Bước tới nội dung

Lupang Hinirang

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Lupang Hinirang
Tiếng Việt: Mảnh đất được Chúa chọn

Quốc ca của  Philippines
Tên khácBayang Magiliw
LờiJose Palma, 1899
NhạcJulian Felipe, 1898
Được thông qua1898
Mẫu âm thanh
Lupang Hinirang (Instrumental)

Lupang Hinirang (tiếng Việt: Mảnh đất được Chúa chọn) là quốc ca của Philippines. Nhạc bài hát này được Julian Felipe sáng tác năm 1898 với lời bằng tiếng Tây Ban Nha chuyển thể từ bài thơ Filipinas, do một nhà thơ - người lính tên là Jose Palma sáng tác năm 1899[cần dẫn nguồn].

Ban đầu là một bản nhạc nền, nó không có ca từ và khi nó được chọn làm quốc ca của Philippines và sau đó được cử lên tại tuyên ngôn độc lập Philippines ngày 12 tháng 6 năm 1898. Trong thời kỳ Mỹ chiếm đóng Philippines, chính quyền thực dân cấm sử dụng bài hát này bằng Luật quốc kỳ.[1] Luật này đã được bãi bỏ năm 1919 và bài hát đã được dịch sang tiếng Anh và được quy định thành "Quốc ca Philippines". Bài quốc ca đã được dịch sang tiếng Tagalog hồi đầu thập niên 1940. Bản tiếng Pilipino (dạng chuẩn của tiếng Tagalog) năm 1956, được sửa đổi thập niên 1960, đã được dùng làm quốc ca hiện nay.

Nội dung tiếng Philippines

[sửa | sửa mã nguồn]
Bản chính tiếng Filipino Bản gốc tiếng Tây Ban Nha Bản dịch tiếng Việt

Bayang magiliw,
Perlas ng silanganan,
Alab ng puso
Sa dibdib mo'y buhay.

Lupang hinirang,
Duyan ka ng magiting,
Sa manlulupig
Di ka pasisiil.

Sa dagat at bundok,
Sa simoy at sa langit mong bughaw,
May dilag ang tula
At awit sa paglayang minamahal.

Ang kislap ng watawat mo'y
Tagumpay na nagniningning;
Ang bituin at araw niya,
Kailan pa ma'y di magdidilim.

Lupa ng araw, ng luwalhati't pagsinta,
Buhay ay langit sa piling mo;
Aming ligaya na 'pag may mang-aapi,
Ang mamatay nang dahil sa 'yo.

Tierra adorada,
Hija del sol de Oriente,
Su fuego ardiente
En ti latiendo está.

Tierra de amores,
Del heroísmo cuna,
Los invasores,
No te hollarán jamás.

En tu azul cielo, en tus auras,
En tus montes y en tu mar,
Esplende y late el poema
De tu amada libertad.

Tu pabellón, que en las lides,
La victoria iluminó,
No verá nunca apagados
Sus estrellas y su sol.

Tierra de dichas, de sol y amores,
En tu regazo dulce es vivir.
Es una gloria para tus hijos,
Cuando te ofenden, por ti morir.

Ôi Tổ quốc nơi này
Đó chính là hòn ngọc Viễn Đông,
Sâu tận trái tim này
Tình yêu ấy luôn vững bền.

Mảnh đất được Chúa chọn
Làm nôi nuôi lớn những nhân tài
Chớ một thế lực nào
Dám động đến đất tên Người.

Ôi từng rặng núi cao vời, bờ biển trải dài
Cùng khoảng trời, ngọn gió khơi
Thật là lộng lẫy, oai hùng, tự do, độc lập
Tựa những khúc ca, vầng thơ tự hào.

Lá cờ thân yêu của Người đẹp tươi oanh liệt
Hào quang chiến thắng khắp nơi.
Mặt trời và ngôi sao vàng, ngời sáng suốt đời
Và sẽ luôn kiêu hãnh với đồng bào.

Đất Mẹ của ta vinh quang, hạnh phúc, tuyệt vời làm sao,
Đất Mẹ của ta là thiên đường trời ban
Tiếng gọi thiêng liêng – Tổ quốc, ta sẽ đáp lại đồng thanh,
Hiến dâng cả máu, gìn giữ nghìn đời sau!

Chú thích

[sửa | sửa mã nguồn]
  1. ↑ William J. Pomeroy (Published 1992), The Philippines: Colonialism, Collaboration, and Resistance, International Publishers Co., tr. 10, ISBN 0717806928, truy cập ngày 26 tháng 1 năm 2008 {{Chú thích}}: Kiểm tra giá trị ngày tháng trong: |year= (trợ giúp)Quản lý CS1: năm (liên kết); excerpted quote: "In 1909 an entire band was sent to prison for playing the Philippine National Anthem at a festival in Quiapo, Manila.", citing Agoncillo, Teodoro A. (2005), The Revolt of the Masses: The Story of Bonifacio and the Katipunan, Quezon City: University of the Philippines Press