Phục bích

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm

Phục bích (chữ Hán: 復辟), còn được phiên âm là phục tích hay phục tịch, nghĩa đen là "khôi phục ngôi vua"[1][2] là trường hợp một quân chủ đã từ nhiệm hoặc đã bị phế truất hay từng bị lật đổ bởi các cuộc cách mạngđảo chính trong nước, thậm chí phải lưu vong do nạn ngoại xâm nhưng sau đó khôi phục lại được ngôi vị của mình.[3]

Mục lục

Những trường hợp phục bích trong lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

Dưới đây là bản danh sách liệt kê tất cả những cuộc phục bích trong lịch sử nhân loại trên phạm vi toàn thế giới tự cổ chí kim, ngoài những vị vua chính thống được công nhận ở đây có bổ sung thêm những nhân vật có quyền lực tương đương quân chủ bao gồm: các vị vua tự xưng tồn tại ngắn ngủi, những vị quyền thần thế tập (Lãnh chúa, Mạc phủ), những vị đứng đầu một chính thể độc lập kiểu như Tiết độ sứ hay Thống đốc và quân phiệt cát cứ thời loạn hoặc những vị nhiếp chính cùng hoàng tử giám quốc.

Châu Á[sửa | sửa mã nguồn]

Trung Quốc - Mông Cổ[sửa | sửa mã nguồn]

Nhà Thương[sửa | sửa mã nguồn]

Sau khi Đế Trọng Nhâm qua đời, Thái Giáp được hữu tướng Y Doãn đưa lên ngôi. Tuy nhiên, Thái Giáp chỉ mải mê hưởng lạc, vả lại còn chuyên quyền đối xử với mọi người rất tồi tệ. Thấy Thái Giáp như vậy, Y Doãn đày ông ra Đổng Cung, gần lăng miếu của Thành Thang và tự mình nắm quyền chính.[4] Sau 3 năm, Thái Giáp hiểu ra sai lầm của mình, quyết tâm sửa chữa khuyết điểm. Khi thấy Thái Giáp biết tu tỉnh, Y Doãn đích thân đến đón rước vua về kinh đô và trao lại quyền hành cho Thái Giáp.[5] Tuy nhiên, có thuyết khác lại cho rằng không phải Y Doãn trả lại ngôi cho Thái Giáp mà cướp luôn lấy ngai vàng. Sau 7 năm, Thái Giáp trốn khỏi Đổng Cung giết chết Y Doãn giành lại ngôi, phục hồi nhà Thương.[6]

Nhà Đông Chu[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 675 TCN, Chu Huệ Vương chiếm đoạt vườn tược của các đại thần làm chỗ thả thú. Đại thần Biên Bá bất mãn phối hợp cùng 5 vị đại thần khác ngầm mượn quân chư hầu của Yên Trang côngVệ Huệ công về đánh thiên tử.[7] Huệ vương bỏ chạy về đất Ôn rồi sang nương nhờ nước Trịnh, Biên Bá lập vương tử Đồi lên ngôi vua.[8] Từ khi chiếm được ngôi vua, Tử Đồi chỉ ăn chơi hưởng lạc, mở yến tiệc, không thiết việc triều chính. Năm 673 TCN, Trịnh Lệ công cùng Quắc công liên minh giúp Huệ vương, mang quân đánh kinh đô Lạc ấp, giết chết Vương tử Đồi và dựng lại Huệ vương.[9]

Năm 636 TCN, Chu Tương Vương phế truất Địch vương hậu, người nước Địch bất bình đem binh sang tấn công. Tương vương phải rời bỏ kinh thành chạy sang nước Trịnh, Trịnh Văn công vốn có hiềm khích với Tương vương từ trước nên an trí thiên tử tại Phạm Thành, không cử binh giúp.[10] Vương tử Đái được người Địch lập làm vua Chu mới, ông lập Địch vương hậu bị Tương vương phế truất làm vương hậu và cùng nhau về sống ở ấp Ôn.[11] Năm 635 TCN, Chu Tương vương cầu cứu nước Tấn, Tấn Văn công hội chư hầu đuổi quân Địch và giết chết Vương tử Đái, Tương Vương nhờ đó phục vị.[12]

Nước Trịnh[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 700 TCN, Trịnh Chiêu công sai Tế Trọng đi giao hảo với nước Tống. Do họ mẹ của công tử Đột là họ Ung có thế lực lớn ở nước Tống nên Tống Trang công ủng hộ công tử Đột, uy hiếp buộc Tế Trọng phế Chiêu công để lập công tử Đột đang làm con tin ở nước mình. Sau khi về nước, Tế Trọng khuyên Trịnh Chiêu công nhường ngôi cho công tử Đột, Trịnh Chiêu công thất thế đành chạy sang nước Vệ, công tử Đột lên ngôi trở thành Trịnh Lệ Công.[13] Năm 697 TCN, Lệ công do oán hận Tế Trọng chuyên quyền nên cùng con rể Tế Trọng là Ung Củ mưu giết Tế Trọng nhưng mưu bại lộ, Tế Trọng làm binh biến. Trịnh Lệ công phải bỏ trốn, Tế Trọng lại đón Trịnh Chiêu công về phục ngôi.[14]

Năm 695 TCN, nhân lúc Trịnh Chiêu công ra ngoài, Cao Cừ Di mang quân đánh úp giết chết, sau đó lập công tử Vỉ lên ngôi.[15] Chẳng bao lâu, Trịnh Tử Vỉ bị Tề Tương công giết, Cao Cừ Di lại lập người con khác của Trịnh Trang công là công tử Anh lên ngôi.[16] Năm 679 TCN, Tề Hoàn công sai Tân Tu Vô đem quân giúp Trịnh Lệ công về nước, trên đường về bắt được tướng Phó Hà. Phó Hà xin ông tha tội và hứa sẽ giúp Lệ công, Lệ công đồng ý, Phó Hà bèn về kinh giết Tử Anh cùng 2 người con rồi đưa Lệ công về phục ngôi.[17]

Năm 583 TCN, Trịnh Thành công sang triều kiến nước Tấn, Tấn Cảnh công biết chuyện vua Trịnh từng hội minh với nước Sở bèn bắt giữ, công tử Ban lập anh của Thành công là Cơ Nhu làm vua mới.[14] Năm 582 TCN, người nước Trịnh nổi loạn giết Trịnh quân Nhu, đưa con của Thành công là Cơ Khôn Ngoan lên ngôi. Năm 581 TCN, vua Tấn Lệ công mới lên ngôi thấy nước Trịnh đã có vua mới cũng muốn giảng hòa nên quyết định thả Thành công về nước, Cơ Khôn Ngoan ngay lập tức hoàn vị cho cha.[18]

Năm 581 TCN, Trịnh quân Nhu bị lật đổ, do vua cha vẫn còn bị giam cầm bên Tấn quốc nên thế tử Cơ Khôn Ngoan tạm thời gánh vác chính trường nước Trịnh. Sau khi Trịnh Thành công được thả, Khôn Ngoan liền từ nhiệm.[19] Năm 570 TCN, Trịnh Thành công qua đời, Cơ Khôn Ngoan kế vị trở thành Trịnh Hy công.[14]

Nước Vệ[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 696 TCN, công tử Tiết và công tử Chức vốn là người được Vệ Tuyên công giao giúp Cấp Tử và công tử Thọ, đều rất bất bình việc Vệ Huệ công được lập nên làm binh biến, Vệ Huệ công phải bỏ chạy sang nước Tề nương nhờ cữu phụ là Tề Tương công. Công tử Chức và công tử Tiết lập em cùng mẹ của Cấp Tử là công tử Kiềm Mâu lên ngôi.[20] Năm 688 TCN, Tề Tương công tiến quân vào nước Vệ, Kiềm Mâu sai người cầu cứu nhà Chu. Chu Trang Vương sai Tử Đột đi cứu Vệ, nhưng quân nhà Chu yếu thế không địch nổi quân Tề, Tử Đột tử trận, Kiềm Mâu bỏ chạy sang nhà Chu. Tề Tương công giết công tử Tiết, công tử Chức và lập lại Vệ Huệ công.[21]

Năm 632 TCN, Vệ Thành công muốn liên minh với Sở Thành Vương nhưng người trong nước không ủng hộ, nội dậy đuổi phải chạy ra đất Tương Ngưu, em của ông là công tử Vũ chấp chính. Năm 632 TCN, Tấn Văn công hội chư hầu ở Tiên Thổ, xin Chu Tương vương cho Thúc Vũ làm vua Vệ, Thúc Vũ từ chối. Tấn Văn công muốn phục ngôi cho Thành công, nhưng khi Thành công về đến nơi thì cận thần là Chuyên Khuyển đã giết chết Thúc Vũ. Đại phu Nguyên Hiền tức giận báo với Tấn Văn công, Tấn Văn công đem quân đánh Vệ, bắt Vệ Thành công nộp cho Chu thiên tử, lập con thứ ba của Vệ Văn công là công tử Hà nối ngôi.[22] Năm 631 TCN, Vệ Thành công nhờ Lỗ Hy công xin hộ với vua Chu và vua Tấn và được trở về nước, tiếp đó lấy lễ hối lộ cho các đại phu nước Vệ là Chu Chuyên và Dã Cận, giục họ giết Nguyên Huyến. Dã Cận và Chu Chuyên bèn làm binh biến giết chết Nguyên Huyến và Vệ Hà, Thành công lần thứ ba bước lên vũ đài chính trị.[21]

Năm 559 TCN, đại phu nước Vệ là Tôn Lâm Phủ tập hợp lực lượng ở ấp Thích khởi binh đánh Vệ Hiến công, Hiến công bỏ chạy đến ấp Quyến rồi lưu vong sang nước Tề.[23] Nguyên nhân vụ việc này do vua Vệ ham chơi, không chú trọng việc chính sự. Hai đại phu Tôn Lâm Phủ và Ninh Thực vào cung chờ thiết triều nhưng Hiến công vẫn chơi bắn ngỗng, Tôn Lâm Phủ giận lui về ấp, phái con là Tôn Khoái vào triều. Vệ Hiến công bèn phái Nhạc sư ca thiên cuối bài Xảo ngôn trong Kinh Thi để trách móc Tôn Lâm Phủ, Nhạc sư không chịu ca, người phó là Sư tào vốn mắc oán với Hiến công bèn nhận ca thay. Do Tôn Khoái về báo lại việc này cho cha biết, nên Tôn Lâm Phủ mới quyết định hành sự, ông lập em Hiến công là Cơ Thu lên ngôi, đó là Vệ Thương công.[24] Năm 546 TCN, con của Ninh Thực là Ninh Hỷ vì nghe lời cha dặn trước lúc lâm chung là nên ủng hộ vua cũ phục vị đã làm chính biến giết chết Vệ Thương công, Hiến công được Ninh Hỷ rước trở lại làm vua.[21]

Năm 480 TCN, cha của Vệ Xuất công là Cơ Khoái Hội được sự hỗ trợ của anh rể là Khổng Cơ từ nước Tấn lưu vong bí mật quay về nước Vệ. Sau khi chuẩn bị kỹ lưỡng, Khổng Cơ sai Hồn Lương Phu mang quân tấn công vào cung Vệ Xuất công. Đại phu Loan Vinh sắp uống rượu, nghe tin có loạn, vội dắt Vệ Xuất công lên xe bỏ chạy sang nước Lỗ, mang theo cả ấn tín quốc quân nước Vệ. Khoái Hội lên làm quân chủ, tức là Vệ Trang công.[25] Nguồn cơn của chuyện cha lật đổ con bắt đầu từ việc Khoái Hội muốn hành thích mẹ là phu nhân Nam Tử bởi bà thông dâm với anh ruột là Tống Triều, việc hành thích này bị bại lộ khiến Khoái Hội sợ hãi phải bỏ trốn. Khi vua cha Vệ Linh công qua đời đáng lý người nối ngôi phải là Khoái Hội, nhưng Linh công lại lập con Khoái Hội là Cơ Triếp, do vậy Khoái Hội nuôi ý chí giành lại ngôi vị đúng ra phải thuộc về mình. Tuy vậy, Vệ Trang công làm quân chủ không lâu thì bị người nước Vệ đuổi, phải bỏ chạy rồi bị giết.[26] Do sự can thiệp của nước Tề, Vệ Ban Sư – vị quân chủ được nước Tấn ủng hộ - bị đánh đuổi, Vệ Khởi được lập lên ngôi, nhưng Vệ Khởi cũng chỉ chấp chính được một thời gian ngắn thì bị đại phu Thạch Phố mang quân trục xuất phải bỏ chạy sang nước Tề. Năm 476 TCN, Thạch Phố đón Vệ Xuất công trở về nước làm quân chủ lần thứ hai.[27]

Nước Tống[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 639 TCN, Tống Tương công muốn nhờ sức nước Sở để hiệu triệu chư hầu, bèn nhờ cậy Sở Thành Vương, Sở Thành vương giả vờ nhận lời. Khi ra hội, các nước đều sợ nước Sở mạnh nên ngả theo Sở Thành vương. Sở Thành vương bèn đặt phục binh, chờ Tống Tương công đến liền bắt giữ rồi đem quân đánh Tống,[28] người nước Tống tạm lập Công tử Mục Di lên làm vua để giữ nước. Mùa đông năm đó, Sở Thành vương mời Lỗ Hi công đến hội minh ở đất Bạc. Lỗ Hi công xin Sở Thành vương thả Tống Tương công về, Sở Thành vương nghe theo.[29]

Nước Cử[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 528 TCN, sau khi Cử Trứ Khâu công mất, con trai là Kỷ Cuồng kế vị, tức Cử Giao công. Do Cử Giao công không thể hiện thái độ đau buồn về cái chết của vua cha nên người trong nước bất phục, muốn lập em trai của Trứ Khâu công là công tử Canh Dư làm vua, công tử Ý Khôi cực lực phản đối chuyện này. Bồ Dư hầu thấy vậy giết chết công tử Ý Khôi, đón công tử Canh Dư từ nước Tề về làm quốc quân, tức Cử Cộng công, Cử Giao công phải chạy trốn sang nước Tề.[30] Đến năm 518 TCN, người nước Cử vì không chịu nổi sự bạo ngược của Cộng công nên lại nổi loạn khiến Cộng công phải bỏ chạy sang nước Lỗ, Giao công được đón về nước trở lại ngôi báu.[31]

Nước Sái[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 509 TCN, Sái Chiêu hầu sang triều kiến Sở Chiêu vương. Ông có một đôi ngọc bội và một đôi áo cầu rất đẹp, dâng cho Sở Chiêu vương mỗi thứ một chiếc, còn lại mình dùng. Trong tiệc, ông cùng vua Sở mặc áo cầu và đeo ngọc bội. Vua Sở còn nhỏ nên tướng quốc nước Sở là Nang Ngõa làm phụ chính. Nang Ngõa thấy Sái Chiêu hầu có đồ quý nổi lòng tham, muốn đòi áo và ngọc bội của ông, Sái Chiêu hầu không cho. Vì vậy Nang Ngõa bèn gièm pha với Sở Chiêu vương, giam lỏng ông ở lại nước Sở không cho về.[32] Sau này Sái Chiêu hầu thấy Đường Thành công cũng bị bắt như mình bởi chấp nhận dâng ngựa quý cho Nang Ngoã mới được phóng thích nên đành hiến áo cầu và ngọc bội cho Nang Ngõa, ông mới được thả về nước sau 3 năm bị giam cầm.[33]

Nước Đường[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 507 TCN, Đường Thành công đến triều kiến nước Sở, có đôi ngựa quý, bị lệnh doãn Nang Ngõa đòi, nhưng vua Đường từ chối, Nang Ngõa liền bắt giam vua nước Đường. Năm 506 TCN, người nước Đường bàn nhau lấy ngựa quý dâng cho Nang Ngõa để xin cho vua Đường về, Nang Ngõa bằng lòng.[32] Tuy nhiên, do Đường Thành công kết minh với quân Ngô tấn công Sở nên sau khi Sở Chiêu Vương phục quốc đã lập tức hưng binh tấn công tiêu diệt nước Đường.[34]

