Quốc ca Liban

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
النشيد الوطني اللبناني
Quốc ca Liban
Flag of Lebanon.svg
Quốc kỳ của nước Cộng hòa Liban

Quốc ca của  Liban
Lời Rashid Nakhle
Nhạc Wadih Sabra, 1925
Được chấp nhận 12/7/1927
Đoạn nhạc mẫu

Kulluna lil-watan (tạm dịch: Tất cả chúng ta, vì Tổ quốc!; thường gọi là النشيد الوطني اللبناني an-našīd al-waṭaniyy al-lubnāniyy, tức "quốc ca Liban") là quốc ca Liban. Nó được viết năm 1925 bởi Rashid Nakhle & Wadih Sabra. Nó được thông qua ngày 12 tháng 7 năm 1927, 7 năm sau khi, Đại Liban, lãnh thổ ủy trị của Pháp, được thành lập.

Lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

Nó được chọn làm quốc ca Liban sau một cuộc thi toàn quốc.

Âm nhạc[sửa | sửa mã nguồn]

Âm nhạc của bài hát ảnh hưởng bởi sự tiếp xúc của Liban với nền văn hóa phương Tây vào cuối thế kỷ 19. nó được sáng tác bởi nhạc sĩ người Pháp Wadih Sabra vào năm 1925.[1]

Tranh cãi[sửa | sửa mã nguồn]

Kênh truyền hình Al-Jadeed đã phát một bộ phim tài liệu nhỏ về quốc ca Liban, cho rằng nó bị ăn cắp từ một bài hát dành cho Muhammad Ibn Abd al-Karim al-Khattabi, người đứng đầu Cộng hòa Rif, được sáng tác bởi nhạc sĩ Liban Mohammed Flayfel.[2] Nó còn cho thấy một tài liệu yêu cầu bồi thường về vấn đề này.[3]

Lời[sửa | sửa mã nguồn]

Tiếng Ả Rập[sửa | sửa mã nguồn]

Đoạn 1 (đoạn làm quốc ca)[sửa | sửa mã nguồn]

كلنـا للوطـن للعـلى للعـلم
ملء عين الزّمن سـيفنا والقـلم
سهلنا والجبـل منبت للرجـال
قولنا والعمـل في سبيل الكمال
كلنا للوطن للعلى للعلم
كلّنا للوطن

Đoạn 2 (thường không hát)[sửa | sửa mã nguồn]

شيخنـا والفتـى عنـد صـوت الوطن
أسـد غـاب متى سـاورتنا الفــتن
شــرقنـا قلبـه أبــداً لبـنان
صانه ربه لمدى الأزمان
كلنا للوطن للعلى للعلم
كلنا للوطن

Đoạn 3 (thường không hát)[sửa | sửa mã nguồn]

بحـره بــرّه درّة الشرقين
رِفـدُه بــرّهُ مالئ القطبين
إسمـه عـزّه منذ كان الجدود
مجــدُهُ أرزُهُ رمزُهُ للخلود
كلّنا للوطن للعلى للعلم
كلّنا للوطن


Phiên âm[sửa | sửa mã nguồn]

Đoạn 1 (đoạn làm quốc ca)[sửa | sửa mã nguồn]

Kullunā lil-waṭan, lil-ʻula lil-ʻalam
Milʼu ʻayn az-zaman, saifuna wal-qalam
Sahlunā wal-jabal, manbitun lir-rijāl
Qawlunā wal-ʻamal fī sabīl-el-kamāl
Kullunā lil-waṭan, lil-ʻulā lil-ʻalam,
Kullunā lil-waṭan

Đoạn 2 (thường không hát)[sửa | sửa mã nguồn]

Šayḫunā wal-fatā, ʻinda ṣawṭ-il-waṭan
ʼUsdu ġhaben matā, sāwaratn-āl-fitan
Šarqunā qalbuhu, ʼabadan Lubnān
Ṣānahu rabbuhu, li-madā-l-azmān
Kullunā lil-waṭan, lil-ʻula lil-ʻalam,
Kullunā lil-waṭan

