Bảng chữ cái tiếng Việt

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia

Bảng chữ cái tiếng Việt hay Bảng chữ cái Chữ Quốc ngữ là bảng chữ cái Latinh dùng để viết tiếng Việt mà hiện nay thường được gọi là chữ Quốc ngữ, đã được sắp xếp theo một thứ tự cố định.

Bảng chữ cái tiếng Việt tiêu chuẩn hiện hành có 29 chữ cái:[1]

Chữ hoa A Ă Â B C D Đ E Ê G H I K L M N O Ô Ơ P Q R S T U Ư V X Y
Chữ thường a ă â b c d đ e ê g h i k l m n o ô ơ p q r s t u ư v x y

So với bảng chữ cái tiếng Anh, bảng chữ cái tiếng Việt giống 22 chữ. Còn lại là 7 chữ có dấu phụ: Ă Â Đ Ê Ô Ơ Ư. 4 chữ trong bảng chữ cái tiếng Anh "được coi là không có" trong bảng chữ cái tiếng Việt là F J W Z, mặc dù F và Z đã từng được Chủ tịch Hồ Chí Minh sử dụng khi viết tiếng Việt (chữ F thay cặp chữ PH, chữ Z thay chữ D).[2]

Mỗi chữ cái đều có hai hình thức viết lớn và nhỏ. Kiểu chữ lớn gọi là "chữ hoa" (chữ in hoa, chữ viết hoa). Kiểu chữ nhỏ gọi là "chữ thường" (chữ in thường, chữ viết thường).

Chữ quốc ngữ có 11 chữ ghép biểu thị phụ âm gồm:

  • 10 chữ ghép đôi: ch, gh, gi, kh, ng, nh, ph, qu, th, tr
  • 1 chữ ghép ba: ngh

Chữ ghép là tổ hợp gồm từ hai chữ cái trở lên được dùng để ghi lại một âm vị hoặc một chuỗi các âm vị có cách phát âm không giống với âm vị mà các chữ cái trong tổ hợp chữ cái đó biểu thị. Chữ ghép đôi là chữ ghép có hai chữ cái, chữ ghép ba là chữ ghép có ba chữ cái.

Tên gọi các chữ cái[sửa | sửa mã nguồn]

Tất cả tên gọi các chữ cái trong tiếng Việt đều được bắt nguồn từ tiếng Pháp. Chúng thường được dùng để đánh vần hoặc gọi tên viết tắt như VTV (vê-tê-vê), VTC (vê-tê-xê),...

STT Chữ cái Tên chữ STT Chữ cái Tên chữ
1 A a 16 N en-nờ
2 Ă á 17 O o
3 Â 18 Ô ô
4 B 19 Ơ ơ
5 C 20 P
6 D 21 Q quy
7 Đ đê 22 R e-rờ
8 E e 23 S ét-xì
9 Ê ê 24 T
10 G giê 25 U u
11 H hắt 26 Ư ư
12 I i (ngắn) 27 V
13 K ca 28 X ích-xì
14 L e-lờ 29 Y y (dài)
15 M em-mờ

Tên gọi của hai cặp chữ cái nguyên âm "a", "ă" và "ơ", "â" chỉ khác về thanh điệu. Chúng biểu thị các biến thể dài ngắn của cùng một nguyên âm, với "a", "ă' là nguyên âm /a/, với "ơ" và "â" là nguyên âm /ə/. Vì trong tiếng Việt khi /a//ə/ là âm tiết thì không có sự phân biệt về độ dài của nguyên âm nên tên gọi của hai cặp chữ cái "a", "ă" và "ơ", "â" phải mang thanh điệu khác nhau để tránh cho chúng trở thành đồng âm.