Nước Sở[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 506 TCN, nước Sái xin viện quân nước Tấn để diệt nước Thẩm, Sở Chiêu Vương ở vì trả thù cho Thẩm mà đem vây Sái. Sái Chiêu hầu lo lắng, sai người đi cầu cứu nước Ngô, Ngô vương Hạp Lư cùng Tôn VũNgũ Viên khởi đại quân đi đánh Sở để giúp Sái.[35] Quân Sở liên tiếp đại bại, Chiêu vương được đại phu Đấu Tân cùng em là Đấu Sào mang chạy trốn sang nước Tùy, trú ở phía bắc cung điện của Tùy hầu.[36] Năm 505 TCN, Chiêu vương cử Thân Bao Tư, sang nước Tần cầu cứu. Bao Tư khóc trước sân điện Tần bảy ngày không ăn uống, làm Tần Ai công (anh Thái phu nhân Bá Doanh, cậu của Chiêu vương) cảm động, đồng ý giúp quân. Trong khi liên quân Tần-Sở đang giao chiến kịch liệt chưa phân thắng bại thì nội bộ nước Ngô có loạn, Hạp Lư buộc phải lui binh, Sở Vương nhờ đó phục quốc.[37]

Năm 479 TCN, Bạch công Thắng đẩy lui quân Ngô, lấy cớ đem chiến lợi phẩm dâng vua, đem binh vào Dĩnh đô, bắt giam Sở Huệ vương, an trí ở Cao Phủ rồi tự lập làm vua.[38] Trước đây, Bạch công Thắng từng xin lệnh doãn nước Sở là Tử Tây giúp binh cho mình đánh nước Trịnh để báo thù người nước Trịnh giết cha, Tử Tây đã có hứa. Tuy nhiên, khi nước Tấn đem quân đánh Trịnh, Tử Tây lại đem quân cứu Trịnh. Bạch công tức giận, từ đó tập hợp binh mã chờ cơ hội để chuẩn bị cướp nước Sở. Vài tháng sau, Diệp công Thẩm Chư Lương dẫn quân về Sính Đô đánh bại Bạch công, Bạch công trốn sang Sơn Trung và tự tử, Thẩm Chư Lương đón Sở Huệ vương phục ngôi.[37]

Nước Việt[sửa | sửa mã nguồn]
Việt Vương Câu Tiễn

Năm 494 TCN, Việt Vương Câu Tiễn bị quân Ngô đánh bại phải đầu hàng. Ông sai Văn Chủng đem gái đẹp, của quý lẻn đến đưa cho Bá Hi. Bá Hi nhận rồi nói giúp với vua Ngô để cứu nước Việt, kết quả nước Việt không bị xóa sổ với điều kiện Câu Tiễn phải chấp nhận sang Ngô làm tù binh.[39] Sau 3 năm nhẫn nại phục dịch cùng với vợ ở nước Ngô, mà điển hình nhất là khi vua Ngô ốm Câu Tiễn đã sẵn sàng nếm phân để thử thuốc, nhờ sự nhịn nhục như vậy nên ông đã giành được sự tin tưởng tuyệt đối của Ngô vương Phù Sai và được thả về trở lại làm vua nước Việt.[40] Sau này, Câu Tiễn kiên trì theo đuổi mục tiêu phục thù trong mười năm bằng cách tự đày đọa chính mình như: kê gối bằng gỗ khi ngủ, ăn thức ăn của những người nghèo khó...gọi là "nằm gai nếm mật".[41] Tuy bên trong nuôi chí phục thù, nhưng ngoài mặt giả vờ tuân phục, hằng năm đều đặn triều cống nước Ngô, ông giao Phạm Lãi bí mật luyện tập quân đội, tích trữ quân lương.[42] Cùng lúc, Phạm Lãi dùng mỹ nhân kế, đem Tây Thi dâng cho Ngô vương Phù Sai làm cho vua Ngô hoang dâm, xa xỉ, bỏ bê chính sự, giết hại trung thần.[43] Kết quả, năm 473 TCN, Câu Tiễn đã tiêu diệt nước Ngô, trở thành vị bá chủ cuối cùng của thời Xuân Thu.[44]

Nước Mân Việt[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 220 TCN, Tần Thủy Hoàng mở cuộc chiến tranh xuống phương Nam tấn công Bách Việt. Mân Việt Vương Vô Chư thất bại đành chấp nhận đầu hàng, nước Mân Việt bị đổi thành quận Mân Trung, Vô Chư vẫn cai trị vùng đất này nhưng chỉ giữ vai trò Thổ ty, được gọi là Quân trưởng.[45] Năm 209 TCN, các cuộc nổi dậy chống Tần bùng lên mạnh mẽ, Vô Chư cũng hưởng ứng tự xưng là Mân Việt Vương trở thành thế lực cát cứ độc lập, nhưng khi nhà Tần sụp đổ ông lại không được Hạng Vũ phân phong. Sau đó, Vô Chư quay giáo ủng hộ Hán Vương Lưu Bang phản Tây Sở, nhờ công trạng này nên năm 202 TCN khi nhà Hán thành lập ông chính thức được Hán Cao Đế cho phép phục quốc.[46]

Nước Tề[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 208 TCN, Tề Liệt Vương Điền Đam đem binh đi cứu nước Ngụy bị tướng TầnChương Hàm vây đánh bị tử trận, người nước Tề nghe tin vua Tề chết bèn tôn Điền Giả lên làm Tề vương, bấy giờ ông đã trên dưới 60 tuổi.[47] Điền Giả đề phòng biến loạn, muốn củng cố vững chắc ngôi vị nên điều quân ra ngăn cản các em của Điền Đam là Điền VinhĐiền Hoành về nước, Điền Vinh và Điền Hoành nhờ Hạng Lương (tướng nước Sở) mang quân sang giúp cứu, đánh lui được Chương Hàm.[48] Điền Vinh mưu tính việc riêng, đem quân về nước giành lại quyền cai trị nước Tề, Điền Giả không chống nổi Điền Vinh, phải chạy trốn sang nước Sở, Điền Vinh lập con của Điền Đam là Điền Thị làm Tề Vương.[49] Năm 205 TCN, sau khi đánh đuổi Điền Vinh chạy lên Bình Nguyên, Hạng Vũ lại đưa Điền Giả trở về nước Tề phục vị.[50] Tuy nhiên không lâu sau, nghe tin Điền Vinh bị dân Bình Nguyên giết, em ông ta là Điền Hoành cũng lập con Điền Vinh là Điền Quảng làm Tề vương tại Thành Dương, như vậy trên lãnh thổ nước Tề có hai vua cùng tồn tại.[51] Bấy giờ, Tây Sở Bá Vương Hạng Vũ chưa dẹp xong lực lượng chống đối của Điền Quảng và Điền Hoành, thì nghe tin Bành Thành thất thủ về tay Hán Vương Lưu Bang phải trở về cứu. Điền Hoành thừa cơ tấn công Điền Giả, Điền Giả không chống cự nổi, lại chạy sang hàng nước Sở, lần này nước Sở không thu nhận mà giết chết ông.[52]

Nước Lang NhaNước Yến[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 181 TCN, Doanh Lăng Hầu Lưu Trạch nhờ thành hôn với cháu của Lã thái hậu nên được phong làm vua nước Lang Nha.[53] Năm 180 TCN, Lã thái hậu chết, họ Lã tiến hành bạo loạn.[54] Tề Ai Vương Lưu Tương ở phía tây khởi binh muốn đánh vào Trường An dẹp loạn nhưng không đủ quân, bèn giả hẹn Lưu Trạch đến nước Tề rồi bắt làm con tin để đoạt hết quân Lang Nha, nước Lang Nha do vậy sát nhập vào nước Tề [55] Năm 179 TCN, loạn họ Lã bị dẹp, các đại thần tôn lập Đại Vương Lưu Hằng lên ngôi, tức Hán Văn Đế. Tề Ai Vương đành rút quân về nước, Hán Văn Đế xét công trạng của ông, bèn cải phong ông làm Yên Vương thay cho vị trí của Lã Thông, tuy nhiên chỉ 1 năm sau Lưu Trạch bị bệnh mất.[56]

Nước Thành Dương[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 169 TCN, Hán Văn Đế dời Thành Dương Cung Vương Lưu Hỉ sang làm Hoài Nam Vương để phụng tự cho em trai mình là Hoài Nam Lệ Vương Lưu Trường.[57] Được 4 năm, Văn Đế cải lập con Lưu Trường là Lưu An làm Hoài Nam vương, Lưu Hỉ trở về làm vua ở Thành Dương lần thứ hai.[58]

Đế quốc Hung Nô[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 57 TCN, một quý tộc Hung Nô là Ô Tịch tự xưng là thiền vu, nhưng chẳng bao lâu bị Hô Hàn Da thiền vu đánh bại nên đã tự mình phế đi phong hiệu.[59] Năm 56 TCN, nội bộ Hung Nô phát sinh phản loạn, một người con trai của hàng tướng Lý Lăng (không rõ tên) đã ủng hộ Ô Tịch lên làm thiền vu lần thứ hai, nhưng sự việc thất bại nhanh chóng khiến cả hai đều bị Hô Hàn Da thiền vu sát hại.[60]

Nhà Tây Hán[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 8, Hán Nhũ Tử bị quyền thần Vương Mãng ép phải nhường ngôi cho mình, lập ra nhà Tân (8-23). Lúc đó Nhũ Tử Anh mới 4 tuổi, bị giáng phong làm Định An công.[61] Năm 23, quân khởi nghĩa Lục Lâm đánh vào Trường An giết chết Vương Mãng. Thủ lĩnh quân Lục Lâm là hoàng thân Lưu Huyền được lập lên ngôi, tức là vua Canh Thủy Đế. Canh Thuỷ Đế sớm có tư tưởng hưởng lạc, trong khi các lực lượng quân phiệt cát cứ còn nhiều, chính quyền Canh Thuỷ suy yếu nhanh chóng. Năm 25, Lưu Anh lên 20 tuổi. Tướng Phương Vọng ở Bình Lăng thấy chính quyền Canh Thuỷ đã loạn, bèn lập ông lên ngôi để chống Lưu Huyền.[62] Lưu Huyền sai Lý Tùng mang quân trấn áp, Phương Vọng thế yếu không chống lại được Lý Tùng, cuối cùng cả Phương Vọng và Lưu Anh đều bị giết chết.[63]

Nhà Tây Tấn[sửa | sửa mã nguồn]
Tấn Huệ Đế

Tháng giêng năm 301, Triệu Vương Tư Mã Luân theo kế của Tôn Tú ép cháu ruột là Tấn Huệ Đế phải nhường ngôi cho mình, an trí Huệ Đế ra thành Kim Dung. Tề vương Tư Mã Quýnh vốn có công cùng Luân phế Giả hậu chỉ được ban chức nhỏ mà sinh lòng oán hận, nhân dịp Luân cướp ngôi bèn sai người cầm hịch triệu tập một loạt vương thất như Hà Gian vương Tư Mã Ngung, Thành Đô vương Tư Mã Dĩnh, Thường Sơn vương Tư Mã Nghệ, Tân Dã công Tư Mã Hâm tham chiến để trừ bỏ Luân.[64] Tháng 4 năm đó, Tề vương Quýnh hợp binh với các vương công, thanh thế rất lớn, Tư Mã Luân nhanh chóng tan rã thua trận và bị bắt. Tề vương Quýnh cùng các vương công tiến vào kinh, bắt Luân và phe cánh Tôn Tú, rồi sai người tới thành Kim Dung rước Huệ Đế về cung, lập lại làm vua.[65]

Nước Đại[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 327, Trung Sơn công Thạch Hổ của nhà Hậu Triệu phái quân tấn công Thác Bạt Hột Na, Thác Bạt Hột Na bại trận phải dời thủ phủ đến Đại Ninh (nay thuộc Trương Gia Khẩu, Hà Bắc). Năm 329, Hạ Lan bộ và các tù trưởng khác cùng nhau lập con trai của một người anh em họ của Thác Bạt Hột Na là Thác Bạt Ế Hòe lên làm Đại vương, Thác Bạt Hột Na đào thoát đến Vũ Văn bộ. Năm 335, Thác Bạt Ế Hòe giết chết cữu phụ là Hạ La Ái Đầu, tức tù trưởng của Hạ Lan bộ, các bộ lạc do vậy đã nổi loạn, Thác Bạt Hột Na từ Vũ Văn bộ trở về, lại được ủng hộ lên làm Đại vương.[66]

Năm 335, Thác Bạt Ế Hòe bị mất ngôi phải đào thoát đến Hậu Triệu. Năm 337, Thác Bạt Ế Hòe được tướng Lý Mục của Hậu Triệu hộ tống về Đại Ninh, các thuộc hạ cũ của Thác Bạt Ế Hòe lần lượt quy phục, Thác Bạt Hột Na thất bại lại phải chạy đến Tiền Yên, sau đó không rõ tung tích.[67]

Nhà Đông Tấn[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 403, Sở vương Hoàn Huyền yêu cầu Tấn An Đế ban một chiếu chỉ nhường ngôi cho mình, Hoàn Huyền sau đó chiếm đoạt ngai vàng và trở thành Vũ Điệu Hoàng Đế của nước Sở. An Đế bị giáng làm Bình Cố vương, được quản thúc tại gia. Năm 404, tướng của Hoàn Huyền là Thái thú Hạ Bì Lưu Dụ, nhận thấy Hoàn Huyền thiếu tài quản trị và sự ủng hộ nên đã lập một liên minh tiến hành nổi dậy chống lại Hoàn Huyền, bắt đầu tại Kinh Khẩu (nay thuộc Trấn Giang, Giang Tô) và vươn đến Kiến Khang chỉ trong vòng vài ngày.[68] Hoàn Huyền chạy trốn về lãnh địa cũ ở Giang Lăng (nay thuộc Kinh Châu, Hồ Bắc) song đem An Đế đi cùng, quân đồng minh của Lưu Dụ là Lưu Nghị, Hà Vô Kị và em trai ông là Lưu Đạo Quy đến vùng lân cận Giang Lăng và đánh bại quân của Hoàn Huyền. Hoàn Huyền cố đào tẩu một lần nữa, song bị quân của tướng Mao Cừ giết chết.[69] An Đế được phục vị tại Giang Lăng bởi các quan Vương Khang SảnVương Đằng Chi. Tuy nhiên, cháu trai của Hoàn Huyền là Hoàn Chấn sớm sau đó đã đánh úp Vương Khang Sản và Vương Đằng Chi và chiếm Giang Lăng, bắt An Đế làm con tin mặc dù bề ngoài tôn vinh An Đế là hoàng đế. Năm 405, Giang Lăng thất thủ trước quân của Lưu Nghị, Hoàn Chấn chạy trốn, An Đế được chào đón trở lại Kiến Khang.[70]

Nước Tây Tần[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 400, Hậu Tần Văn Hoàn Đế Diêu Hưng phát động một chiến dịch lớn chống lại Tây Tần, gần như toàn bộ quân Tây Tần bị bắt. Tần Vũ Nguyên Đế Khất Phục Càn Quy nhận thấy không thể duy trì đất nước hơn nữa, lệnh cho các quan lại đầu hàng Hậu Tần, trong khi bản thân mình lại theo về phía Nam Lương.[71] Lo ngại Khất Phục Càn Quy có thể cố tái lập đất nước, vua Nam Lương là Thốc Phát Lợi Lộc Cô đã cho quân theo sát ông. Khất Phục Càn Quy bèn phái cử các huynh đệ của mình đến kinh thành Tây Bình của Nam Lương làm con tin, sau đó lợi dụng lúc lính Nam Lương nới lỏng canh giữ, ông đã trốn đến Hậu Tần và được phong chức Quy Nghĩa hầu.[72] Diêu Hưng trao toàn bộ số quân lính bị bắt cho Khất Phục Càn Quy và cho ông trấn thủ kinh thành của Tây Tần trước đây là Uyển Xuyên, vì vậy trên thực tế Khất Phục Càn Quy lại có được vị trí vốn có trước đó, song nay là một chư hầu của Hậu Tần. Ông đã nhanh chóng lập lại cấu trúc chính quyền, song các quan lại nay có tước vị thấp hơn để thể hiện sự khuất phục trước Hậu Tần. Năm 409, khi thấy thời cơ đã chín muồi, Khất Phục Càn Quy tự xưng là Tần vương, phục hưng nước Tây Tần, đồng thời cải niên hiệu.[73]

