng của Tào động tông cho thiền sư Thông Giác Thủy Nguyệt. Sau này Thiền sư Thông Giác trở về Việt nam và mở đầu tông Tào Động tại Việt nam.

Cơ duyên – Hành trạng[sửa | sửa mã nguồn]

Sư xuất gia và tham Thiền với Thiền Sư Tịnh Chu ở núi An Kiết. Cơ duyên ngộ đạo của sư được ghi lại như sau:

Một hôm, trong giờ Tiểu tham, Sư hỏi Thiền sư Tịnh Chu: Ngồi vững trên sóng dứt bụi bặm, là ý chỉ thế nào?

Tịnh Chu đáp bằng bài kệ. Sư liền đảnh lễ.

Tịnh Chu hỏi: Người hiểu được cái gì mà đảnh lễ?

Sư thưa: Lửa to đốt núi, một đốm tự rơi.

Tịnh Chu bảo:

Lửa tàn tro lạnh khói hơi bặt

Gió thổi trăng trong sương mù ta

Hãy nói khi ấy thế nào?

Sư thưa: Không đáp được. Tịnh Chu bảo:

 Ngọn núi cần nhóm lửa

 Dưới mây gió thổi nhanh.

 Ý này thế nào ?

Sư đáp:

Tiếng chuông trống hòa nhau  Nước sóng cồn theo vậy.

Hòa thượng Tịnh Chu thấy sư lanh lợi nên cho nhập chúng tu tập, sau này được Thiền Sư Tịnh Chu truyền tâm ấn.

Sư đến Nhân Vương Hộ Quốc Thiền Tự, núi Phụng Hoàng, Hồ Châu xiển dương Tào Động Tông. Sư khai đường dạy chúng, đạo pháp rất tinh nghiêm. Học giả bốn phương nghe danh qui tụ về rất đông.

Từng có một vị tăng tên Thông Giác người việt nam sang hồ châu yết kiến sư tu học và được truyền tâm ấn. Sau này Thông Giác đem Tào Động Tông truyền vào Việt Nam.

Sắp tịch, sư truyền pháp cho đệ tử Thông Giác qua bài kệ:

春色色草茸茸

萬宇枝條開切切。一莖楊發產重重

水浸月圓澄海底。山頭日出露巖峰

Xuân sắc sắc, thảo nhung nhung

Vạn vũ chi điều khai thiết thiết

Nhất hành dương phát sản trùng trùng

Thủy tẩm nguyệt viên trừng hải để

Sơn đầu nhật xuất lộ nham phong.

*Xuân sặc sỡ, cỏ như nhung

Khắp chốn ngàn cây bông trổ gấp

Một cành dương liễu nẩy trùng trùng

Trăng chìm đáy biển nước sóng lặng

Ðỉnh núi nhật lên bày chót cao.

Nói kệ xong, sư ngồi kiết tọa mà thị tịch. Đồ chúng xây tháp tôn thờ tại núi Hồ Châu.

Tham Khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  • Fo Guang Ta-tz'u-tien 佛光大辭典. Fo Guang Ta-tz'u-tien pien-hsiu wei-yuan-hui 佛光大辭典編修委員會. Taipei: Fo-Guang ch'u-pan-she, 1988. (Phật Quang Đại Từ điển. Phật Quang Đại Từ điển biên tu uỷ viên hội. Đài Bắc: Phật Quang xuất bản xã, 1988.)
  • Das Lexikon der Östlichen Weisheitslehren, Bern 1986.
  • Thích Thanh Từ: Thiền sư Trung Hoa I-III. TP HCM 1990, 1995.
  • Dumoulin, Heinrich:
Geschichte des Zen-Buddhismus I. Indien und China, Bern & München 1985.
Geschichte des Zen-Buddhismus II. Japan, Bern & München 1986.
Bảng các chữ viết tắt
bo.: Bod skad བོད་སྐད་, tiếng Tây Tạng | ja.: 日本語 tiếng Nhật | ko.: 한국어, tiếng Triều Tiên |

pi.: Pāli, tiếng Pali | sa.: Sanskrit संस्कृतम्, tiếng Phạn | zh.: 中文 chữ Hán