Chữ D sẽ đọc là "dê" khi nó là chữ viết tắt từ tiếng Việt. Nếu nó là chữ viết tắt từ tiếng nước ngoài, nó sẽ được gọi là "đê" giống tên chữ Đ. Ví dụ: GDP (giê-đê-pê, không đọc là giê-dê-pê)

Bốn chữ cái F J W Z "được coi là không có" trong bảng chữ cái tiếng Việt tiêu chuẩn, nhưng trong đời sống có thể bắt gặp chúng trong các từ ngữ có nguồn gốc từ các ngôn ngữ khác. Hai chữ F và Z đã từng được Chủ tịch Hồ Chí Minh sử dụng khi viết tiếng Việt.[2] Trong tiếng Việt bốn mẫu tự F J W Z có tên gọi như sau:

  • F: ép/ép-phờ. Bắt nguồn từ tên gọi của chữ cái này trong tiếng Pháp là "effe" /ɛf/.
  • J: gi. Bắt nguồn từ tên gọi của chữ cái này trong tiếng Pháp là "ji" /ʒi/.
  • W: vê kép, vê đúp (cũ). Bắt nguồn từ tên gọi của chữ cái này trong tiếng Pháp là "double vé" /dubləve/.
  • Z: dét. Bắt nguồn từ tên gọi của chữ cái này trong tiếng Pháp là "zède" /zɛd/.

Lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

Từ điển An Nam – Bồ Đào Nha – La-tinh[sửa | sửa mã nguồn]

Bảng chữ cái La-tinh tiếng Việt trong Từ điển An Nam – Bồ Đào Nha – La-tinh in năm 1651 của Alexandre de Rhodes (dưới đây gọi tắt là Từ điển) có 23 chữ cái là:[3]

Chữ hoa A B C D đ E G H I K L M N O P Q R S T V X Y
Chữ thường a b c d e g h i k l m n o p q r ſ/s t v/u x y

Bảng chữ cái tiếng Việt trong Từ điển có ít chữ cái hơn bảng chữ cái tiếng Việt đương đại. Các ký hiệu ă, â, ê, ô, ơ, ư, được xem là chữ cái trong bảng chữ cái tiếng Việt đương đại, đều đã có trong Từ điển nhưng tác giả của Từ điển không xem chúng là chữ cái độc lập. Trong Từ điển, mọi ký hiệu được cấu thành từ một mẫu tự nguyên âm và một hoặc hai dấu phụ, thí dụ như à, , ă, , , đều không được xem là một mẫu tự riêng biệt khác với mẫu tự nguyên âm xuất hiện trong ký hiệu đó,à, , ă, , đều chỉ được xem là mẫu tự a mang dấu phụ chứ không được xem là những mẫu tự khác với mẫu tự a.

Trong bảng chữ cái tiếng Việt trong Từ điển có một chữ cái nay không còn được sử dụng để ghi chép tiếng Việt và không có trong bảng chữ cái tiếng Việt hiện hành là chữ b đuôi quặp . Chữ này được dùng để ghi âm sát đôi môi hữu thanh /β/.[4]

Hai mẫu tự đ trong Từ điển không có hình thức chữ hoa và chữ thường.[5] đ không phải là chữ thường hay chữ hoa của hai chữ. Nếu chỉ viết hoa địa danh bằng chữ hoa có trong Từ điển thì tên gọi của hai tỉnh Đồng NaiLâm Đồng ở Việt Nam sẽ phải viết là đồng NaiLâm đồng. Hiện nay, mẫu tự đ đã có hình thức chữ hoa và chữ thường, đ được xem là hình thức chữ thường của mẫu tự đ, còn hình thức chữ hoa của mẫu tự này là Đ.

Chữ s thường trong Từ điển có hai kiểu là ſs.[6][7] Trong chữ quốc ngữ đương đại, kiểu ſ không còn được dùng nữa, kiểu s là hình thức chữ thường duy nhất của chữ s.

Chữ v thường trong Từ điển có hai kiểu là vu.[8][9] Vào thế kỷ 17, vu chưa được xem là hai chữ cái riêng biệt, u chỉ được xem là biến thể của chữ v.[10] Nếu viết tên gọi của hai thành phố Uông BíVinh ở Việt Nam theo kiểu chữ dùng trong Từ điển thì gọi của hai thành phố này sẽ phải viết là V̈ông Bí (có hai dấu chấm bên trên chữ V hoa) và Vinh.