Đãng Xương Quốc[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 550, quân chủ nước Đãng Xương là Lương Di Định bị người tù trưởng trong họ là Lương Lão Cam đánh úp bất ngờ phải bỏ chạy sang Tây Ngụy nương náu, Lương Lão Cam tự lập làm vua Đãng Xương.[74] Thừa tướng Tây Ngụy là Vũ Văn Thái phái các tướng như: Vũ Văn Quý, Đậu Lư Nịnh, Sử Nịnh đem quân thảo phạt Lương Lão Cam.[75] Lương Lão Cam không chống nổi sức tấn công của Tây Ngụy, bị bắt sống đem ra pháp trường sử trảm để thị chúng, Lương Di Định được đưa trở lại làm vua Đãng Xương.[76]

Nhà Tùy[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 619, Trịnh vương Vương Thế Sung tuyên bố rằng Hoàng Thái Chủ mệnh thiện vị cho mình, kết thúc triều Tùy. Vương Thế Sung đăng cơ và trở thành hoàng đế của nước Trịnh, giáng Dương Đồng làm Lộ quốc công.[77] Một tháng sau, phụ tử Bùi Nhân CơBùi Hành Nghiễm cùng với Vũ Văn Nho Đồng, Vũ Văn ÔnThôi Đức Bản lập mưu giết chết Vương Thế Sung và phục vị cho Dương Đồng. Tuy nhiên, do tin tức bị bại lộ nên những người chủ mưu quyết định khởi sự khi công tác chuẩn bị còn dang dở, Dương Đồng trở lại ngôi cửu ngũ chí tôn chưa ấm chỗ thì đã bị phế.[78] Anh của Vương Thế Sung là Tề vương Vương Thế Uyển thuyết phục Vương Thế Sung rằng phải giết chết Dương Đồng để ngăn ngừa các âm mưu tương tự lặp lại, Vương Thế Sung chấp thuận và khiển huynh tử là Đường vương Vương Nhân Tắc cùng gia nô Lương Bách Niên đi ép buộc Dương Đồng phải uống thuốc độc.[79]

Nhà Đường[sửa | sửa mã nguồn]
Đường Trung Tông
Đường Duệ Tông

Năm 684, Đường Trung Tông muốn phong nhạc phụ Vi Huyền Trinh làm Tể tướng, Bùi Viêm hết sức can ngăn nhưng không được, bèn mật cáo với Võ Thái hậu. Võ Thái hậu vào triều, tuyên chiếu phế truất ông làm Lư Lăng vương, rồi giam lỏng ông ở biệt sở.[80] Võ Thái hậu quyết định lập Tương vương Lý Đán lên ngôi, tức Đường Duệ Tông. Trung Tông bị lưu đày đến Phòng châu, rồi Quân châu. Ít lâu sau, Võ Thái hậu phế luôn Lý Đán, tự xưng hoàng đế, đặt quốc hiệu là Chu.[81] Năm 697, Võ Thái hậu ra lệnh rằng Lý Hiển trong người có bệnh, đặc cách cho về kinh, lại cho phép thê tử, con cái đi theo.[82] Hoàng tự Lý Đán dâng sớ xin nhường ngôi kế vị cho Lý Hiển, Thái hậu bằng lòng, đổi hoàng tự là Tương vương và phong Lý Hiển làm Hoàng thái tử. Năm 705, Võ Thái hậu bị bệnh nặng nằm trong cung.[83] Hai sủng nam Trương Dịch Chi, Trương Xương Tông nắm quyền trong cung, trông giữ mọi việc. Các tướng Trương Giản Chi, Thôi Huyền Vĩ, Hoàn Ngạn Phạm, Viên Thứ Kỉ, Lý Đa Tộ, Kính Huy cùng Tiết Tư Hành dẫn quân tiến vào Huyền Vũ Môn, sai Đồng Hiệu Nghệ đến Đông cung nghênh đón Lý Hiển. Lý Hiển đồng tình, theo bọn họ vào cung, bọn Giản Chi ép Thái hậu nhường ngôi Lý Hiển. Thái hậu ra lệnh cho Lý Hiển làm giám quốc, ngày hôm sau chính thức nhường ngôi cho ông. Lý Hiển phục ngôi, bỏ quốc hiệu Chu, nhà Đường tái lập.[84]

Năm 690, nhiều phe cánh của Võ Thái hậu trong triều dâng sớ khuyên bà xưng đế, Đường Duệ Tông biết thế cục bất lợi, cũng đành xin Thái hậu lên ngôi. Võ Thái hậu bằng lòng đăng cơ, đổi quốc hiệu thành Đại Chu, nhà Đường bị gián đoạn. Duệ Tông bị Thái hậu giáng làm người kế vị, nhưng được gọi là Hoàng tự thay vì thái tử.[85] Năm 705, sau cuộc chính biến cung đình, Đường Trung Tông phục vị định lập Lý Đán làm Thái đệ nối ngôi, nhưng ông từ chối. Năm 710, Đường Trung Tông đột nhiên băng hà, Vi hoàng hậu nắm giữ triều chính, tuyên bố lập Ôn vương Lý Trọng Mậu làm đế, xưng Đường Thương Đế. Ít lâu sau, công chúa Thái BìnhLý Long Cơ khởi binh diệt tan thế lực của Vi hoàng hậu, ép Thương Đế hạ chiếu nhường ngôi cho Lý Đán. Ban đầu Lý Đán cố từ chối, nhưng sau đó đã chấp thuận đăng cơ lần thứ hai.[86]

Đường Hy Tông
Đường Chiêu Tông

Năm 881, quân khởi nghĩa nông dân do Hoàng Sào chỉ huy tấn công vào kinh đô Trường An, Đường Hy Tông từ bỏ kinh thành và chạy đến Thành Đô. Hoàng Sào xưng đế, đặt quốc hiệu Đại Tề, nhưng liên tục phải chiến đấu với các Tiết độ sứ trung thành với nhà Đường, đến năm 884 thì bị tiêu diệt.[87] Năm 885, Đường Hy Tông mới quay trở lại Trường An vì vướng cuộc loạn khác của Tần Tông Quyền.[88] Năm 886, lại xảy ra vụ tranh chấp nghiêm trọng giữa Điền Lệnh TưHà Trung Tiết độ sứ Vương Trọng Vinh. Vương Trọng Vinh liên thủ với Lý Khắc Dụng đánh bại Điền Lệnh Tư cùng các đồng minh và tiến về Trường An, Điền Lệnh Tư đưa Đường Hy Tông chạy đến Hưng Nguyên.[89] Chu MaiLý Xương Phù chống đối Đường Hy Tông và tôn Lý Uân làm hoàng đế tại Trường An, các Tiết độ sứ khác có vẻ sẵn sàng công nhận Lý Uân. Đối mặt với tình thế này, Điền Lệnh Tư đã từ chức chỉ huy Thần Sách quân và chạy đến Tây Xuyên với Trần Kính Tuyên. Thay thế Điền Lệnh Tư là Dương Phục Cung. Dương Phục Cung dùng quan hệ vốn có với Vương Trọng Vinh và Lý Khắc Dụng để thuyết phục họ lại công nhận và ủng hộ Đường Hy Tông.[90] Sau đó, thuộc hạ của Chu Mai là Vương Hành Du đã ám sát chủ tướng và buộc Lý Uân phải chạy trốn đến Hộ Quốc và bị giết. Tiếp đó bộ tướng của Đường Hy Tông là Lý Mậu Trinh đã đánh bại Lý Xương Phù và đoạt lấy Phượng Tường, Đường Hy Tông trở về Trường An phục vị vào năm 887[91]

Năm 900, Đường Chiêu Tông trong một dịp uống say đã hạ sát vài thái giám và cung nữ, hoạn quan Tả trung uý Lưu Quý Thuật bất bình dẫn cấm quân đột nhập vào nội cung phối hợp với Hữu quân Trung uý Vương Trọng Tiên bắt giam ông,[92] sau đó bọn họ ngụy tạo chiếu thư với nội dung là Chiêu Tông nhường ngôi cho Thái tử Lý Dụ để lui về hậu cung làm Thái thượng hoàng.[93] Tuy nhiên, việc chuyển giao quyền lực này chỉ diễn biến trong 3 tháng thì có Tuyên Vũ Tiết độ sứ Chu Toàn Trung được sự phối hợp với Tể tướng Thôi Dận đã bày mưu tập hợp các hữu quân bộ tướng lật đổ được Lý Dụ rồi rước Chiêu Tông trở lại ngai vàng[94]

Nhà Nam Tống[sửa | sửa mã nguồn]
Tống Cao Tông

Năm 1129, hai tướng Miêu PhóLưu Chánh Ngạn phát động cuộc chính biến, nhằm tiêu diệt phe chống đối của Xu mật xứ Vương Uyên cùng thế lực nội thị.[95] Do Tống Cao Tông không chấp nhận những yêu cầu của phản quân nên bị ép phải nhường ngôi cho Thái tử Ngụy quốc công Triệu Phu, vì thái tử lúc ấy mới 3 tuổi nên Miêu Phó và Lưu Chính Ngạn dùng vũ lực buộc Cao Tông xuống chiếu để Long Hựu thái hậu Mạnh thị buông rèm nhiếp chính, chủ yếu là họ dễ bề thao túng triều đình. Cao Tông đành lui về làm Thái thượng hoàng, được tôn làm Duệ Thánh Nhân Hiếu Hoàng Đế.[96] Tuy nhiên, chỉ hơn 1 tháng sau, danh tướng Hàn Thế Trung đem quân về kinh đánh dẹp loạn đảng. Triệu Phu cũng chết không rõ nguyên nhân, nhờ đó Cao Tông phục vị.[97]

Nhà Nguyên[sửa | sửa mã nguồn]
Nguyên Văn Tông

Năm 1329, Nguyên Văn Tông Tugh Temür làm lễ thoái vị trao Ngọc tỷ truyền quốc cho anh là Chu vương Kuśala khi vị thân vương này vừa ở Mạc Hoa về tới Đại Đô, ông được lập làm Hoàng trữ để kế vị sau này.[98] Thực ra Kuśala được quần thần chọn làm người nối ngôi Thái Định Đế nhưng do ở quá xa chưa về đăng cơ thì trong triều đã xảy ra nội loạn, Bình Chương Chính Sự Đảo Thích Sa lập con của Thái Định Đế là Borjigin Arigabag lên ngôi tức Nguyên Thiên Thuận Đế. Được sự hỗ trợ của Khu mật viện sự El Temür, Tugh Temür dẹp tan cuộc nội loạn này rồi tuyên bố tạm thời đăng cơ để chờ anh về tiếp nhiệm, tuy nhiên khi biết tin mình được tôn vị Kuśala lập tức xưng đế ngay tại Hòa Lâm, sau đó mới kéo quân về kinh kế vị ngai vàng.[99] Sáu tháng sau, Tugh Temür lại nghe lời xúi giục của Khu mật viện sự El Temür bày mưu mời Minh Tông dự yến đầu độc chết rồi tuyên bố phục vị.[100]

Nước ChuNước Ngô[sửa | sửa mã nguồn]
Trương Sĩ Thành

Năm 1356, Chu Thành Vương Trương Sĩ Thành phái binh tấn công Trấn Giang của Ngô Vương Chu Nguyên Chương nhưng thất bại. Ngô Vương thừa thắng tiến đánh các khu vực như Thường Châu, Trường Hưng, Giang Âm, Thường Thục của Chu Vương, bắt sống em Chu Vương là Trương Sĩ Đức.[101] Lúc này, Phương Quốc Trân (đã đầu hàng nhà Nguyên) đánh chiếm Côn SơnThái Thương, khiến Trương Sĩ Thành lưỡng đầu thọ địch, chính quyền nước Chu rơi vào cảnh nguy khốn, lòng người dao động.[102] Năm 1357, Trương Sĩ Thành quyết định đầu hàng nhà Nguyên, để tìm kiếm sự giúp đỡ, ông được phong chức Thái uý, trở thành công cụ trấn áp quân khởi nghĩa nông dân của triều đình.[103] Năm 1363, Trương Sĩ Thành phái Lữ Trân đánh hạ An Phong, giết chết thủ lĩnh quân Khăn đỏ Lưu Phúc Thông. Đến lúc này, ông đã khống chế một khu vực rộng lớn: nam đến Thiệu Hưng, bắc vượt Từ Châu đến Kim Câu thuộc Tế Ninh, tây giáp Nhữ - Dĩnh và Hào - Tứ, đông gặp biển, dài hơn 2000 dặm, có mấy chục vạn giáp binh.[104] Sau nhiều lần thỉnh cầu nhà Nguyên phong vương đều bị cự tuyệt, ông liền rời bỏ triều đình, tự ý xưng vương, đặt quốc hiệu là Ngô.[105]

Nhà Minh[sửa | sửa mã nguồn]
Minh Anh Tông

Năm 1449, Minh Anh Tông do nghe lời một viên hoạn quan thân tín là Vương Chấn nên trực tiếp chỉ huy binh sĩ tấn công rợ Ngõa Lạt. Kết quả ông thua trận và bị bắt ở sự biến Thổ Mộc bảo, việc này khiến người em trai là Thành vương Chu Kỳ Ngọc lên kế vị, tức Minh Đại Tông.[106] Triều đình nhà Minh dùng vàng bạc để chuộc cựu hoàng, Anh Tông lên đường trở về Trung Quốc sau 1 năm làm tù binh. Khi qua An Định Môn, vua em Đại Tông cùng văn võ bá quan ra đón, rồi đưa ông về ở trong Nam cung và ông trở thành Thái Thượng hoàng.[107] Sau đó, bởi triều thần có người muốn Thái Thượng hoàng phục tịch khiến Đại Tông nổi giận, Đại Tông trở nên dè dặt Thái Thượng hoàng và cho người giám sát ông. Năm 1457, bằng Đoạt môn chi biến, Anh Tông trở lại Hoàng vị của mình sau 7 năm bị giam lỏng.[108]

Diệp Nhĩ Khương hãn quốc[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 1632, Shodja ad-Din Ahmad Khan bị lật đổ, chỉ tại ông trọng dụng các Amir của Aksu vì trước đây các Amir đó đã ủng lập ông, điều này khiến các Amir ở Diệp Nhĩ Khương bất mãn.[109] Kết quả, họ tẩy tray Shodja ad-Din Ahmad Khan, đưa anh trai ông là Qilich Khan lên ngôi, Shodja ad-Din Ahmad Khan bỏ chạy sang Aksu.[110] Năm 1635, Thống đốc TurpanAbdul Rahhan nổi dậy ở phía đông, đem binh đánh chiếm Aksu, Shodja ad-Din Ahmad Khan chạy trốn trở lại Diệp Nhĩ Khương.[111] ShadiZhuo thuyết phục Qilich Khan thu nhận Shodja ad-Din Ahmad Khan, sau đó không lâu, Shadi và Zhuo giết Qilich Khan, thiết lập lại Shodja ad-Din Ahmad Khan.[112]

Thổ Tạ Đồ Hãn Bộ[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 1793, Thổ Tạ Đồ Hãn đời thứ chín là Tsedendorj phạm trọng tội, Thanh Cao Tông hạ lệnh phế trừ hãn vị, con trai trưởng của ông là Minjer Dorzi được quyền thay thế.[113] Nhưng chỉ một năm sau, Minjer Dorzi đột nhiên qua đời, Thanh đế cho phép Tsedendorj khôi phục địa vị cũ.[114]