Đoạn 3 (thường không hát)[sửa | sửa mã nguồn]

Baḥruhu barruhu, durratush-sharqayn
Rifduhu birruhu, māliʼu l-qutbayn
ʼIsmuhu ʻizzuhu, munzu kāna-l-judūd
Majduhu ʼarzuhu, ramzuhu lil-ḫulūd
Kullunā lil-waṭan, lilʻula lil-ʻalam
Kullunā lil-waṭan

Tiếng Pháp[sửa | sửa mã nguồn]

Đoạn 1 (đoạn làm quốc ca)[sửa | sửa mã nguồn]

Tous pour la Patrie, pour la Gloire, pour le drapeau !
Depuis les premiers siècles, toujours avec notre épée et notre crayon
Nos plaines et nos montagnes sont sources de nos hommes vaillants
Nos paroles et actions, pour atteindre la Perfection
Tous pour la Patrie, pour la Gloire, pour le drapeau, Tous pour la Patrie !

Đoạn 2 (thường không hát)[sửa | sửa mã nguồn]

Les vieux et les jeune à l'appel de la Patrie
Lion[s] de jungle[s] lorsque l'on nous défie
Le cœur de Notre Orient restera pour toujours le Liban
Nous protège son Dieu quelle que soit l'époque
Tous pour la Patrie, pour la Gloire, pour le drapeau, Tous pour la Patrie !

Đoạn 3 (thường không hát)[sửa | sửa mã nguồn]

Sa mer et sa terre, Perle des deux Orients
Son symbole est sa charité, elle atteint les deux pôles
Son nom et son triomphe [sont connus] depuis l'époque de nos aïeux
Sa Gloire et son Cèdre, symboles jusqu'à l'éternité
Tous pour la Patrie, pour la Gloire, pour le drapeau, tous pour la Patrie !

dịch Tiếng Việt[sửa | sửa mã nguồn]

Đoạn 1 (đoạn làm quốc ca)[sửa | sửa mã nguồn]

Tất cả chúng ta, vì Tổ quốc, vì lá cờ và vinh quang!
Dũng khí và phong thái của chúng ta được cả thế giới ghen tị.
Núi cao và thung sâu của chúng ta đã nuôi nấng cả đấng anh tài.
Chúng ta hiến thân cho Tổ quốc, xây dựng sự nghiệp.
Tất cả chúng ta, vì Tổ quốc, vì lá cờ và vinh quang!
Tất cả chúng ta, vì Tổ quốc!

Đoạn 2 (thường không hát)[sửa | sửa mã nguồn]

Già trẻ, gái trai trong cả nước đón lời kêu gọi của Tổ quốc,
Mỗi khi Tổ quốc hữu sự, họ mạnh mẽ như mãnh sư.
Trái tim của phương Đông bao giờ cũng là Liban,
Nguyện Chúa bảo vệ chúng ta cho đến ngày tận thế.
Tất cả chúng ta, vì Tổ quốc, vì lá cờ và vì vinh quang!
Tất cả chúng ta, vì Tổ quốc!

Đoạn 3 (thường không hát)[sửa | sửa mã nguồn]

Đất đai và hải dương của Tổ quốc là hòn ngọc phương Đông.
Chiến công Người vang dội khắp hai cực địa cầu.
Danh tiếng Người huy hoàng từ khởi thủy hồng hoang.
Cây tuyết tùng thẳng vút tượng trưng cho sự bất hủ.
Tất cả chúng ta, vì Tổ quốc, vì lá cờ và vinh quang!
Tất cả chúng ta, vì Tổ quốc!

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Zuhur, Sherifa (2001). Colors of enchantment: theater, dance, music, and the visual arts of the Middle East . Cairo: American university in Cairo press. tr. 456. ISBN 9789774246074. Truy cập ngày 8 tháng 10 năm 2009. 
  2. ^ “Mini-Documentary on the Lebanese National Anthem (after the news)”. Al-Jadeed. 
  3. ^ “Mini-Documentary on the Lebanese National Anthem (part 2) (after the news)”. Al-Jadeed.