Nguồn gốc một số chữ cái[sửa | sửa mã nguồn]

  • ă: Vay mượn từ tiếng Latinh. Trong tiếng Latinh dấu âm ngắn (˘) được thêm vào phía trên các chữ cái nguyên âm để biểu thị nguyên âm ngắn, "ă" biểu thị nguyên âm ngắn /a/. Nguyên âm ngắn và nguyên âm dài có cách phát âm giống nhau nhưng thời gian phát âm của nguyên âm dài dài hơn nguyên âm ngắn. "Ă" không được coi là một chữ cái trong bảng chữ cái tiếng Latinh. Chữ quốc ngữ dùng chữ "ă" để biểu thị nguyên âm ngắn /a/ khi có sự phân biệt về độ dài của nguyên âm /a/. Ví dụ: [kan][kaːn]) được lần lượt ghi lại bằng chữ quốc ngữ là "căn" và "can".
  • â: Vay mượn từ tiếng Bồ Đào Nha. Trong tiếng Bồ Đào Nha "â" biểu thị nguyên âm /ɐ//ɐ̃/. Hai nguyên âm /ɐ//ɐ̃/ trong tiếng Bồ Đào Nha là nguyên âm đọc mạnh, dấu mũ (ˆ) phía trên chữ a biểu thị độ cao của chúng. "Â" không được coi là một chữ cái trong bảng chữ cái tiếng Bồ Đào Nha. Chữ quốc ngữ dùng chữ "â" để biểu thị nguyên âm ngắn /ə/ khi có sự phân biệt về độ dài của nguyên âm /ə/, dấu mũ (ˆ) phía trên chữ a biểu thị đây là nguyên âm dài. Nguyên âm ngắn và nguyên âm dài có cách phát âm giống nhau nhưng thời gian phát âm của nguyên âm dài dài hơn nguyên âm ngắn. Ví dụ: [kən][kəːn]) lần lượt được ghi bằng chữ quốc ngữ là "cân" và "cơn".
  • c: Vay mượn từ tiếng Bồ Đào Nha. Trong tiếng Bồ Đào Nha chữ "c" khi đứng trước "a", "o", "u" sẽ biểu thị phụ âm /k/, khi đứng trước "e", "i" sẽ biểu thị phụ âm /s/. Chữ quốc ngữ dùng chữ "c" để biểu thị phụ âm /k/. Vì trong tiếng Bồ Đào Nha chữ "c" khi đứng trước "e", "i" sẽ biểu thị phụ âm /s/ nên để tránh cho những người biết tiếng biết Bồ Đào Nha khỏi đọc sai, trong chữ quốc ngữ phụ âm đầu /k/ được ghi lại bằng chữ "c" khi sau nó là nguyên âm "a", "ă", "â", "o", "ô", "ơ", "u", "ư", ghi bằng chữ "k" nếu sau nó là nguyên âm "e", "ê", "i". Ví dụ: /kɛɔ/ được ghi lại bằng chữ quốc ngữ là "keo", không được viết là "ceo".
  • ch: Vay mượn từ tiếng Bắc Bồ Đào Nha. Dựa theo thống kê hiện đại,[11] trong tiếng Bắc Bồ Đào Nha thuộc huyện Guarda, miền Beira Alta, nơi Francisco de Pina đã trưởng thành, rất có khả năng chữ cái ghép đôi "ch" biểu thị bằng âm vị /ʧ/. Chữ quốc ngữ đã mượn chữ cái ghép đôi "ch" với âm vị /ʧ/ của tiếng Bắc Bồ Đào Nha để ghi một âm vị trong tiếng Việt [c]. Phương ngữ miền Nam có sự lẫn lộn "CH" thành "T" cho phụ âm cuối.