Nhà ThanhMãn Châu quốc[sửa | sửa mã nguồn]
Thanh Cung Tông

Ngày 12 tháng 2 năm 1912, Long Dụ Hoàng thái hậu xuống bút phê chuẩn "Thanh đế thoái vị chiếu thư", theo các "điều kiện ưu đãi của Hoàng đế nhà Thanh" ký với Trung Hoa Dân Quốc mới. Bấy giờ, Thái hậu Long Dụ sở dĩ phải chấp nhận bởi trước đó bà đã được Viên Thế Khải hối lộ 20.000 lượng vàng, và bị đe dọa sẽ bị chặt đầu nếu từ chối.[115] Theo đó, Thanh Tốn Đế Phổ Nghi vẫn giữ lại tước vị hoàng đế và được chính quyền Cộng hòa đối xử với danh nghĩa như một hoàng đế ngoại quốc. Ông và triều đình được phép ở lại trong Tử Cấm Thành, các cung điện riêng như Dưỡng Tâm Điện cũng như được ở lại trong Di Hoà Viên, hằng năm Chính phủ Cộng Hoà sẽ trợ cấp cho hoàng gia 4 triệu lượng bạc và duy trì một vị hoàng đế cũng như một triều đình nhà Thanh chỉ còn lại hư danh trong Tử Cấm Thành và tồn tại song song với chính quyền dân quốc.[116] Năm 1917, quân phiệt Trương Huân vốn là người trung thành với nhà Thanh nên đã phục hồi đế vị cho Phổ Nghi trong 12 ngày, từ ngày 1 tháng 7 đến 12 tháng 7.[117] Phổ Nghi bị trục xuất khỏi Tử Cấm Thành năm 1924 bởi Quân phiệt Phùng Ngọc Tường, sau khi lang thang ở một số nơi, Phổ Nghi chạy vào Công sứ quán Nhật. Năm 1932, Phổ Nghi được đế quốc Nhật Bản dựng lên làm Quốc trưởng Mãn Châu Quốc, đến năm 1934 thì đã chính thức đăng quang Hoàng đế Đại Mãn Châu Đế quốc với niên hiệu Khang Đức.[118]

Đại Mông Cổ quốc[sửa | sửa mã nguồn]
Chí Tôn Bảo Vương

Năm 1915, Trung Quốc cùng đế quốc Nga và Đại Mông Cổ quốc ký với nhau một hiệp ướcKyakhta. Ngoại Mông đã hủy bỏ sự độc lập danh nghĩa, nhưng vẫn duy trì mức độ tự trị cao, Bogk Dokhan vẫn là nhà cai trị trên thực tế.[119] Năm 1917, Cách mạng Tháng Mười đã diễn ra ở Nga khiến tình hình chính trị ở Mông Cổ cũng thay đổi, lãnh đạo bạch vệ của Nga Grigory Mikhaylovich Semyonov thành lập một lực lượng tại khu vực hồ Baikal, tuyên bố sẽ giúp Bogd Khan thành lập một nhà nước mới của người Mông Cổ.[120] Các hoàng tử thế tục bị chính phủ Mông Cổ gạt ra ngoài lề, họ không hài lòng với nền chính trị thần quyền của Bogd Khan và có xu hướng nghiêng về chính trị đối với Trung Quốc. Năm 1919, ngoại vụ đại thần của Đại Mông Cổ quốc là Balingiin Tserendorj yêu cầu chính phủ Bắc Kinh giúp đỡ, Tổng thống Cộng hòa Trung Hoa Từ Thế Xương đã phái tướng Từ Thụ Tranh gửi quân tới Mông Cổ, bắt Bagd Khan vào quản thúc tại gia.[121] Đại Mông Cổ quốc trở thành khu tự trị Ngoại Mông, trao lại toàn bộ quyền lực cho chính phủ Trung Hoa Dân Quốc, Từ Thế Xương tuyên bố rằng Mông Cổ đã bãi bỏ chế độ quân chủ và đơn phương xé bỏ "Hiệp ước Trung Quốc-Nga-Mông Cổ" năm 1915.[122] Năm 1921, chính quyền Nga Xô viết đem binh tấn công, trục xuất hoàn toàn quân đội Trung Quốc khỏi Ngoại Mông, Bogd Khan trở lại thiết lập nền quân chủ lần thứ nhì, tuyên bố khôi phục Đại Mông Cổ quốc.[123]

Việt Nam[sửa | sửa mã nguồn]

Tĩnh Hải quân Tiết độ sứ[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 880, Tiết độ sứ Tăng Cổn bỏ thành Đại La, có người Hồng Châu là Khúc Thừa Dụ thừa cơ chiếm lấy, tự xưng là Tiết độ sứ, lúc đó nhà Đường còn đang bận dẹp loạn Hoàng Sào nên tạm thời chấp nhận.[124] Năm 882, nhà Đường cử Cao Mậu Khanh sang Tĩnh Hải quân làm Tiết độ sứ, rồi sau đó lần lượt là: Tạ Triệu, An Hữu Quyền, Tôn Đức Chiêu, Chu Toàn Dục, Độc Cô Tổn...Trong giai đoạn này, không thấy thư tịch nào nhắc đến hành trạng của Khúc Thừa Dụ, tuy nhiên theo tác giả Lê Văn Siêu đề cập trong sách "Việt Nam văn minh sử", thì Khúc Thừa Dụ có một quan hệ gần gũi nào đó với các quan cai trị người phương Bắc từ nhiều năm trước, thậm chí là quan hệ "thông gia", nên ông đã sớm được đi lại và tiếp cận với công việc cai trị tại Đại La ở mức độ nhất định. Do đó, nhận thấy khí số nhà Đường chưa tận, ông đã chủ động tiếp nhận việc điều động Tiết độ sứ mới của triều đình mà lui về làm hào trưởng. Năm 905, Tiết độ sứ Độc Cô Tổn mới sang đã rất độc ác mất lòng người, bị gọi là "Ngục Thượng thư" (thượng thư ác). Tổn lại không cùng phe với Chu Ôn nên chỉ vài tháng lại bị Chu Ôn dời tiếp ra đảo Hải Nam và giết chết, Tĩnh Hải quân do đó không có người cai quản.[125] Khúc Thừa Dụ, khi đó đang là Hào trưởng Chu Diên, được dân chúng ủng hộ, đã tiến ra chiếm đóng phủ thành Đại La (Tống Bình cũ - Hà Nội), tự xưng là Tiết độ sứ.[126] Ông khéo léo dùng danh nghĩa "xin mệnh nhà Đường" buộc triều đình nhà Đường phải công nhận chính quyền của ông, do đó năm 906, vua Đường phong thêm cho Khúc Thừa Dụ tước "Đồng bình chương sự".[127]

Đại Lịch quốc và Đại Nam quốc[sửa | sửa mã nguồn]
Nùng Trí Cao

Năm 1041, Nùng Trí Cao xưng đế lập ra nước Đại Lịch.[128] Vua Lý Thái Tông sai tướng đi đánh dẹp bắt được, sau đó tha tội cho làm Quảng Nguyên mục và gia phong tước Thái bảo.[129] Năm 1048, Nùng Trí Cao chiếm giữ động Vật Ác (phía tây Cao Bằng) và đổi vùng đất dưới sự quản trị của mình thành nước Đại Nam.[130] Lý Thái Tông sai Quách Thịnh Dật đi đánh, Trí Cao lại thua và xin đầu hàng. Năm 1052, Trí Cao lại làm loạn khôi phục quốc hiệu là Đại Nam đem quân sang tấn công nhà Tống, kết cục bị tướng Tống là Địch Thanh đánh bại chạy sang Đại Lý rồi chết ở đó.[131]

Nhà Lý[sửa | sửa mã nguồn]
nhiếp chính Ỷ Lan

Năm 1069, Lý Thánh Tông thân chinh đi đánh Chiêm Thành, nhà vua trao quyền điều khiển chính sự ở triều đình cho Nguyên phi Ỷ Lan.[132] Ra trận, Thánh Tông đánh mãi không được, bèn lui binh. Khi đem quân về đến châu Cư Liên (Tiên Lữ, Hưng Yên) thì nghe tin Nguyên phi làm rất tốt việc nội trị, lòng dân cảm hóa hòa hợp, trong cõi vững vàng, tôn sùng Phật giáo, dân gọi là bà Quan Âm.[133] Thánh Tông nói:... "Nguyên phi là đàn bà còn làm được như thế, ta là nam nhi lại chẳng được việc gì hay sao!" Bèn quay lại đánh nữa, bắt được vua nước ấy là Chế Củ và 5 vạn người.[134] Năm 1072, Lý Thánh Tông băng hà, vua Nhân Tông kế nghiệp khi mới 7 tuổi, nên tôn đích mẫu là Thượng Dương hoàng hậu làm Hoàng thái hậu và để cho Thái hậu cùng dự việc triều chính, Ỷ Lan Nguyên phi được tôn làm Hoàng thái phi.[135] Nhưng rồi, dưới lợi thế là mẹ đẻ của Hoàng đế, cùng sự liên kết với Thái úy Lý Thường Kiệt, bà đã khiến Nhân Tông ra chiếu chỉ phế truất Thượng Dương Thái hậu.[136] Sau đó, Ỷ Lan đã ra lệnh giam Dương Thái hậu cùng 72 cung nhân khác vào lãnh cung, đến khi phát tang chôn cất Thánh Tông, Thái hậu cùng các cung nhân bị buộc phải chôn theo vào năm 1073.[137] Vấn đề chính ở đây là Ỷ Lan cho mình là mẹ đẻ mà không được dự chính sự, mới kêu với vua rằng: "Mẹ già khó nhọc mới có ngày nay, mà bây giờ phú quý người khác hưởng, thế thì sẽ để mẹ già vào đâu?"[138] Sau khi sát hại Thượng Dương Hoàng thái hậu, Ỷ Lan được tôn làm Hoàng thái hậu nhiếp chính, bà cầm quyền cho đến khi Nhân Tông trưởng thành.[139]

Lý Cao Tông
Lý Huệ Tông

Năm 1209, Lý Cao Tông tin lời Phạm Du, sát hại tướng Phạm Bỉnh Di. Bộ tướng của Bỉnh Di là Quách Bốc nghe tin đó, đem binh lính phá cửa Đại Thanh kéo vào nội điện để cứu chủ. Cao Tông cùng Phạm Du không chống nổi, bỏ kinh thành chạy trốn. Quách Bốc đánh chiếm kinh thành, tôn Lý Thẩm lên làm vua.[140] Cao Tông chạy về Tam Nông (Phú Thọ) nương nhờ nhà Hà Vạn, trong khi đó Hoàng tử Sảm chạy về Hải Ấp, dựa vào Trần Lý và em vợ Trần Lý là Tô Trung Từ để đánh Quách Bốc. Cuối năm đó, Trần Lý và Tô Trung Từ mang quân đánh về kinh thành dẹp Quách Bốc rước Lý Cao Tông trở lại kinh đô Thăng Long.[141]

Năm 1214, Lý Huệ Tông cùng thái hậu Đàm thị lo lắng về thế lực họ Trần nên sai người đi với các tướng sĩ ở đạo Bắc Giang, hẹn ngày cùng phát binh đánh Trần Tự Khánh. Tuy nhiên, khi ra quân đối trận, Lý Huệ Tông thất thế phải chạy lên Lạng Châu. Trần Tự Khánh chiếm được kinh đô Thăng Long, sai người đem thư lên Lạng Châu gặp Huệ Tông xin Huệ Tông trở về, nhưng Huệ Tông không nghe.[142] Tự Khánh bèn triệu tập các vương hầu, đón Huệ Văn Vương Lý Nguyên Vương đến Hạc Kiều, lập làm vua mới. Huệ Tông ở ngoài dân gian lần lượt dựa vào sứ quân khác để chống lại họ Trần nhưng đều thất bại, năm 1216 đành quyết định quay về Thăng Long. Trần Tự Khánh sai bộ tướng Vương Lê đem thủy quân đi đón Huệ Tông, sau đó phế truất Lý Nguyên Vương xuống làm Huệ Văn Vương như cũ.[143]

Nhà Lê sơ[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 1516, Nguyên quận công Trịnh Duy Sản cùng một số đại thần giết vua Lê Tương Dực, lập Lê Chiêu Tông làm vua mới. Chiêu Tông vừa lên ngôi thì An Hòa hầu Nguyễn Hoằng Dụ đang đóng quân ở dinh Bồ Đề, nghe tin Trịnh Duy Sản giết Tương Dực, liền nổi giận vượt sông, đốt phá phố xá ở kinh thành, định cùng với con em gia thuộc mưu sự phục thù. Duy Sản bèn sai lực sĩ Đàm Cử đón Chiêu Tông về Tây Đô, Trần Cảo nhân cơ hội đó tiến quân vào chiếm Đông Kinh. Cảo tự xưng làm Thiên Ứng Đế, ra triều đường coi chính sự.[144] Thái sư Thiệu quốc công Lê Quảng Độ đầu hàng, Nguyễn Hoằng Dụ đành tạm ngưng việc báo thù Tương Dực để cùng Duy Sản diệt "giặc Cảo", khôi phục hoàng triều Lê. Ngày 23 tháng 3 âm lịch năm 1516, tại Đông Kinh xảy ra trận chiến ác liệt giữa quân của Lê Chiêu Tông và Trần Cảo.[145] Cảo liên tục dùng súng, hỏa khí bắn ra để chặn quân nhà vua, các tướng triều đình ra sức công phá, hết sức dũng mãnh, cuối cùng đuổi được Trần Cảo khỏi Đông Kinh. Hôm sau Chiêu Tông được Lương Văn hầu Nguyễn Thì Ung cùng văn thần Đỗ Nhạc rước về kinh, ông chính thức khôi phục ngôi báu, ban chiếu đại xá, đặt niên hiệu là Quang Thiệu.[146]

Nhà Lê trung hưng[sửa | sửa mã nguồn]

Mùa Hạ năm 1600, trấn thủ Thuận Hóa Nguyễn Hoàng ở Thăng Long đã hơn 8 năm, bị chúa Trịnh Tùng ghen ghét không cho về trấn. Nguyễn Hoàng tìm cách kích động bọn Phan Ngạn, Bùi Văn Khuê, Ngô Đình Nga nổi lên chống lại nhà Lê, theo về họ Mạc.[147] Tiếp theo, Nguyễn Hoàng kiếm cớ xin được cầm quân đánh dẹp rồi bí mật đốt hết doanh trại, trốn về Thuận Hóa. Lòng người trong kinh kì dao động, vua Kính Tông phải theo Trịnh Tùng chạy về Thanh Hoa, dư đảng họ Mạc nhân đó lại nổi lên, vua Mạc Kính Cung từ Cao Bằng kéo quân tràn vào giành lấy thành Thăng Long, mẹ của Mạc Mậu Hợp lâm triều tự xưng là quốc mẫu.[148] Tháng 8 âm lịch, Trịnh Tùng đưa quân phản công, chiếm lại Đông Kinh, bắt giết quốc mẫu họ Mạc, đuổi Mạc Kính Cung, rước vua Lê Kính Tông phục bích.[149]

Lê Thần Tông
Lê Chiêu Thống tới đại bản doanh quân Thanh thụ phong An Nam quốc vương

Năm 1623, chúa Trịnh Tùng qua đời, con thứ là Trịnh Xuân làm loạn. Trịnh Tráng mang vua Lê Thần Tông chạy vào lánh nạn trong Thanh Hóa, Mạc Kính Khoan ở Cao Bằng thừa cơ kéo về đánh chiếm Gia Lâm 1 tháng. Sau đó không lâu, quân Lê-Trịnh quay lại đánh, Kính Khoan lại thu quân chạy lên Cao Bằng, chúa Trịnh Tráng đưa vua Lê trở lại kinh thành Thăng Long.[149] Năm 1643, vua Lê Thần Tông do chán ghét cảnh chúa Trịnh chuyên quyền nên nhường ngôi cho con là Lê Chân Tông rồi lên làm Thái thượng hoàng. Năm 1649, vua Lê Chân Tông chết, chúa Trịnh Tráng thuyết phục Lê Thần Tông trở lại ngai vàng.[150]

