Cầy fossa

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
(đổi hướng từ Cryptoprocta ferox)
Bước tới: menu, tìm kiếm
Cryptoprocta ferox
Cryptoprocta Ferox.JPG
Tình trạng bảo tồn
Phân loại khoa học
Giới (regnum) Animalia
Ngành (phylum) Chordata
Lớp (class) Mammalia
Bộ (ordo) Carnivora
Họ (familia) Eupleridae
Chi (genus) Cryptoprocta
Bennett, 1833
Loài (species) C. ferox
Danh pháp hai phần
Cryptoprocta ferox
Bennett, 1833[2]
Phân bố(Cryptoprocta ferox)[3]
Phân bố
(Cryptoprocta ferox)[3]
Danh pháp đồng nghĩa
Cryptoprocta ferox MHNT.OST.47 Crane profil.jpg

Cryptoprocta ferox hay còn được gọi là cầy fossa, là một loài động vật có vú trong họ Eupleridae, bộ Ăn thịt. Loài này được Bennett mô tả năm 1833.[2] Loài này có hình dạng giống mèo và là loài đặc hữu của Madagascar. Phân loại của nó đã gây tranh cãi vì những đặc điểm hình thể của nó tương tự như của mèo, nhưng những đặc điểm khác cho thấy nó có một mối quan hệ chặt chẽ với họ Cầy (cầy hương và họ hàng của chúng). Các nghiên cứu di truyền chứng minh rằng cầy fossa và tất cả các động vật ăn thịt Malagasy khác có quan hệ chặt chẽ với nhau tạo thành một nhánh, được công nhận là họ Eupleridae, hiện giờ chúng được coi là những loài thú ăn thịt đã xâm chiếm hòn đảo Madagascar khoảng 18 đến 20 triệu năm trước đây.

Mô tả[sửa | sửa mã nguồn]

Cầy fossa là động vật ăn thịt có vú lớn nhất trên đảo Madagascar và được so sánh với một con báo nhỏ. Con trưởng thành có chiều dài đầu thân 70–80 cm (28–31 in) và nặng khoảng 5,5-8,6 kg (12-19 lb), với những con đực lớn hơn con cái. Nó có móng vuốt thu vào và mắt cá chân linh hoạt cho phép nó leo lên và xuống cây hướng đầu về phía trước, và cũng hỗ trợ nhảy từ cây này sang cây khác. Cầy fossa là loài duy nhất trong họ của mình có hình dạng cơ quan sinh dục có những đặc điểm của mèo và linh cẩu.

Lối sống[sửa | sửa mã nguồn]

Loài này phân bố rộng rãi, mặc dù mật độ thường thấp. Nó được tìm thấy chỉ trong môi trường sống của rừng, và tích cực đi săn cả ngày và đêm. Trên 50% chế độ ăn uống của nó bao gồm vượn cáo, các loài linh trưởng đặc hữu được tìm thấy trên đảo; chuột nhím tenrec, động vật gặm nhấm, thằn lằn, chim và các động vật khác cũng được ghi nhận như là con mồi.[1]

Sinh sản[sửa | sửa mã nguồn]

Giao phối thường xảy ra trên cây trên các nhánh ngang và có thể kéo dài nhiều giờ. Lứa đẻ dao động từ một đến sáu con, con non được sinh ra chưa mở mắt và không có răng. Con non cai sữa sau 4-5 tháng và độc lập sau một năm. Thành thục sinh dục khoảng 3-4 tuổi, và tuổi thọ trung bình trong điều kiện nuôi nhốt là 20 năm.[1]

Hình ảnh[sửa | sửa mã nguồn]

Ghi chú[sửa | sửa mã nguồn]

Cầy fossa được liệt kê như là loài "dễ bị tổn thương" bởi Liên minh Quốc tế Bảo tồn Thiên nhiên (IUCN). Nói chung chúng được người dân Malagasy kính sợ và thường được bảo vệ bởi điều cấm kỵ của họ. Các mối đe dọa lớn nhất đối với chúng là sự phá hủy môi trường sống.

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ a ă â http://www.iucnredlist.org/details/5760/0
  2. ^ a ă Wilson, Don E.; Reeder, DeeAnn M. biên tập (2005). Cryptoprocta ferox. Mammal Species of the World . Baltimore: Nhà in Đại học Johns Hopkins, 2 tập (2.142 trang). ISBN 978-0-8018-8221-0. OCLC 62265494. 
  3. ^ Garbutt 2007, tr. 211–214.

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]

Phương tiện liên quan tới Cryptoprocta ferox tại Wikimedia Commons