  • d: Trong hầu hết các hệ thống chữ viết dựa trên chữ Latinh chữ "d" thường dùng để ghi lại phụ âm /d/ hoặc /d̪/ nhưng vì trong tiếng Việt trung đại (và cả tiếng Việt hiện đại) không có hai phụ âm này nên chữ "d" được dùng để ghi lại một phụ âm trong tiếng Việt trung đại có cách phát âm gần giống là /ð/. Phụ âm /ð/ không còn tồn tại trong tiếng Việt hiện đại, nó đã biến đổi thành phụ âm /z/ trong phương ngữ Bắc và phụ âm /j/ trong phương ngữ Nam.
  • đ: Chữ này được tạo thành bằng cách thêm một nét gạch ngang ngắn vào chữ "d" để ghi lại phụ âm /ɗ/, ý là cách phát âm của phụ âm /ɗ/ có phần giống với phụ âm /d//t/.
  • ê: Vay mượn từ tiếng Bồ Đào Nha. Trong tiếng Bồ Đào Nha "ê" biểu thị nguyên âm /e/ và nguyên âm đôi /əj/. Nguyên âm /e/ trong tiếng Bồ Đào Nha là nguyên âm đọc nặng, dấu mũ (ˆ) phía trên chữ e biểu thị độ cao của nó. "Ê" không được coi là một chữ cái trong bảng chữ cái tiếng Bồ Đào Nha. Chữ quốc ngữ dùng chữ "ê" để biểu thị nguyên âm /e//ə/ (trong nguyên âm đôi "iê" /iə/).
  • g: Vay mượn từ tiếng Bồ Đào Nha. Trong tiếng Bồ Đào Nha chữ cái "g" khi đứng trước "a", "o", "u" sẽ biểu thị phụ âm /ɡ/, khi đứng trước "e", "i" sẽ biểu thị phụ âm /ʒ/. Chữ quốc ngữ mượn chữ cái "g" của tiếng Bồ Đào Nha để ghi lại một phụ âm trong tiếng Việt có cách phát âm gần giống với /ɡ//ɣ/. Vì trong tiếng Bồ Đào Nha chữ cái "g" khi đứng trước "e", "i" sẽ biểu thị phụ âm /ʒ/ nên để tránh cho người biết tiếng Bồ Đào Nha khỏi đọc sai chữ quốc ngữ chữ ghép đôi "gh" mượn từ tiếng Ý để ghi lại /ɣ/ khi sau nó là nguyên âm "e", "ê", "i". Ví dụ: /ɣo/, /ɣe/ lần lượt được ghi bằng chữ quốc ngữ ghi là "gỗ", "ghế", không viết là "ghỗ", "gế".
  • gh: Vay mượn từ tiếng Ý. Trong tiếng Ý chữ cái "g" biểu thị phụ âm /ɡ/ khi đứng trước "a", "o", "u", biểu thị phụ âm /d͡ʒ/ khi đứng trước "e", "i". Phụ âm /ɡ/ khi đi với nguyên âm "e", "i" sẽ được ghi lại bằng "gh". Chữ quốc ngữ mượn chữ "g" của tiếng Bồ Đào Nha để ghi lại phụ âm /ɣ/ của tiếng Việt. Trong tiếng Bồ Đào Nha cũng có hiện tượng "g" khi đứng trước "e", "i" đọc khác với "g" đứng trước "a", "o", "u". Để tránh cho những người biết tiếng Bồ Đào Nha và tiếng Ý khỏi đọc sai, trong chữ quốc ngữ phụ âm /ɣ/ sẽ được ghi lại bằng chữ ghép đôi "gh" mượn từ tiếng Ý khi sau nó là nguyên âm "e", "ê", "i". Ví dụ: /ɣe/, /ɣo/ lần lượt được ghi bằng chữ quốc ngữ ghi là "ghế" "gỗ", không viết là "gế", "ghỗ".
