Mosin Nagant
| Mosin-Nagant | |
|---|---|
Từ trên xuống dưới: Mosin-Nagant M91 Mosin-Nagant M91 "Dragoon" Mosin-Nagant M07 Carbine Mosin-Nagant M91/30 Mosin-Nagant M91/30 với kính ngắm PU Mosin-Nagant M38 Carbine Mosin-Nagant M44 Carbine Mosin-Nagant M59 Carbine |
|
| Loại | Súng trường, súng trường chiến đấu, súng bắn tỉa, súng ngắm |
| Nguồn gốc | |
| Lược sử hoạt động | |
| Trang bị | 1891-1998 |
| Quốc gia sử dụng | Xem phần Các quốc gia sử dụng |
| Sử dụng trong | Chiến tranh Nga-Nhật Nội chiến Nga Thế chiến thứ nhất Thế chiến thứ hai Chiến tranh Triều Tiên Chiến tranh Việt Nam Chiến tranh Việt Nam - Campuchia Chiến tranh Lạnh Chiến tranh Afghanistan (1978–1992) Chiến tranh Afghanistan (2001-nay) Nội chiến Lào Cách mạng Cuba Nội chiến Trung Quốc Chiến tranh Mùa Đông Chiến tranh Iraq Nội chiến Tây Ban Nha Nội chiến Phần Lan Chiến tranh Đông Dương Chiến tranh Nga-Ba Lan (1919-1921) Chiến tranh Liên Xô-Phần Lan Chiến tranh biên giới Lào-Thái Lan Chiến tranh Trung-Nhật lần thứ nhất Chiến tranh Trung-Nhật lần thứ hai Nội chiến Yemen Chiến tranh Xô Viết-Thổ Nhĩ Kỳ (1917-1918) Cách mạng Nga (1917) Chiến tranh Nga-Thổ Nhĩ Kỳ Chiến tranh biên giới Việt-Trung, 1979 Chiến Tranh tiếp diễn Nội chiến Campuchia |
| Lược sử chế tạo | |
| Nhà thiết kế | Sergei Ivanovich Mosin, Léon Nagant |
| Năm thiết kế | 1891 |
| Nhà sản xuất | Tula, Izhevsk, Sestroryetsk, Châtellerault, Remington, New England Westinghouse và nhiều hãng khác |
| Giai đoạn sản xuất | 1891-1965 |
| Số lượng chế tạo | Xấp xỉ 37.000.000 khẩu ở Liên Xô |
| Thông số kỹ chiến thuật | |
| Khối lượng | 4 kg (8.8 lb) (M91/30) (M91/30) 3.4 kg (7.5 lb) (M38) 4.1 kg (9 lb) (M44) |
| Chiều dài | 1,232 mm (48.5 in) (M91/30) 1,013 mm (39.9 in) (cạc-bin) |
| Cỡ nòng | 730 mm (28.7 in) (M91/30) 514 mm (20.2 in) (cạc-bin) |
|
|
|
| Đạn | 7.62x54mmR |
| Cơ cấu hoạt động | khóa nòng không tự động |
| Sơ tốc | ~ 850 m/giây (2,789 ft/giây) đối với súng trường ~800 m/giây (2,625 ft/giây) đối với cạc-bin |
| Cơ cấu nạp | Ổ đạn 5 viên |
Súng trường chiến đấu Mosin Nagant (được gọi là súng K44 ở Việt Nam) là loại súng trường lên đạn từng viên, không tự động từng được sử dụng bởi quân đội Đế quốc Nga từ năm 1891, quân đội Liên Xô và các nước Đông Âu cho đến tận những năm 1960 và hiện vẫn được Quân đội Nhân dân Việt Nam sử dụng. Súng dùng đạn súng trường chiến đấu tiêu chuẩn 7,62 x 54mmR.