Năm 1787, quân Tây Sơn do Vũ Văn Nhậm chỉ huy tấn công Bắc Hà. Lê Chiêu Thống sai Nguyễn Hữu Chỉnh đem quân chống cự nhưng thất bại thảm hại, Vũ Văn Nhậm kéo quân tới Thăng Long, Chiêu Thống nghe lời Hữu Chỉnh, bỏ Thăng Long chạy đi Kinh Bắc. Sau đó, Nguyễn Văn Hòa, bộ tướng của Văn Nhậm, đuổi kịp quân nhà Lê. Chiêu Thống thân chinh cầm quân ngự chiến, Nguyễn Hữu Chỉnh bị bắt giải về kinh xử tử, quân nhà vua tan vỡ, Dương Đình Tuấn hộ vệ vua chạy sang trại Sơn Lộc.[151] Năm 1788, bầy tôi nhà Lê là Đốc đồng Nguyễn Huy Túc, phiên thần Địch quận công Hoàng Ích Hiểu, tụng thần Lê QuýnhNguyễn Quốc Đống bảo vệ thái hậu và con trai Chiêu Thống qua cửa ải Thủy Khẩu chạy sang Long Châu nhà Thanh, gặp Tổng đốc Lưỡng Quảng Tôn Sĩ NghịTuần phủ Quảng Tây Tôn Vĩnh Thanh cầu xin cứu viện.[152] Thanh Cao Tông Ái Tân Giác La Hoằng Lịch hạ lệnh cho Tôn Sĩ Nghị chỉ huy đưa Chiêu Thống về Thăng Long, phong làm An Nam quốc vương.[153] Cuộc phục vị này được duy trì đến ngày mồng 5 tết Kỷ Dậu (1789) thì chấm dứt theo trận Ngọc Hồi – Đống Đa của vua Quang Trung, kết cục ông phải lưu vong sang Trung Quốc rồi chết ở bên đó.[154]

Chúa NguyễnNam Hà[sửa | sửa mã nguồn]
Nguyễn Thế Tổ

Năm 1785, chúa Nguyễn Phúc Ánh liên kết với quân Xiêm La đem binh về tấn công quân Tây Sơn nhưng bị đại bại trong trận Rạch Gầm – Xoài Mút, kết quả quân bản bộ chúa Nguyễn tan tác chỉ còn vài trăm người nên nhà chúa buộc lòng phải chốn chạy sang nương nhờ người Xiêm. Sau đó, Nguyễn Phúc Ánh xin vua Xiêm cho ra ở khu vực Samsen và Bangpho (trong tiếng Việt gọi là Đồng Khoai hoặc Long Kỳ, hiện nay đều thuộc nội thành Bangkok). Ở đây, đoàn chúa Nguyễn lo khẩn hoang, làm ruộng, đốn củi...để nuôi nhau. Còn Nguyễn Huệ, sau khi đánh dẹp xong, liền đem đại quân về Quy Nhơn, cử Đô đốc Đặng Văn Trấn ở lại giữ Gia Định. Trong thời gian lưu vong ở Xiêm, Nguyễn Ánh thấy vua Xiêm ngày càng tỏ ra không vừa lòng vì lực lượng quân Nguyễn trở nên quá mạnh, ông viết thư cảm ơn rồi ban đêm lặng lẽ trở về vùng Gia Định.[155] Ngoài ra, khi này nội bộ Tây Sơn xảy ra tranh chấp giữa anh em Nguyễn Nhạc - Nguyễn Huệ khiến việc phòng bị ở Gia Định bị lỏng lẻo. Năm 1787, Nguyễn Ánh cùng gia quyến lên thuyền bỏ về hòn Tre (Trúc Dữ). Sau đó Nguyễn Ánh đi sang đảo Cổ Cốt rồi cho mẹ và vợ con ở đảo Phú Quốc. Nguyễn Ánh đi tiếp và chiếm đất Long Xuyên (Cà Mau), vài tháng sau tiến đến cửa biển Cần Giờ. Sau mấy năm củng cố xây dựng lực lượng, lại gặp lúc Nguyễn Huệ còn phải lo kháng chiến chống quân Thanh mà không thể chú ý mặt nam, Nguyễn Phúc Ánh đã trục xuất được quân Tây Sơn và hoàn toàn trở lại làm chủ vùng Gia Định vào năm 1789.[156] Đến năm 1802, Nguyễn Ánh tiêu diệt hoàn toàn thế lực Nguyễn Tây Sơn, xây dựng nên triều đại phong kiến cuối cùng trong lịch sử Việt Nam.

Vương quốc Chiêm Bà[sửa | sửa mã nguồn]
Chiêm Thành[sửa | sửa mã nguồn]

Vương triều thứ Chín:

Năm 1069, quốc vương Chiêm Thành là Chế Củ muốn dựa vào nhà Tống để chặn bước tiến của Đại Việt, xin thần phục và được vua Tống Thần Tông giúp đỡ, cho ngựa trắng và cho phép họ mua lúa ở Quảng Châu, Chiêm Thành không tiếp tục nạp cống cho Đại Việt nữa. Mọi hành động của Chiêm Thành đều bị người Việt cho là khiêu khích, vua Lý Thánh Tông thân chinh dẫn đại quân đi thảo phạt.[157] Trải qua nhiều trận giao chiến kịch liệt, quân nhà Lý bắt được vua Chế Củ ở biên giới Chân Lạp, vua Chiêm vốn có cựu thù với nước Chân Lạp nên hết đường chạy phải ra hàng, kết quả là ông bị Thái uý Lý Thường Kiệt cầm tù, cuộc đuổi bắt vua Chế Củ mất hết một tháng. Lý Thánh Tông ngự tiệc cùng quần thần ở cung điện của vua Chiêm trong kinh thành Phật Thệ, sau đó cho phóng hỏa thiêu rụi nơi này rồi rút quân về.[158] Vua Chiêm mặc áo vải trắng, đầu đội mũ làm bằng cây gai, tay bị trói sau lưng do 5 người lính Võ đô dắt, quyến thuộc đi sau cũng bị trói. Chế Củ xin dâng 3 châu Bố Chính, Ma Linh và Địa Lý (vùng đất từ dãy Hoành Sơn đến dãy Bạch Mã tương ứng với Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên - Huế ngày nay) để chuộc tội nên được tha sau gần bốn tháng mất ngôi.[159]

Vương triều thứ Mười:

Năm 1080, Quốc vương Chiêm Thành Harivarman III nhường ngôi cho con trai là Chế Man Na bấy giờ mới lên 8 tuổi. Năm 1081, Harivarman III qua đời, các quan đại thần cho rằng Chế Man Na còn nhỏ khó có thể đảm đương quốc gia đại sự nên ủng lập chú của Chế Man Na là Paramabhodhisatva lên ngôi. Năm 1086, Chế Man Na tổ chức binh biến nhằm giành lại vương quyền, Paramabhodhisatva binh bại đành chấp nhận thoái vị.[160]

Vương triều thứ Mười Hai:

Năm 1190, quân Chân Lạp ồ ạt tiến sang Chiêm Thành, kinh đô Vijaya thất thủ trước ưu thế vượt trội của kẻ địch. Quốc vương Trâu Á Na bị bắt trong cuộc chiến, vua Chân Lạp Jayavarman VII phong cho người anh rể của mình là In làm “vua Vijaya”, lấy hiệu là Surya Jayavarmadeva.[161] Bấy giờ, hoàng thân người Chiêm lưu vong tại Chân Lạp là Bố Trì đã được vua Chân Lạp tin tưởng giao quyền lãnh đạo một đạo quân lớn tiến đánh nước Chiêm Thành. Bố Trì vốn là một hoàng tử Chiêm Thành nhưng từ năm 1182 đã sang sống ở Chân Lạp, được vua Jayavarman VII thu nhận làm tướng. Nhờ có công dẹp loạn xứ Malyan thuộc Chân Lạp, Bố Trì được vua Chân Lạp tin dùng, phong làm Phó vương. Sau khi tiến vào Panduranga, Bố Trì tự lập làm vua của xứ này, xưng hiệu là Sri Suryavarman.[162] Nước Chiêm Thành bấy giờ bị chia làm hai phần, các xứ miền bắc trên thực tế trở thành thuộc địa của nước Chân Lạp, riêng xứ Panduranga vẫn giữ quyền tự chủ nhờ vào mối quan hệ tốt giữa Sri Suryavarman với vua Jayavarman VII. Năm 1191, một hoàng tử xứ Vijaya là Rasupati phất cờ khởi nghĩa, Surya Jayavarmadeva không chống nổi sự phản kháng mạnh mẽ của người Chiêm, buộc phải tháo chạy. Rasupati lên ngôi vua Chiêm Thành, xưng hiệu là Jaya Indravarman V. Khi biết tin Jaya Indravarman V lên ngôi, vua Chân Lạp Jayavarman VII lập tức thả cựu vương Trâu Á Na về nước, để tạo ra một cuộc tranh chấp vương quyền mới tại Chiêm Thành.[163] Cựu vương Jaya Indravarman IV khi trở về đã tập họp lại những người thân tín cũ và đề nghị liên minh với vua đương nhiệm của xứ này là Bố Trì để chống lại vua Jaya Indravarman V, vì kiêng nể uy tín của cựu vương, Bố Trì đã chấp nhận liên minh, Chiêm Thành rơi vào cảnh một nước ba vua. Trong cuộc chiến tranh giành quyền lực này, phe của hai vua Jaya Indravarman IV và Sri Suryavarman cuối cùng đã chiến thắng, quân Panduranga tiến vào chiếm đóng thành Vijaya, vua Jaya Indravarman V bại trận bị giết. Khi không còn thế lực đối địch từ Vijaya, Bố Trì và Trâu Á Na lập tức trở mặt với nhau. Bố Trì đã chiếm luôn thành thành Vijaya, với mong muốn làm vua toàn cõi Chiêm Thành, Trâu Á Na với lực lượng ít ỏi của mình cố gắng chiếm lấy thành trì nhưng thất bại. Năm 1192, Bố Trì ra tay trừ khử luôn cả cựu vương Trâu Á Na, Chiêm Thành từ đó lại thống nhất.[164]

Vương triều thứ Mười Bốn:

Năm 1441, sau khi Indravarman VI băng hà, triều thần quyết định không tấn tôn con ông là Ngauk Klaung Vijaya, mà đưa người cháu thúc bá của vua Trà Hòa là Ma Kha Quý Lai lên thay nhằm phục hồi dòng chính thống của Vijaya. Tuy nhiên, do Ma Kha Quý Lai bấy giờ còn quá ít tuổi nên triều đình phải để chú của ông là Po Parichan làm phụ chính đại thần. Nhưng chỉ được một năm thì Po Parichan tiếm vị và xưng hiệu Ma Kha Bí Cai, Ma Kha Quý Lai lập tức bị biệt giam.[165] Thời kỳ Ma Kha Bí Cai tại vị, Chiêm Thành liên tục gây hấn với Đại Việt, điều này khiến thái hậu nhiếp chính Nguyễn Thị Anh hết sức phẫn nộ nên đã phái hơn 60 vạn quân sang tiến công đô thành Vijaya vào năm 1446. Hậu quả là Bắc phần Champa bị cướp phá tan hoang, toàn bộ vương thất và Maha Vijaya bị bắt đem về an trí tại Đông Kinh. Bấy giờ, vì nhà Lê tự thấy không kiểm soát nổi đất Champa nên đã trao lại vương vị cho Ma Kha Quý Lai.[166]

Thuận Thành trấn[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 1781, một người anh em cùng huyết thống của vua Chăm Pa Nguyễn Văn Tá là Nguyễn Văn Chiêu gây binh biến rồi phế truất ông, khiến thời điểm này Panduranga tạm thời không có người cai trị. Vào năm 1783, Nguyễn Văn Chiêu tự tuyên bố là tân vương, nhưng liền sau đó quân Tây Sơn xuống vây đánh khiến ông này thất thế, tuy nhiên hai bên vẫn ở thế giằng co bất ổn cho đến khi ngôi vị của Nguyễn Văn Tá được chính thức khôi phục vào năm 1786.[167] Năm 1790, chúa Nguyễn Ánh được đà Thái Đức lâm thế yếu khó vươn được xuống phương Nam, bèn tiến chiếm Panduranga, phong Nguyễn Văn Chiêu làm Thuận Thành trấn Khâm sai Thống binh cai cơ, nhưng ít lâu sau thì bãi chức vì nghi ông theo Quang Trung. Dù vậy, chúa Nguyễn liệu bề không tiếp quản được Panduranga nên trả lại ngôi vị cho Nguyễn Văn Tá và triệt thoái quân đội về Gia Định.[168]

Năm 1786, vai trò "vua không ngai" của Nguyễn Văn Chiêu kết liễu khi ông đem thân quyến và thuộc binh bại trận bỏ chạy vào xứ Đồng Nai Thượng (bấy giờ thuộc tầm ảnh hưởng của chúa Nguyễn) lánh nạn.[169] Ông giao kết với chúa Nguyễn Ánh và mong muốn ở mối quan hệ này sự chiếm lĩnh ngôi vua trong tương lai. Năm 1790, chúa Nguyễn Ánh nhân cuộc nội chiến giữa Nguyễn Nhạc với người em trai Quang Trung, vội vàng xua quân tiến chiếm Panduranga, phế truất Nguyễn Văn Tá và phong Nguyễn Văn Chiêu làm Thuận Thành trấn Khâm sai Thống binh cai cơ. Nhưng chỉ ít lâu sau, chúa Nguyễn lại bãi chức vì nghi ông có những giao kèo ám muội với Quang Trung.[170]

Nhật Bản[sửa | sửa mã nguồn]

Tề Minh thiên hoàng
Xứng Đức thiên hoàng
Thiên hoàng[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 645, xảy ra cuộc "Ất Tị chi biến" của các vị hoàng tử, đó là cuộc đấu tranh giữa gia tộc Nakatomi theo phái cải cách và gia tộc Soga theo phái bảo thủ.[171] Bấy giờ Hoàng Cực thiên hoàng trên thực tế chỉ còn là hư vị, loạn lạc xảy ra khắp nơi trên quần đảo Nhật Bản, Nakatomi Kamatari làm chính biến lật đổ Soga no Iruka ngay tại tư dinh. Thiên hoàng Kōgyoku thoái vị để nhường ngôi cho con trai là Thân vương Naka no Ōe.[172] Nhưng bởi Naka no Ōe không chịu tiếp nhiệm nên bà quyết định đem ngai vàng trao cho em trai mình là Hoàng tử Karu, Karu lên ngôi tôn chị làm "Hoàng tổ mẫu tôn" và lập Naka no Ōe làm Thái tử. Ông trị vì được 9 năm thì lâm bệnh băng hà, Naka no Ōe vẫn tiếp tục từ chối đăng cơ nên cựu hoàng Kōgyoku đành phải quay trở lại đế vị đổi xưng hiệu thành Tề Minh thiên hoàng.[173]

Năm 758, sau trị vì được 10 năm, Thiên hoàng Kōken theo lời đề nghị của Nakamaro đã thoái vị nhường ngôi lại cho một ông chú họ xa của mình là Đại Xuy vương Ōi, bà lui về hậu cung an dưỡng và được tôn làm Thái thượng Thiên hoàng một năm sau đó.[174] Tuy nhiên, Thiên hoàng Junnin Ōi chỉ giữ ngôi trong 7 năm, do ông định chi viện quân khí cho nhà Đường dẹp loạn An Sử nên bị phản đối.[175] Vì thế, Thái chính Đại thần Fujiwara no Nakamaro thừa cơ khởi binh lật đổ, đưa đi lưu đày ra đảo Awaji, trên lịch sử gọi là Đạm Lộ phế đế. Thượng hoàng Kōken được rước về cung phục vị, đổi đế hiệu thành Xứng Đức thiên hoàng.[176]

Mạc phủ[sửa | sửa mã nguồn]

Mạc phủ Ashikaga:

Túc Lợi Nghĩa Thực

Năm 1493, lợi dụng Túc Lợi Nghĩa Thực đem quân tới Kawachinokuni tấn công người kế vị của mình là Yishan Yifeng, các lực lượng đối lập do Hosokawa Masahiro, Hino Fuko, Ise Yuzong đứng đầu phối hợp tác chiến cùng những người khác đã tuyên bố bãi bỏ ông và ủng lập Túc Lợi Nghĩa Trực lên thay thế.[177] Sau cuộc đảo chính, giáo phái chính trị của Hosokawa, phái quân đến Kawachinokuni, đánh bại và bắt sống Túc Lợi Nghĩa Thực, sau đó họ đưa ông đến Kyoto quản thúc tại đền Ryoanji.[178] Trong thời gian bị giam lỏng, Túc Lợi Nghĩa Thực biết rằng mình sẽ bị đày đến đảo Shodoshima, ông đã trốn khỏi Kyoto với sự giúp đỡ của hàng xóm.[179] Túc Lợi Nghĩa Thực đến nương náu nhà lãnh đạo Lushan của Etchūnokuni, Lushan bảo vệ Mạc phủ trong khu vực được gọi là "Việt Trung ngự sở", các nhà sử học sau này gọi đó là "phóng sinh tân Mạc phủ".[180] Năm 1498, Túc Lợi Nghĩa Thực quyết định đàm phán với Hosokawa Masahiro, ông đến Echizennokuni để được Asakura che chở và đổi tên thành Doãn.[181] Cùng lúc đó, Túc Lợi Nghĩa Doãn được Lushan Shangshun (con trai của chính trị gia Lushan) hỗ trợ và cùng nhau bước vào Kyoto. Tuy nhiên, lực lượng trng thành với ông bị đánh bại, ông đành phải trốn đến Suōnokuni.[182] Năm 1508, với sự hỗ trợ của Da Nishi, Túc Lợi Nghĩa Doãn theo quân đội các xứ ChūgokuKyushu để vào Kyoto, ông được hậu thuẫn bởi Hosokawa nên chiếm đóng được kinh đô và lưu đày Túc Lợi Nghĩa Trực, qua đó trở lại cầm quyền Mạc phủ lần thứ hai.[183]

Bán đảo Triều Tiên[sửa | sửa mã nguồn]

Cơ Tử Triều TiênMã Hàn[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 195 TCN, Cơ Tử Triều Tiên Ai Vương bị Vệ Mãn cướp ngôi.[184] Vệ Mãn đến Cổ Triều Tiên với vị thế là một người tị nạn từ nước Yên, ban đầu phục tùng Ai Vương.[185] Ai Vương tín nhiệm nên cử Vệ Mãn đến trấn giữa vùng biên giới phía tây bắc, nhưng sau đó Vệ Mãn đã tạo phản, lãnh đạo một cuộc khởi nghĩa và lật đổ Ai Vương, Vệ Mãn tự xưng vương thành lập triều đại Vệ Mãn Triều Tiên.[186] Ai Vương cùng tùy tùng chạy trốn bằng thuyền sang Thìn Quốcmiền nam bán đảo trong khoảng từ năm 194 TCN-180 TCN, ông cùng những người đi theo đã thành lập một căn cứ tại Iksan, Jeolla Bắc trong lãnh thổ Thìn Quốc và tự gọi mình là Thiên vương.[187] Năm 161 TCN, Ai Vương chính thức đặt quốc hiệu là Mã Hàn, trở thành khai quốc chi quân ở xứ sở này.[188]

Nhà Cao Ly[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 1269, quyền thần Lâm Diễn tiến hành chính biến để loại bỏ Cao Ly Nguyên Tông. Lâm Diễn đưa An Khánh công Vương Xương lên ngôi, tức Cao Ly Anh Tông và nói dối rằng Nguyên Tông đã thoái vị vì bệnh tật.[189] Năm 1270, Nguyên Thế Tổ Bột Nhi Chỉ Cân Hốt Tất Liệt đã cử 3000 lính để đương đầu với quân nổi dậy. Lâm Diễn và con trai Lâm Duy Mậu bị quân Nguyên giết, kết thúc 100 năm Vũ thần chính quyền, Nguyên Tông nhờ đó phục vị.[190] Chẳng bao lâu, do Nguyên Tông muốn giải tán Tam Biệt Sao quân nên thủ lĩnh tổ chức này là Bùi Trọng Tôn tạo phản, tại Giang Hoa đảo lập Thừa Hóa hầu Vương Ôn lên làm vua. Sau đó cử binh đánh vào kinh đô khiến Nguyên Tông phải lánh nạn trốn chạy sang nhà Nguyên, quân Nguyên lại một lần nữa tràn sang Cao Ly trấn áp, Nguyên Tông trở về cung vào năm 1271 và tái lên ngôi.[191]

Năm 1298, do các biến cố trong cung đình bắt nguồn từ khi Trang Mục vương hậu đột ngột qua đời, Cao Ly Trung Liệt Vương Vương Xuẩn bị các triều thần gây áp lực nên dâng biểu sang Đại Đô xin phép Nguyên Thành Tông cho mình được thoái vị để nhường ngai vàng cho Thế tử Vương Chương, ông được tôn làm Quang Văn Tuyên Đức Thái thượng vương.[192] Năm 1299, Cao Ly Trung Tuyên Vương Vương Chương do phải đối mặt với các mưu đồ giữa phe của vương hậu người Mông Cổ và một vương hậu người Cao Ly của ông, nhà vua cảm thấy bức xúc bèn trao lại ngai vàng cho phụ thân để chú tâm vào giải quyết những việc rắc rối trước mắt.[193]

Năm 1299, Cao Ly Trung Tuyên Vương quyết định trao trả ngôi vị cho cha mình là Thái thượng vương Vương Xuẩn. Năm 1308, sau khi cha qua đời, ông lên ngôi lần thứ hai.[194]

Năm 1330, Cao Ly Trung Túc Vương từ nhiệm, ngôi vị được nhường lại cho con trai ông là Vương Trinh, sau đó Vương Đảo sang kinh thành Đại Đô của nhà Nguyên sinh sống. Nguyên nhân sâu xa của việc này là bởi năm 1321 Trung Túc Vương đã có con trai là Trung Huệ Vương. Điều này khiến cho thái tử trước đây của Cao Ly là Vương Cảo lập liên minh với Nguyên Anh Tông, và Trung Túc Vương bị giam giữ vào năm 1321. Tuy nhiên, Nguyên Anh Tông đã bị ám sát vào năm 1323 và kế hoạch bị hủy bỏ.[195] Trung Túc Vương đã được cho phép trở về Cao Ly vào năm 1325, bởi những vấn đề trên khiến ông chán nản nên xin phép thiên tử cho mình thoái vị.[196] Năm 1332, Nguyên Thái Định Đế quyết định phế truất Cao Ly Trung Huệ Vương Vương Trinh, đưa Vương Đảo trở về nước phục vị[197]

Năm 1332, Cao Ly Trung Huệ Vương bị nhà Nguyên phế truất, ngai vàng trả về cho cha của ông là Cao Ly Trung Túc Vương. Năm 1339, Trung Túc Vương qua đời, Huệ Vương lại lên ngôi lần hai.[198]

Cao Miên[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 1695, sau khi ổn định và cải cách triều đình, Nặc Ông Thu thoái vị để truyền ngôi cho cháu là Outey I, con của vua anh đã mất là Nặc Ông Đài. Năm 1696, Outey I mất, Nặc Ông Thu lên làm vua lần thứ hai.[199] Năm 1699, Nặc Ông Thu lại đem quân tiến công Đàng Trong Đại Việt nhưng bị Nguyễn Hữu Cảnh đánh bại phải rút chạy vào rừng, Nặc Ông Yêm được chúa Nguyễn đưa lên làm vua năm 1700. Năm 1701, Nặc Ông Thu đem quân bản bộ ra đầu hàng chúa Nguyễn nên trở lại ngôi vị lần thứ ba, Nặc Ông Yêm bị phế truất.[200] Năm 1702, Nặc Ông Thu thấy mình đã già yếu nên quyết định truyền ngôi lại cho người con trai mới 12 tuổi là Nặc Ông Thâm nhưng thực tế ông vẫn nắm giữ quyền lực.[201] Năm 1703, Nặc Ông Thâm hoài nghi Nặc Ông Yêm mưu phản bèn phát binh trừng phạt, nhờ người Xiêm La giúp sức. Nặc Ông Yêm chạy sang cầu cứu chúa Nguyễn, Nguyễn Phúc Chu cho quân sang đánh tan quân Xiêm, Nặc Ông Thâm phải bỏ chạy sang Xiêm La, Nặc Ông Thu đành lên ngôi lần thứ tư.[202]

Năm 1701, Nặc Ông Yêm lên ngôi báu chưa nóng chỗ đã bị chúa Nguyễn phế trừ ngôi vị do Nặc Ông Thu quy hàng nên được phép phục tịch. Năm 1708, Nặc Ông Thâm phải cầu viện quân Xiêm La để chống lại cuộc đảo chính của Nặc Ông Yêm. Nặc Ông Yêm thua chạy sang Gia Đinh cầu xin hỗ trợ của chúa Nguyễn, chúa Nguyễn sai quan cai cơ là Nguyễn Cửu Vân sang đánh Nặc Ông Thâm. Nguyễn Cửu Vân sang phá được quân Xiêm La, đem Nặc Ông Yêm về thành La Bích, từ đó Nặc Ông Thâm ở Xiêm La cứ thỉnh thoảng đem quân về đánh Nặc Ông Yêm. Năm 1714, quân của Nặc Ông Thâm về lấy thành La Bích và vây đánh Nặc Ông Yêm. Nặc Ông Yêm sai người sang Gia Định cầu cứu. Quan đô đốc Phiên trấn Gia Định là Trần Thượng Xuyên và quan phó tướng Trấn biên Biên Hòa là Nguyễn Cửu Phú phát binh sang đánh, vây Nặc Ông Thu và Nặc Ông Thâm ở trong thành La Bích. Nặc Ông Thu và Nặc Ông Thâm sợ hãi, bỏ thành chạy sang Xiêm La. Trần Thượng Xuyên lập Nặc Ông Yêm lên làm vua Chân Lạp lần thứ hai, Nặc Ông Yêm lấy hiệu là Keo Fa III, sử Việt còn ghi là Kiều Hoa đệ tam.[203]

Năm 1703, Nặc Ông Thâm bị quân chúa Nguyễn đánh bại phải đào tẩu sang Xiêm La, vua cha là Nặc Ông Thu lúc đó đã thoái vị đành quay lại ngai vàng. Năm 1706, Nặc Ông Thâm từ Xiêm La hồi hương, sang đầu năm sau Nặc Ông Thu lại từ nhiệm để trao quyền lực chính trị cho con lần thứ hai. Năm 1714, chúa Nguyễn đưa quân sang giúp đỡ Nặc Ông Yêm phục vị, đánh bại quân của Nặc Ông Thâm khiến ông này và cha là Nặc Ông Thu đều phải lưu vong sang Xiêm La. Năm 1722, Nặc Ông Yêm chết, con là Nặc Ông Tha kế vị. Năm 1736, Nặc Ông Thâm từ Xiêm La kéo quân về đánh phá, Nặc Ông Tha bại trận chạy trốn sang nương nhờ chúa Nguyễn, như vậy Nặc Ông Thâm giành được ngôi vua lần thứ ba.[204]

Năm 1736, Nặc Ông Tha bị Nặc Ông Thâm đem binh từ Xiêm La trở về đánh bại nên chấp nhận mất ngôi, chạy sang Đàng Trong Đại Việt lưu trú.[205] Năm 1747, Nặc Ông Thâm mất, con là Nặc Ông HiênNặc Ông Yếm tranh nhau. Nặc Ông Yếm trở thành vua nhưng ngay trong năm lên ngôi, ông đã bị ám sát bởi người em trai, hoàng tử Nặc Ông Hiên, người muốn cướp ngai vàng. Bá quan trong triều và các vị chức sắc tôn giáo đã ghê tởm trước hành động giết vua anh này, và đã lựa chọn hoàng tử Nặc Đôn làm vua (Ang Tong là con trai của Outey I). Năm 1749, chúa Nguyễn sai quan Điều khiển là Nguyễn Hữu Doãn đem quân sang đánh Nặc Đôn và đem Nặc Ông Tha về nước. Nặc Ông Tha về được mấy tháng lại bị người con thứ hai của Nặc Ông Thâm là Nặc Ông Nguyên đem quân Xiêm La sang đánh đuổi đi, kết cục chạy sang chết ở Gia Định.[206]

Năm 1749, Nặc Đôn bị quân chúa Nguyễn đánh bại phải bỏ chạy sang Xiêm La.[207] Tuy nhiên, Nặc Ông Tha phục tịch chỉ ít lâu thì bị Nặc Ông Nguyên rước quân Xiêm La về nước đánh đổ, trốn sang Gia Định rồi bệnh chết ở đó.[208] Năm 1755, Nặc Đôn lại mượn sức người Xiêm mở cuộc hành quân lớn, đánh thẳng vào kinh đô Nam Vang.[209] Nặc Ông Nguyên thua trận chạy trốn sang Hà Tiên đầu hàng Trịnh Thiên Tứ, Nặc Đôn lần thứ hai trở thành quân chủ Cao Miên.[210]

Norodom Sihanouk

Năm 1955, Quốc vương Campuchia Norodom Sihanouk cho mở một cuộc trưng cầu dân ý với câu hỏi: "Người dân có hài lòng với việc Quốc vương thực hiện cam kết Thánh chiến Hoàng gia của mình hay không?" Kết quả cuộc trưng cầu dân ý là 99,9% người được hỏi trả lời "Có", do đó ông quyết dịnh thoái vị nhường ngôi cho cha mình là Norodom Suramarit.[211] Sau khi cha ông mất năm 1960, Sihanouk không đề cử ai làm Quốc vương mà được Quốc hội bổ nhiệm vào chức Quốc trưởng với danh vị hoàng thân.[212] Năm 1970, trong lúc ông đang ở nước ngoài, Lon Nol - thủ tướng chính phủ - cho quân đội bắt giữ chính quyền dân sự ở Phnompenh và bố trí xe tăng bao vây toà nhà Quốc hội sau đó triệu tập Quốc hội bỏ phiếu phế truất Sihanouk khỏi vị trí Quốc trưởng và trao quyền lực khẩn cấp cho Lon Nol.[213] Khi nước Cộng hòa Khmer rơi vào tay Khmer Đỏ vào năm 1975, Hoàng thân Sihanouk trở thành nguyên thủ quốc gia hình thức của chính phủ mới khi Pol Pot còn nắm quyền lực. Năm 1976, Sihanouk từ chức vì sự tàn bạo của Khmer đỏ và nghỉ hưu, ông sang tị nạn tại Trung Quốc và Bắc Triều Tiên.[214] Năm 1991, Hoàng thân Norodom Sihanouk trở về Campuchia sau nhiều năm lưu vong. Trong cuộc bầu cử 1993, đảng Nhân dân Cách mạng Campuchia thất cử. Sihanouk đã can thiệp để buộc con trai là Hoàng thân Ranariddh và đảng FUNCIPEC của ông này tiếp nhận Hun Sen làm đồng thủ tướng nhằm đổi lấy việc trở lại ngai vàng, qua đó ông tái đăng cơ để lần thứ hai trở thành quốc vương Campuchia.[215]

Ai Lao[sửa | sửa mã nguồn]

Vương quốc Vạn Tượng[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 1778, Phra Phutthayotfa Chulalok (sau này là quốc vương Xiêm La Rama I) đã lãnh đạo một đội quân xâm chiếm nước Vạn Tượng. Sau bốn tháng chiến tranh bao vây, thủ đô nước này bị người Xiêm chiếm đóng.[216] Vua Vạn Tượng là Somdet Brhat Chao Dharma Adi Varman Maha Sri Bunyasena Jaya Setha Adiraja Chandrapuri Sri Sadhana Kanayudha (tức Xaiya Setthathirath III) trốn chạy vào rừng rậm, nhưng cuối cùng ông đã quyết định đầu hàng Xiêm La. Kể từ đó, Vạn Tượng nội thuộc Xiêm La, hầu hết những đứa con của Xaiya Setthathirath III đều được đưa đến Thonburi làm con tin.[217] Ông bắt đầu nổi dậy xưng vương tuyên bố phục quốc và chiến đấu chống lại quân Xiêm vào năm 1780, tuy sát hại được thống đốc người Xiêm là Phraya Supho gây thanh thế rất lớn nhưng chỉ hơn một năm sau, Xaiya Setthathirath III thất bại bị quân Xiêm bắt và xử tử.[218]