  • gi: Vay mượn từ tiếng Ý. Trong tiếng Ý chữ cái "g" biểu thị phụ âm /ɡ/ khi đứng trước "a", "o", "u", biểu thị phụ âm /d͡ʒ/ khi đứng trước "e", "i". Khi sau "g" là "i", sau "i" là "a", "o", "u" thì "i" không ghi lại âm vị nào, nó chỉ đóng vai trò là một chỉ báo về cách phát âm của chữ "g" đứng trước nó, cho biết rằng chữ "g" ở đây biểu thị phụ âm /d͡ʒ/ chứ không phải là /ɡ/. Vì phụ âm /ʝ/ của tiếng Việt trung đại có cách phát âm gần giống với phụ âm /d͡ʒ/ của tiếng Ý nên chữ quốc ngữ đã mượn "gi" của tiếng Ý để ghi lại phụ âm /ʝ/ và âm tiết /ʝi/ của tiếng Việt trung đại. Trong phương ngữ Bắc và phương ngữ Nam của tiếng Việt hiện đại phụ âm /ʝ/ không còn tồn tại, nó đã biến đổi thành phụ âm /z/ trong phương ngữ Bắc và phụ âm /j/ trong phương ngữ Nam. Ngày nay, "dàn" và "giàn", "dì" và "gì" trong hai phương ngữ Bắc và Nam là đồng âm.
  • i: Không rõ từ đâu trong phương ngữ miền Nam, nếu ghép với một phụ âm cuối thì đa số đọc thành "Ư" ngoại trừ "M". Thí dụ: Inh/ưn,it/ưt,ích/ứt
  • k: Vay mượn từ tiếng Hy Lạp. Trong tiếng Hy Lạp chữ cái "k" biểu thị phụ âm /k/. Trong chữ quốc ngữ phụ âm đầu /k/ được ghi lại bằng chữ "k" khi sau nó là nguyên âm "e" /ɛ/, "ê" /e/, "i/y" /ɛ/, ghi bằng chữ "c" khi sau nó là nguyên âm "a", "ă", "â", "o", "ô", "ơ", "u", "ư". Mục đích là để tránh cho những người biết tiếng Bồ Đào Nha khỏi đọc sai vì trong tiếng Bồ Đào Nha chữ "c" khi đứng trước ba chữ "e", "i", "y" sẽ biểu thị phụ âm /s/, chứ không phải là phụ âm /k/.
  • kh: Bắt nguồn từ cách chuyển tự các phụ âm bật hơi của tiếng Hy Lạp cổ đại sang chữ Latinh. Các phụ âm bật hơi trong tiếng Hy Lạp cổ đại được chuyển tự sang chữ Latinh bằng cách lấy một chữ cái biểu thị một phụ âm có cách phát âm tương tự với phụ âm cần chuyển tự nhưng không bật hơi rồi thêm chữ "h" vào phía sau. Phụ âm bật hơi /kʰ/ của tiếng Hy Lạp cổ đại (trong tiếng Hy Lạp được ghi bằng chữ "χ") được chuyển tự sang tiếng Latinh thành "ch". Tiếng Việt trung đại cũng có phụ âm /kʰ/. Chữ quốc ngữ đã phỏng theo cách thức chuyển tự trên để ghi lại phụ âm /kʰ/ của tiếng Việt trung đại bằng chữ cái ghép đôi "kh" (chữ cái ghép đôi "ch" đã dùng để ghi lại một phụ âm khác của tiếng Việt). Trong tiếng Việt hiện đại phụ âm /kʰ/ không còn tồn tại trong phương ngữ Bắc, nó đã biến đổi thành phụ âm /x/, phương ngữ Nam thì vẫn còn phụ âm này.