Mục lục |
Lịch sử[sửa]
Thiết kế ban đầu[sửa]
Trong Chiến tranh Nga-Thổ Nhĩ Kỳ, binh sĩ Nga được trang bị loại súng trường lên đạn thủ công Berdan trong khi binh sĩ Thổ Nhĩ Kỳ được trang bị súng trường Winchester bắn liên tục khiến cho phía Nga bị thương vong lớn. Các chỉ huy chiến trường của Nga trước tình hình đó đã yêu cầu hiện đại hóa quân đội. Trong nỗ lực hiện đại hóa này, thiết kế của đại úy Sergei Ivanovich Mosin và thiết kế của một người Bỉ là Léon Nagant đã được chấp nhận và kết hợp thành mẫu súng trường dùng đạn cỡ 7,62 vào năm 1891. Việc sản xuất bắt đầu được tiến hành từ năm 1892 tại cả Nga và Pháp.
Thế chiến thứ nhất và thời kì nội chiến[sửa]
Trong chiến tranh Nga-Nhật 1904, khoảng 3,8 triệu khẩu súng trường model 1891 này đã được trang bị cho quân đội Nga. Mặc dù đã có một số phiên bản cải tiến ra đời, song trong chiến tranh thế giới thứ nhất, khoảng 3,3 triệu khẩu model 1891 đã được đặt hàng sản xuất tại Anh và Mỹ. Khi Cách mạng Tháng Mười nổ ra, một số súng model 1891 vẫn chưa kịp trao cho quân đội Nga hoàng. Những súng này sau đó được trang bị cho quân đội Anh và Mỹ can thiệp vào Nga sau Cách mạng thời kỳ 1918-1919. Một số khác được trang bị cho các đơn vị quân đội Hoa Kỳ trong nước. Hoa Kỳ cũng dựa vào model 1891 mà thiết kế súng trường "U.S. Rifle, 7.62mm, Model of 1916", một trong những loại súng trường quân dụng phổ biến của Hoa Kỳ một thời.
1 số lượng lớn Mosin-Nagants đã bị quân đội Đức và Áo-Hung tịch thu và sử dụng. Trong thời gian Nội chiến Nga, súng Mosin-Nagant lại tiếp tục được cả hai phía Hồng quân và Bạch vệ ưa chuộng. Sau khi Hồng quân chiến thắng, vào năm 1924, một ủy ban hiện đại hóa vũ khí đã tiến hành dự án hiện đại hóa súng Mosin-Nagant, và model 1930 ra đời.
Phần Lan có thời là xứ phụ thuộc của Đế quốc Nga, nên cũng quen dùng súng Mosin-Nagant model 1891. Sau này, Phần Lan cho ra vài phiên bản cải tiến. Kết quả là trong Chiến tranh Mùa Đông và Chiến tranh Tiếp diễn (đều trong Chiến tranh thế giới thứ hai) cả 2 bên chiến tuyến đều dùng súng Mosin-Nagant.
Súng Mosin-Nagant còn được trang bị cho lực lượng kháng chiến Franco trong Nội chiến Tây Ban Nha.
Thế chiến thứ hai[sửa]
Khi Đức Quốc xã xâm lược Liên Xô vào năm 1941, model 1930 là súng trường tiêu chuẩn của quân đội Liên Xô. Hàng triệu cây súng đã được sản xuất để đưa ra chiến trường.
Phiên bản súng bắn tỉa của Mosin-Nagant được chế tạo năm 1932 đã gây được tiếng vang trong thời kì này, góp phần tạo nên chiến tích của 2 xạ thủ anh hùng Liên Xô Vasily Grigoryevich Zaitsev và Lyudmila Pavlichenko trong trận Stalingrad. Bên phía Phần Lan, Simo Häyhä, người nổi tiếng với chiến tích bắn hạ 505 lính Hồng quân cũng sử dụng 1 cây M28 Mosin-Nagant. Đến cuối chiến tranh thế giới thứ hai, khoảng 17,4 triệu khẩu Mosin-Nagant model 1930 đã được chế tạo.