Vương quốc Nam Chưởng[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 1792, sau cái chết của quốc vương Suriyavong II, Somdet Brhat Chao Maha Edama Varman Krung Sri Sadhana Kanayudha Udarattanaputri Rama Brahma Chakrapati Mahanayaka Maharjadhana Lan Chang Krung Klao Anuradhuratta được người Xiêm La cho phép quay về Luông Phrabang để đăng cơ trở thành vua Anurutha, ông đã được đưa sang Bangkok làm con tin từ năm 1788.[219] Nhưng chẳng bao lâu, quân chủ vương quốc Viêng Chăn Nanthasen tố cáo với vua Xiêm La rằng Anurutha bí mật hội kiến với người Miến Điện để âm mưu phản lại Xiêm La.[220] Được sự chấp nhận từ phía Xiêm La, Nanthasen lập tức đem binh tràn sang bất ngờ tấn công vây hãm Luông Phrabang, theo lệnh vua Rama I của Xiêm La, Anurutha buộc phải từ bỏ ngai vàng của mình để làm tù nhân ở Bangkok. Năm 1794, ông đã có thể trở lại Luông Phrabang để làm vua một lần nữa.[221]

Xiêm La[sửa | sửa mã nguồn]

Vương quốc Ayutthaya - Triều Uthong[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 1370, sau một năm trị vì đất nước, vua Somdet Phra Ramesuan bị người bác rể của mình (lãnh chúa vùng Suphanburi) là Borommarachathirat I lật đổ sau cuộc đảo chính đẫm máu, thiết lập ra triều đại Suphannaphum.[222] Năm 1388, Borommarachathirat I mất, con trai là Somdet Phra Chao Thong Lan kế vị.[223] Đúng một tuần sau, cựu vương Somdet Phra Ramesuan từ Lavo đã quay trở lại, các lực lượng của ông nhanh chóng chiếm lấy cung điện và hạ bệ Thong Chan.[224] Trước đây, khi vua cha Ramathibodi I còn tại vị, Somdet Phra Ramesuan từng được điều động đến Lavo, do đó khi ông bị mất ngôi đã chạy trốn về nơi này tập hợp những người trung thành gây dựng lại cơ đồ chờ thời cơ phục bích.[225]

Vương quốc Ayutthaya - Triều Suphannaphum[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 1564, trước sức tấn công như vũ bão của người Miến Điện, vua Maha Chakkraphat không chống nổi, ông đã tìm kiếm một liên minh với Setthathirat của Lan Xang, thông qua cuộc hôn nhân của con gái ông Thepkasattri, nhưng quân Miến Điện đã bắt cóc Thepkasatri trên đường đến Vientiane.[226] Điều này đã buộc Maha Chakkrapat phải từ bỏ ngôi vị trở thành tù binh của người Miến Điện, chấp nhận sự giam cầm quản thúc ở Pegu, vương quốc Xiêm La trở thành chư hầu của người Miến Điện, con trai Maha Chakkraphat là Mahinthrathirat được người Miến Điện đưa lên ngai vàng.[227] Năm 1568, Maha Chakkraphat thuyết phục thành công vua Miến Điện Bayinnaung cho phép ông trở lại Ayutthaya với lý do hành hương. Khi về đến nơi, ông lập tức tham gia vào một liên minh với KingSetthathirath của Lan Xang, con trai ông Mahinthrathirat nhường quyền lực để cha lãnh đạo cuộc chiến chống Miến Điện.[228] Nhưng ông đã không thể thuyết phục Maha Thammarachathirat của Phitsanulok cùng với ông và con trai của ông trong cuộc nổi dậy, Thammarachathirat vẫn trung thành với Bayinnaung và sống sót sau cuộc bao vây bởi các lực lượng Ayutthaya và Lan Xang cho đến tháng Mười, khi các lực lượng cứu trợ từ Pegu đến. Các đội quân xâm lược đã đặt bao vây thứ ba của Ayutthaya, Maha Chakkraphat chết một tháng sau khi cuộc bao vây trong tháng Giêng năm 1569.[229]

Năm 1568, Mahinthrathirat trả lại ngôi vua cho cha mình là Maha Chakkraphat để ông này trực tiếp chỉ huy kháng chiến chống quân xâm lăng Miến Điện.[230] Tuy nhiên, cuộc chiến thất bại, Maha Chakkraphat tử trận, Mahinthrathirat lại lên ngôi lần thứ hai nhưng cũng chỉ duy trì được vài tháng thì bị quân Miến Điện tiêu diệt hoàn toàn.[231]

Miến Điện[sửa | sửa mã nguồn]

Vương quốc Launggyet[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 1395, Razathu II bị cướp quyền bởi Sithabin II.[232] Đến năm 1397, Myinhseingyi lật đổ được Sithabin II để làm vua Launggyet.[233] Cũng năm đó, Razathu II đánh bại Myinhseingyi, ngai vàng của ông nhờ vậy mà khôi phục.[234]

Vương quốc Launggyet và Vương quốc Mrauk-U[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 1406, Narameikhla Min Saw Mon, quân chủ Launggyet, bị thái tử Minye KyawswaAva đánh đuổi khỏi đất nước.[235] Thực ra ngay từ khi lên ngôi, ngai vàng của ông phải chịu đe dọa uy hiếp từ các phe phái đối địch của triều đình, thường được Ava và Pegu ủng hộ, ông cố gắng khắc phục nhưng cũng không thể thoát khỏi tình trạng hỗn loạn.[236] Bấy giờ, vương quốc Launggyet đang bị cuốn vào cuộc chiến bốn mươi năm giữa Ava và Pegu, vua Minkhaung I của Ava đã gửi quân đội do hoàng tử Minye Kyawswa lãnh đạo. Quân đội Ava tràn qua càn quét Launggyet, Minkhaung I bổ nhiệm Anawrahta Saw, khi đó là thống đốc Kalay, làm vua mới của Arakan.[226] Narameikhla Min Saw Mon cùng đường nên nơi ẩn náu trong vương quốc Hồi giáo Bengal, và sau tham gia quân đội của quốc vương Jalaluddin Muhammad Shah. Ông tỏ ra là một chỉ huy giỏi, do vậy trở nên thân thiết với sultan, và thuyết phục sultan giúp ông giành lại ngai vàng Arakan, Jalaluddin Muhammad Shah đồng ý.[237] Được hỗ trợ bởi quân đội Bengal "phần lớn được tạo thành từ các nhà thám hiểm Afghanistan", Narameikhla Min Saw Mon đã xâm chiếm Arakan, nỗ lực đầu tiên trong cuộc xâm lược đã thất bại vì ông tranh cãi với tướng Wali Khan của Bengal, và bị tướng quân bắt giam. Ông trốn thoát, và sultan đồng ý với một nỗ lực khác, cuộc xâm lược thứ hai diễn ra tốt đẹp. Narameikhla Min Saw Mon được tuyên bố là vua tại Launggyet vào năm 1429, trở thành một chư hầu của Bengal, thành lập một thủ đô mới, Mrauk-U.[238]

Nam Dương quần đảo[sửa | sửa mã nguồn]

Hồi quốc Demak[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 1518, Sultan Raden Trenggana thực hiện việc chuyển giao quyền lực chính trị cho người anh rể là Hoàng tử Sabrang Lor xứ Jepara với mục đích liên hiệp lực lượng để chống lại nạn ngoại xâm đến từ phương Tây, Sabrang Lor lên ngôi trở thành Sultan Pati Unus.[239] Năm 1521, Pati Unus lãnh đạo cuộc tấn công vào Malacca nhằm chống lại sự chiếm đóng của thực dân Bồ Đào Nha, kết quả Pati Unus tử chiến nơi sa trường.[240] Sau cái chết của Pati Unus, đã có một cuộc đấu tranh giành ngai vàng giữa hai anh em là Raden Kikin và Raden Trenggana.[241] Con trai cả của Raden Trenggana là Raden Mukmin, hay còn gọi là Muk Ming (tên đầu tiên của Sunan Prawoto) muốn giúp cha đã phái thích khách đến giết Raden Kikin trên bờ sông.[242] Kể từ đấy, Raden Kikin nổi tiếng là Hoàng tử Sekar Seda ing Lepen (nghĩa là "những bông hoa rơi trên sông"), Raden Trenggana qua đó được đặt lên ngôi báu lần thứ nhì với danh hiệu "Sultan Ahmad Abdullah Arifin".[243]

Vương quốc Aceh Darussalam[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 1763, những căng thẳng bên trong trong vương quốc Aceh Darussalam đã nổ ra, người cai trị Alauddin Mahmud Syah I cố gắng kiểm soát các hoạt động thương mại ở các khu vực khác nhau trong địa vực của mình mà không có bộ máy quan liêu để thực hiện điều này, khiến các thủ lĩnh nổi giận.[244] Cuộc nổi dậy đã dẫn đến việc trục xuất vua Alauddin Mahmud Syah I vào năm sau, Mantri Makota Raja được tôn lên làm sultan mới dưới cái tên Badr ul-Alam Syah.[245] Alauddin Mahmud Syah I trốn thoát đến Kota Musapi bên bờ biển nơi ông được một giáo sĩ tên Malik ul-Adil giúp đỡ. Với sự giúp đỡ của Malik ul-Adil, Alauddin Mahmud Syah I đã tấn công Badr ul-Alam Syah và đã giết được ông ta vào tháng 8 năm 1765, tuy đã được phục hồi quyền lực, nhưng vị trí của ông đã bị suy yếu đáng kể.[246] Một cuộc nổi dậy khác lại nổ ra vào tháng 4 năm 1773 bởi những người thuộc nhóm XXII Mukims thường nổi loạn, một trong ba sagis (vùng) của Aceh, được tham gia bởi những người từ Mukims XXV, quân nổi dậy đã chiến thắng vua Alauddin Mahmud Syah I trong chớp nhoáng, ông buộc phải chạy trốn đến Mukim Peuët.[247] Vào cuối tháng 5, đảng chiến thắng đã bổ nhiệm Raja Udahna Lela làm sultan dưới tên Sulaiman Syah. Tuy nhiên, Alauddin Mahmud Syah I vẫn có thể thu thập những người ủng hộ từ các mukims (quận) Daroy Pang Uleë Susuh, Lam AraJampel. Sulaiman Syah đã bị tấn công và trục xuất chỉ sau hai tháng trị vì, và Alauddin Mahmud Syah đã được phục hồi lần thứ hai, ông vẫn duy trì quyền lực cho đến khi qua đời.[248]

Khi vua cha Alauddin Muhammad Syah qua đời vào năm 1795, Alauddin Jauhar ul-Alam Syah mới lên 9 tuổi, dưới sự nhiếp chính của người chú ruột Raja Udahna Lela. Alauddin Jauhar ul-Alam Syah bắt đầu yêu cầu trị vì chính thức vào năm 1802, nhưng chú của ông lại không sẵn sàng từ chức từ vị đặc quyền của mình, ông ta nổi loạn chống lại sultan, được hỗ trợ bởi người mạnh mẽ thương mại Lebai Dappah.[249] Alauddin Jauhar ul-Alam Syah thất thủ phải chạy trốn đến Pidië, sau một thời gian, ông trở lại cửa sông Aceh và nhờ người Anh ở Penang giúp đỡ để chống lại cuộc nổi loạn. Tuy không có sự giúp đỡ nào của Châu Âu, nhưng vị sultan này vẫn đánh bại Raja Udahna Lela sau khi mẹ của ông, chị gái của nhiếp chính, đã chuyển sự hỗ trợ của bà từ anh trai sang con trai mình, Raja Udahna Lela thua to bỏ trốn vào năm 1805 nhưng bị bắt và giết tại Nesuk.[250] Một cuộc nổi dậy đã nổ ra vào tháng 10 năm 1814, Sultan bị buộc tội vì hành vi phi đạo Hồi và được tuyên bố là do panglimas (lãnh đạo) của ba sagis (vùng), Sayyid Husain được bầu làm sultan vào tháng 4 năm 1815 nhưng ngay sau đó đã truyền ngôi cho con trai của mình là Sayyid Abdullah, người đã lên ngôi vào tháng 11 năm ấy dưới cái tên Syarif Saiful Alam Syah.[251] Alauddin Jauhar ul-Alam Syah buộc phải trốn sang Penang, ông nhờ người Anh giúp nhưng vẫn không được cung cấp. Tuy nhiên, cựu vương vẫn có thiện cảm với một số người ưu tú và được lãnh chúa Pidië mời trở lại, bất chấp mọi nỗ lực của Sayyid Husain để giết ông, ông đã thành lập một căn cứ ở Pasai.[252] Một cuộc chiến không có hồi kết đã được chiến đấu chống lại hai sayyids trong vài năm tới, nhiệm vụ của người Anh đến Aceh vào năm 1818 đã tìm thấy Syarif Saiful Alam Syah là người hứa hẹn nhất trong số các ứng cử viên đối thủ.[253] Tuy nhiên, một nhiệm vụ mới dưới thời Thomas Stamford Raffles vào năm 1819 đã thấy mọi thứ khác đi, người Anh nóng lòng đàm phán một hiệp ước với Aceh, phần duy nhất của Sumatra đã không biến Hà Lan sau khi Anh trao trả Đông Ấn Hà Lan vào năm 1816. Điều quan trọng là phải chấm dứt nội chiến, và cách tốt nhất theo Raffles là để loại bỏ Syarif Saiful Alam Syah, người tuyên bố ngai vàng là giả mạo.[254] Ông ta đã ký một hiệp ước chính thức với Alauddin Jauhar ul-Alam Syah vào ngày 22 tháng 4 năm 1819, nó quy định việc bổ nhiệm một đặc vụ Anh, loại trừ các quốc gia khác và hỗ trợ tích cực của đế quốc Anh để bảo vệ ngai vàng. Không có triển vọng hỗ trợ của quân đội Anh, Syarif Saiful Alam Syah không thể duy trì vị trí của mình mà đành rời Aceh và sau đó sống ở Penang, nơi ông ta được hưởng khoản trợ cấp 6.000 đô la mỗi năm, Alauddin Jauhar ul-Alam Syah lên ngôi lần thứ ba theo cái cách như vậy.[255]

Vấn Lai[sửa | sửa mã nguồn]

Tiểu vương quốc MeccaHồi quốc Brunei[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 1394, Sharif Ali bin Ajlan Abul-Sarjah mất quyền cai trị ở tiểu vương quốc Mecca, ông dời sang Hồi quốc Brunei sinh sống kết hợp với việc truyền bá đạo hồi.[256] Tại đây, ông được Sultan Awang Pateh Berbai quý mến thu nhận và gả con gái cho, vì ông là người Ả Rập nên rất thành thạo giáo lý Hồi giáo.[257] Bởi quốc vương Awang Pateh Berbai đã không để lại một người thừa kế nam nào cho mình, theo yêu cầu của người dân Brunei, Sharif Ali bin Ajlan Abul-Sarjah được chọn để kế thừa ngai vàng làm nguyên thủ quốc gia của họ.[258]

Đế quốc Brunei[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 1730, quốc vương Brunei Hussin Kamaluddin quyết định thoái vị để nhường ngôi cho con rểMuhammad Alauddin,[259] điều này khiến các nhà sử học hậu thế rất đau đầu vì họ đã cố gắng nghiên cứu nhưng vẫn chưa tìm ra lý do tại sao quốc vương Hussin Kamaluddin lại ủng hộ con rể thay vì truyền ngai vàng cho các con trai của mình.[260] Năm 1737, Muhammad Alauddin qua đời, Hussin Kamaluddin quay trở lại ngôi vị và được biết đến với cái tên Marhum ở Luba, ông là vị vua duy nhất trong lịch sử Brunei đã cai trị hai lần.[261]

Mã Lai Tây Á[sửa | sửa mã nguồn]