  • nh: Vay mượn từ tiếng Bồ Đào Nha. Trong tiếng Bồ Đào Nha và quốc ngữ chữ cái ghép đôi "nh" đều biểu thị phụ âm /ɲ/.
  • ô: Vay mượn từ tiếng Bồ Đào Nha. Trong tiếng Bồ Đào Nha chữ o với dấu mũ dấu mũ (ˆ) "ô" biểu thị nguyên âm /o/. Nguyên âm /o/ trong tiếng Bồ Đào Nha là nguyên âm đọc nặng, dấu mũ (ˆ) phía trên chữ o biểu thị độ cao của nó. "Ô" không được coi là một chữ cái trong bảng chữ cái tiếng Bồ Đào Nha. Chữ quốc ngữ cũng dùng chữ "ô" đề biểu thị nguyên âm /o/ giống như trong tiếng Bồ Đào Nha.
  • ph: Bắt nguồn từ cách chuyển tự các phụ âm bật hơi của tiếng Hy Lạp cổ đại sang chữ Latinh. Các phụ âm bật hơi trong tiếng Hy Lạp cổ đại được chuyển tự sang chữ Latinh bằng cách lấy một chữ cái biểu thị một phụ âm có cách phát âm tương tự với phụ âm cần chuyển tự nhưng không bật hơi rồi thêm chữ "h" vào phía sau. Phụ âm bật hơi /pʰ/ của tiếng Hy Lạp cổ đại (trong tiếng Hy Lạp được ghi bằng chữ "φ") được chuyển tự sang tiếng Latinh thành "ph". Tiếng Việt trung đại cũng có phụ âm /pʰ/ nên chữ quốc ngữ đã mượn chữ cái ghép đôi "ph" để ghi lại /pʰ/ của tiếng Việt trung đại. Phụ âm /pʰ/ không còn tồn tại trong tiếng Việt hiện đại, nó đã biến đổi thành phụ âm /f/.
  • s: Vay mượn từ tiếng Bồ Đào Nha. Đa số phát âm "S" thành "X".
  • th: Bắt nguồn từ cách chuyển tự các phụ âm bật hơi của tiếng Hy Lạp cổ đại sang chữ Latinh. Các phụ âm bật hơi trong tiếng Hy Lạp cổ đại được chuyển tự sang chữ Latinh bằng cách lấy một chữ cái biểu thị một phụ âm có cách phát âm tương tự với phụ âm cần chuyển tự nhưng không bật hơi rồi thêm chữ "h" vào phía sau. Phụ âm bật hơi /tʰ/ của tiếng Hy Lạp cổ đại (trong tiếng Hy Lạp được ghi bằng chữ "τ") được chuyển tự sang tiếng Latinh thành "th". Tiếng Việt cũng có phụ âm /tʰ/ nên chữ quốc ngữ đã mượn chữ cái ghép đôi "th" để ghi lại phụ âm /tʰ/ của tiếng Việt. Người Thủ Dầu Một xưa kia đa số phát âm sai "TH" thành "KH".
  • x: Vay mượn từ tiếng Bồ Đào Nha. Trong tiếng Bồ Đào Nha chữ cái "x" khi đứng đầu từ luôn biểu thị phụ âm /ʃ/. Chữ quốc ngữ dùng chữ "x" để ghi lại một phụ âm của tiếng Việt trung đại có cách phát âm gần giống với phụ âm /ʃ//ɕ/. Phụ âm /ɕ/ không còn tồn tại trong tiếng Việt hiện đại, nó đã biến đổi thành phụ âm /s/.