Sau thế chiến thứ hai[sửa]
Sau này N.X.Xêmin thiết kế cải tiến từ mẫu ban đầu 1891/30 của X.I.Môxin và mẫu gần hơn (1938), đưa vào trang bị của Quân Đội Liên Xô (2/1944). Sau đó, Liên Xô còn đưa ra mẫu năm 1959. Đây là mẫu cuối cùng của súng này được thiết kế ở Liên Xô. Sau thế chiến thứ hai, Mosin-Nagant dần dần được thay thế bằng SKS hay AK47. Tuy nhiên nó vẫn được các nước Đông Âu và 1 số quốc gia xã hội chủ nghĩa sử dụng trong các cuộc chiến tranh Triều Tiên, chiến tranh Việt Nam và Afghanistan
Các nước Tiệp Khắc, Bulgaria, Ba Lan, Trung Quốc cũng phát triển các mẫu súng dựa trên Mosin-Nagant model 1944 hoặc model 1959 của Liên Xô.
Loại súng này được đưa vào sử dụng tại Việt Nam từ giữa những năm 1950 và sử dụng rộng rãi trong Chiến tranh Việt Nam. Nhân dân miền Nam thường gọi là súng bá đỏ, quân đội gọi là súng K44.
Đặc tính kỹ thuật[sửa]
- Cỡ nòng 7,62mm, nòng súng dài 730mm, toàn bộ súng dài 1,533m (bao gồm cả lưỡi lê), nặng trên duới 4,0 kg;
- Tốc độ bắn 10 phát/phút (đối với xạ thủ giỏi), sơ tốc đầu đạn 820 m/s, đường đạn ngoài xa nhất 3000m, tầm bắn (trên thước ngắm) 1.000m, tầm bắn hiệu quả 600 m. Dùng đạn cỡ 7,62mm kiểu 1908 hoặc 1930 (chung với đại liên K-53 và RP-46). Khi sử dụng kính ngắm quang học và loại đạn nặng, có liều phóng lớn, xạ thủ bắn tỉa có thể nâng tầm bắn có hiệu quả đến 1200 m.
- Là loại súng trường bắn phát 1, lên đạn bằng khóa nòng thủ công, sử dụng hộp tiếp đạn đơn (khác với M1 Garand và súng SKS sử dụng hộp tiếp đạn đôi) chứa được 5 viên, đạn cỡ 7,62mm.
- Tốc độ bắn chậm nhưng rất chính xác, bắn xa nên được còn sử dụng làm súng bắn tỉa, súng bắn tỉa được lắp thêm ống ngắm quang học (PU, PE) bên sườn trái sử dụng để bắn tỉa rất hiệu quả. Trong Chiến tranh thế giới thứ hai, các đơn vị bắn tỉa của Hồng Quân được phiên chế tới cấp sư đoàn, đều sử dụng Mosin-Nagant làm súng bắn tỉa.
- Nhược điểm : bắn chậm, ít đạn, quá dài và nặng nề, thời gian lên đạn và nạp đạn quá lâu. Mặc dù có nhiều nhược điểm nhưng vào thời đại đó thì đây là súng bắn tỉa có uy lực rất lớn, hơn hẳn khẩu M1903 Springfield và M1 Garand của Hoa Kỳ, chỉ kém hơn một chút về hoả lực so với Karabiner 98k của Đức.
Các quốc gia sử dụng[sửa]
Afghanistan
Ai Cập
Albania[1]
Ba Lan
Cuba
Cộng hòa Dân chủ Đức
Estonia
Gruzia
Hoa Kỳ (U.S. Rifle, 7.62mm, Model năm 1916)
Hungary
Iraq
Liên Xô
Đế quốc Nga
Phần Lan
Philippines
Romania
Tây Ban Nha
Tiệp Khắc
Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Triều Tiên
Trung Quốc
Syria
Ukraina
Việt Nam Dân chủ Cộng hòa
Việt Nam
Tham khảo[sửa]
Liên kết ngoài[sửa]
| Wikimedia Commons có thêm hình ảnh và tài liệu về: Mosin Nagant |
- Mosin Nagant tại Internet Movie Firearms Database.
- Mosin-Nagant.net
- 7.62x54R.net
- Russian-Mosin-Nagant.Com
- Mosin-Nagant
- Súng trường Mosin-Nagant-minh họa bằng tranh
- Mosin-Nagant trên Global Security
- Korean War website - Súng bắn tỉa Mosin-Nagant M-1891/1930
- Korean War website - Mosin-Nagant M-1944 carbine
- Giới thiệu sơ Mosin
|
||||||||||||||||||||