Tranh luận về mẫu tự F J W Z[sửa | sửa mã nguồn]

Bốn chữ cái F J W Z hiện nay không được xem là một phần của bảng chữ cái tiếng Việt tiêu chuẩn, trong đời sống có thể bắt gặp chúng trong các từ ngữ có nguồn gốc từ các ngôn ngữ khác.

Các chữ cái này được sử dụng trong các địa danh hành danh bắt nguồn từ ngôn ngữ của các dân tộc thiểu số ở Việt Nam. Ví dụ như tên các xã Zuôih, Jơ Ngây, Za Hung... ở huyện Nam Giang, Quảng Nam, xã Ea Wy huyện Ea H'leo, xã Cư Ê Wi huyện Cư Kuin... ở tỉnh Đắk Lắk, huyện Cư Jút ở tỉnh Đắk Nông.

Có ý kiến cho rằng "F J W Z không thể nằm ngoài bảng chữ cái" [12]. Nó cần thiết trong việc xây dựng tiếng phổ thông bao quát được các thành tố cơ bản trong ngôn ngữ của đất nước, đảm bảo chặt chẽ trong các văn bản pháp lý, cũng như cần đưa vào giảng dạy để học sinh đọc đúng tên quê mình. Tuy nhiên sự việc không thuộc nhóm cấp thiết và không gây chết người nên chưa có cấp nào quan tâm chỉ đạo và giải quyết. Có học giả thì cho rằng tiếng Việt có chữ viết là đầy đủ rồi.[13]

Có ý kiến cho rằng cần bổ sung thêm bốn chữ cái F, J, W và Z vào bảng chữ cái tiếng Việt để hợp thức hóa cách sử dụng để đáp ứng sự phát triển của tiếng Việt hiện đại.[14]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ 沈维华, 刘芳华, 陆敏玲. 越南语多媒体基础教程. 北京, 新华出版社, năm 2016, trang 4.
  2. ^ a b “Nghiên cứu bút tích di chúc Bác Hồ dưới góc độ ngôn ngữ học”. Tỉnh Đoàn Cà Mau.
  3. ^ Alexandre de Rhodes. Dictionarium Anamiticum Lusitanum et Latinum. Romae, Sacra Congregationis de propaganda fide, năm 1651, trang chứa cột 1, cột 15, cột 65, cột 77, cột 153, cột 191, cột 249, cột 253, cột 305, cột 349, cột 353, cột 389, cột 441, cột 499, cột 583, cột 589, cột 615, cột 631, cột 667, cột 711, cột 853, cột 879 trong phần chính văn của sách (sách không được đánh số trang).
  4. ^ André-Georges Haudricourt. “The two b’s in the Vietnamese dictionary of Alexandre de Rhodes”. HAL, Alexis Michaud dịch, trang 1.
  5. ^ Alexandre de Rhodes. Dictionarium Anamiticum Lusitanum et Latinum. Romae, Sacra Congregationis de propaganda fide, năm 1651, trang chứa cột 65, cột 191 trong phần chính văn của sách (sách không được đánh số trang).
  6. ^ Alexandre de Rhodes. Dictionarium Anamiticum Lusitanum et Latinum. Romae, Sacra Congregationis de propaganda fide, năm 1651, trang chứa cột 667 trong phần chính văn của sách (sách không được đánh số trang).
  7. ^ Kenneth J. Gregerson. "A study of Middle Vietnamese phonology". Bulletin de la Société des Études Indochinoises, Nouvelle Série – Tome XLIV, Nº 2, năm 1969, trang 160.
  8. ^ Alexandre de Rhodes. Dictionarium Anamiticum Lusitanum et Latinum. Romae, Sacra Congregationis de propaganda fide, năm 1651, trang chứa cột 853 trong phần chính văn của sách (sách không được đánh số trang).
  9. ^ Kenneth J. Gregerson. "A study of Middle Vietnamese phonology". Bulletin de la Société des Études Indochinoises, Nouvelle Série – Tome XLIV, Nº 2, năm 1969, trang 151, 173.
  10. ^ André-Georges Haudricourt. “The origin of the peculiarities of the Vietnamese alphabet”. HAL, Alexis Michaud dịch, trang 12.
  11. ^ Álvarez Pérez, Xosé Afonso (Summer 2014). “European Portuguese dialectal features: a comparison with Cintra's proposal”. Journal of Portuguese Linguistics. 13: 29 – qua Research Gate.
  12. ^ F, J, W, Z không thể nằm ngoài bảng chữ cái. Tuoitre, 10/08/2011. Truy cập 25/12/2015.
  13. ^ Có cần thêm F,J,W,Z trong bảng chữ tiếng Việt?. Khoa Ngôn ngữ, Đại học Quốc gia Hà Nội, 12/08/2011. Truy cập 25/12/2015.
  14. ^ Bổ sung F, J, W, Z vào bảng chữ cái?.