Vương quốc Kedah[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 1821, Thống đốc Ligor đem quân xâm chiếm và chinh phục Pháo đài Kedah, Quốc vương Paduka Sri Sultan Ahmad Tajuddin Halim Shah II ibni al-Marhum Sultan Abdullah Mukarram Shah chạy trốn sang lãnh thổ Anh, Thống đốc Ligor bổ nhiệm con trai mình làm quyền thống đốc.[262] Chính quyền Anh cho phép Paduka Sri Sultan Ahmad Tajuddin Halim Shah II ibni al-Marhum Sultan Abdullah Mukarram Shah tị nạn và trợ cấp, từ đó ông bắt đầu cuộc sống lưu vong, đầu tiên tại Penang và sau đó là ở Malacca.[263] Sau nhiều lần thất bại với việc giành lại ngai vàng bằng vũ lực, Paduka Sri Sultan Ahmad Tajuddin Halim Shah II ibni al-Marhum Sultan Abdullah Mukarram Shah đã gửi các con trai của mình đến Bangkok để thương lượng phục hồi vào năm 1842.[264] Người Xiêm La đã chia Kedah thành bốn tiểu bang vào năm 1841, họ cho ông khu vực miền nam, lớn nhất và thịnh vượng nhất phần.[265] Paduka Sri Sultan Ahmad Tajuddin Halim Shah II ibni al-Marhum Sultan Abdullah Mukarram Shah đồng ý với lời đề nghị này, dau đó ông được phép trở lại làm người cai trị danh nghĩa trên vương quốc bị suy giảm nhiều vào tháng 6 năm 1842.[266]

Vương quốc hồi giáo MelakaVương quốc Johor[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 1511, đế quốc Bồ Đào Nha tấn công Malacca, duyên cớ cuộc chiến này bắt đầu từ chuyến thăm của đô đốc người Bồ Đào Nha Diogo Lopes de Sequeira đến Malacca từ năm 1509-1510, Sultan Mahmud Shah ibni Almarhum Sultan Alauddin Riayat Shah vua đã lên kế hoạch ám sát ông này.[267] Tuy nhiên, Diogo Lopes de Sequeira đã phát giác được âm mưu và trốn khỏi Malacca, khi sĩ quan hải quân nổi tiếng người Bồ Đào Nha Afonso de Albuquerque nhận được tin, ông ta quyết định sử dụng sự kiện trên để bắt đầu cuộc thám hiểm chinh phục châu Á của mình.[268] Quân đội Vương quốc hồi giáo Melaka không chống nổi sức mạnh của Bồ Đào Nha, Sultan Mahmud Shah ibni Almarhum Sultan Alauddin Riayat Shah rút lui về Muar, Johor và sau đó lại bị truy binh lùng sục nên phải tiếp tục đến Kampar, Sumatra.[269] Tại nơi đây, Sultan Mahmud Shah ibni Almarhum Sultan Alauddin Riayat Shah đã nhường ngôi cho con trai Ahmad Shah để người này lãnh đạo cuộc chiến chống Bồ Đào Nha cứu nước.[270] Nhưng Ahmad Shah bị coi là bất tài và bị chính cha mình, Sultan Mahmud Shah ibni Almarhum Sultan Alauddin Riayat Shah giết chết năm 1513 sau khi thất bại trong việc tiến hành chiếm lại Malacca từ tay người Bồ Đào Nha.[271] Sultan Mahmud Shah ibni Almarhum Sultan Alauddin Riayat Shah tuy lên ngôi lần thứ hai, nhưng thực chất chỉ còn cai trị khu vực Sumatra, đó chính là tiền thân của vương quốc Johor.[272]

Phi Luật Tân[sửa | sửa mã nguồn]

Vương quốc hồi giáo Sulu:

Năm 1748, một cuộc đấu tranh chính trị đã buộc quốc vương Alimud-Din I rời Jolo để đến Basilan và sau đó là Zamboanga, em trai của ông là Datu Bantilan được tuyên bố là sultan mới, vương hiệu Bantilan Muizzud-Din.[273] Vấn đề này bắt nguồn từ năm 1744, vua Philip V của Tây Ban Nha đã gửi cho Alimud-Din I một lá thư yêu cầu cho phép các nhà truyền giáo từ Hiệp hội Jesus để tuyên truyền Kitô giáo ở miền nam Philippines, ông đã đưa ra sự đồng ý của mình, nhưng nội bộ trong nước lại nảy sinh sự phản đối quyết liệt. Một bữa tiệc được thiết đãi dưới sự lãnh đạo của anh trai của Quốc vương, Hoàng tử Datu Bantilan, với mục đích trục xuất các nhà truyền giáo và phế truất Azim ud-Din I.[274] Trong bữa tiệc, Datu Bantilan đã cố gắng ám sát Quốc vương bằng cách đâm một ngọn giáo vào ông, Alimud-Din I tuy tránh kịp nhưng cũng gây ra vết thương nghiêm trọng ở bên hôngđùi. Trong tình trạng bất ổn sau đó, việc các nhà truyền giáo ở lại Jolo trở nên quá nguy hiểm, quá sức chịu đựng, Azim ud-Din I đã trốn khỏi Jolo. Trong thời gian lưu vong, ông đã đến Manila, ông tìm kiếm sự trợ giúp của người Tây Ban Nha chống lại sự chiếm đoạt quyền lực của Bantilan Muizzud-Din.[275] Tại Manila, Toàn quyền Juan de Arechederra, Giám mục Nueva Segovia, đã trao cho Alimud-Din I một buổi tiếp tân phù hợp với một hoàng tử có cấp bậc cao. Quốc vương đã được tiếp nhận công khai trong Hội trường của Audiencia, nhưng thay vì giải quyết ngay vấn đề bị chiếm đoạt ngôi vị của mình, ông nói với Arechederra rằng ông muốn được hướng dẫn trong đức tin Kitô giáo chuẩn bị để nhận Bí tích Rửa tội cho niềm vui lớn sau đó.[276] Ông được rửa tội vào năm 1750, lấy tên Fernando de Alimuddin, với tên vương giả của Ferdinand I. Trước khi rời Manila vào năm 1751 để trở về Sulu, Ferdinand I đã viết một lá thư bằng tiếng Ả Rập gửi cho Muhammad Khair ud-Din Amir ud-Din Itamza (Quốc vương Maguindanao), thay mặt cho Hầu tước xứ Ovando (toàn quyền mới của Tây Ban Nha).[277] Tuy nhiên, các bản dịch không nhất quán sang tiếng Tây Ban Nha đã dẫn đến cáo buộc rằng ông đã ủng hộ tội phản quốc trong bức thư, kết quả ông đã bị bắt và kết án tù với tội danh phản quốc. Ferdinand I vẫn ở trong tù cho đến khi Vương quốc Anh đánh chiếm Manila trong Chiến tranh Bảy năm vào năm 1762, ông được người Anh khôi phục lại ngai vàng vào năm 1764.[278]

Năm 1763, Alimud-Din II lên ngôi sau cái chết của người cha Bantilan Muizzud-Din, nhưng chỉ một năm sau ông bị quân đội Anh ép buộc phải trả ngôi cho bác ruột Alimud-Din I. Alimud-Din II đã rời bỏ Jolo, ông cùng những người theo mình đến Parang.[279] Năm 1773, do quá mệt mỏi với các vấn đề của nhà nước, quốc vương Alimud-Din I chính thức bàn giao các công việc quân chủ cho con trai Muhammad Israil.[280] Năm 1778, Muhammad Israil chết đột ngột, được cho là bị đầu độc bởi những nhân vật ủng hộ Alimud-Din II, như vậy ông nghiễm nghiên quay trở lại ngôi báu.[281]

Năm 1990, quốc vương tự xưng Jamalul Kiram III nghỉ hưu, được thay thế bởi Mohammad Akijal Atti.[282] Ông đã vi phạm luật kế vị của vương quốc bằng cách rời Sulu đến Manila để tham gia chính trị, một cuộc tranh cãi kéo dài hàng thập kỷ về quyền kế vị trong gia đình đã kết thúc vào ngày 11 tháng 11 năm 2012, khi những người khiếu nại gặp nhau và Jamalul Kiram III được tuyên bố là sultan đồng cai trị với em trai Esmail Kiram II.[283] Sau đó, Jamalul Kiram III tuyên bố Agbimuddin Kiram là Viceroy (người thừa kế).[284] Vào tháng 2 năm 2013, ông tổ chức lực lượng vũ trang xâm nhập vào phần phía đông của Sabah, mục đích để đòi lại vùng đất trước đây tổ tiên của ông từng xây dựng nên vương quốc Sulu cường thịnh.[285] Nhưng sự xâm nhập này đã biến thành một cuộc xung đột bế tắc dữ dội, và Jamalul Kiram III bị chính quyền bang Malaysia và Sabah gán cho là "kẻ khủng bố".[286] Nguyên nhân do những kẻ đi theo Jamalul Kiram III thực hiện hành vi giết nhân viên an ninh Malaysia và cắt xén xác họ, thậm chí có ý định bắt cư dân Sabahan làm con tin, ông qua đời không lâu sau đó vào ngày 20 tháng 10 năm 2013 vì căn bệnh suy đa tạng.[287]

Y Lạp Khắc[sửa | sửa mã nguồn]

Vương quốc Babylon[sửa | sửa mã nguồn]

Vương triều thứ Mười - thời kỳ Đế quốc Tân Assyria thống trị:

Năm 710 TCN, Sargon II của Assyria đem binh tấn công chiếm đóng Babylon, đồng thời đàn áp các đồng minh của Marduk-apla-iddina II ở Elam, AramIsrael.[288] Trước đó, sau cái chết của vua Assyria Shalmaneser V vào năm 722 TCN, Marduk-apla-iddina II đã lãnh đạo quần chúng nổi dậy giành lại nền độc lập cho Babylon, nhưng vua mới của Assyria là Sargon II không chấp nhận điều đó nên đã xua quân tái chiếm quốc gia này.[289] Năm 705 TCN, Sargon II qua đời, vua mới Sennacherib lên ngôi, một quý tộc Babylon là Marduk-zakir-shumi II quật khởi giành lại non sông vào năm 703 TCN.[290] Marduk-apla-iddina II từ xứ Chaldea (nơi ông sống lưu vong) đã nhanh chóng chiếm lại ngai vàng, lật đổ Marduk-zakir-shumi II ngay trong năm đó.[291] Tuy nhiên, chỉ chín tháng sau, vào năm 702 TCN, Marduk-apla-iddina II đã bị đánh bại gần Kish bởi người Assyria, ông trốn được đến Elam và chết lưu vong một vài năm sau đó.[292]

Năm 703 TCN, Sennacherib đánh mất ngôi vua Babylon bởi một quý tộc bản địa là Marduk-zakir-shumi II nổi dậy đánh đuổi quân Assyria, giành lại độc lập tự do cho tổ quốc.[293] Mấy tháng sau, cựu vương Marduk-apla-iddina II phục bích lật đổ được Marduk-zakir-shumi II.[294] Năm 702 TCN, Sennacherib phái binh trở lại đánh đuổi được Marduk-apla-iddina II tái chiếm Babylon.[295] Nhưng Sennacherib tin rằng sự cai trị trực tiếp của người Assyria quá tốn kém, nên ông đã bổ nhiệm Bel-ibni, một nhà quý tộc Babylon trẻ tuổi từng sinh sống ở Assyria làm quốc vương Babylon mới.[296] Chẳng bao lâu Bel-ibni đã âm mưu với người Chaldea và Elamites chống lại người Assyria, nhằm khôi phục độc lập cho Babylon.[297] Sau khi đánh bại liên minh đối lập vào năm 700 TCN, Sennacherib đã phế truất Bel-ibni và mang ông ta đi đày ở Assyria, rồi thay thế bằng con trai mình, Ashur-nadin-shumi.[298] Năm 694 TCN, khi Sennacherib tấn công miền nam Elam để truy đuổi phiến quân Chaldaean, người Elam đã tấn công Babylon, Ashur-nadin-shumi bị bắt và đưa đến Elam, nơi ông ta đã bị giết.[299] Người Elam lập một quý tộc bản xứ là Nergal-ushezib lên ngôi, nhưng chỉ một năm sau, Sennacherib sớm gây chiến để giành lại thành phố và trả thù cho cái chết của con trai ông, Nergal-ushezib đã bị người Assyria đánh bại và bắt giữ trong trận chiến gần Nippur vào tháng 9 năm 693 TCN.[300] Tiếp theo, hoàng tử xứ Chaldean là Mushezib-Marduk với sự hỗ trợ của vua Elam Humban-nimena đã lãnh đạo nhân dân đánh nhau to với quân đội Assyria, Mushezib-Marduk tự xưng làm vua Babylon.[301] Năm 689 TCN, Mushezib-Marduk đã mất đồng minh khi vua Elam Humban-nimena bị đột quỵ, tận dụng cơ hội này, Sennacherib đã nhanh chóng chiếm giữ bằng cách tấn công Babylon, và cuối cùng đã chiếm được nó sau một cuộc bao vây kéo dài 9 tháng.[302] Để trả thù cho cái chết của con trai mình, Sennacherib đã cướp phá và đốt cháy Babylon, thậm chí chuyển hướng Euphrates vào thành phố, sau đó ông tự xưng làm vua Babylon và cai trị trực tiếp ở đây lần thứ nhì cho đến lúc qua đời.[303]

Faisal I bin Hussein bin Ali al-Hashemi
Vương quốc Ả Rập SyriaVương quốc Iraq[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 1920, vương quốc Ả Rập Syria đầu hàng trước quân đội Pháp, chế độ quân chủ ở đây bị bãi bỏ, Đại Syria cũng giải thể từ đó.[304] Quốc vương Faisal I bin Hussein bin Ali al-Hashemi bị trục xuất khỏi tổ quốc, ông chuyển qua Anh Quốc sống lưu vong.[305] Bấy giờ chính phủ Anh lo lắng tình hình ở Iraq đang trong trạng thái không ổn định, và sự can thiệp trực tiếp chi phối chế độ quân chủ danh nghĩa.[306] Sau cuộc trưng cầu dân ý cho thấy 96% người dân đồng ý với việc I bin Hussein bin Ali al-Hashemi làm nguyên thủ của họ, như vậy ông đã nghiễm nhiên trở thành vua của Iraq và lên ngôi vào tháng 8 năm 1921, vai trò của ông rất quan trọng trong công cuộc giành độc lập của Iraq sau này[307]

Ba Tư[sửa | sửa mã nguồn]

Vương quốc Seleukos[sửa | sửa mã nguồn]
Demetrios II Nikator

Năm 139 TCN, do những hoạt động xâm nhập trái phép lãnh thổ của người Parthia buộc Demetrios II Nikator phải hành động. Ông tiến hành cuộc hành quân chống lại Mithridates I vua của Parthia và bước đầu thành công nhưng sau đó thất bại tronảttận chiến ở dãy núi Iranian, bị bắt sống và biến thành tù nhân.[308] Tỉnh Babylon của đế chế Seleukos thuộc về người Parthia nhưng Syria thuộc về một triều đại nhỏ được phục hồi bởi Antiochus VII Sidetes, người em của Demetrios II Nikator, người cũng lấy Cleopatra Thea. Vua Mithradates I đối đại rất tốt với Demetrios II Nikator, và thậm chí đã lập gia đình cho ông với một công chúa Parthia là Rhodogune, người có với ông vài người con.[309] Tuy nhiên, Demetrios II Nikator cảm thấy không thoải mái với cuộc sống bị giam lỏng và đã cố gắng trốn thoát 2 lần khỏi cảnh lưu đày của mình, một lần qua biển Caspia, một lần với sự giúp đỡ của bạn mình Kallimander, người đã vượt một quãng đường dài để cứu vị vua, ông đã ẩn danh khi vượt qua Babylon và Parthia.[310] Khi hai người bạn bị bắt, vua Parthia đã không trừng phạt Kallimander nhưng đã thưởng cho ông ta vì lòng trung thành với Demetrios II Nikator. Năm 130 TCN, Antiochus VII Sidetes, sau khi đã cảm thấy an toàn, ông ta liền tiến quân chống lại Parthia, và có được những thành công lớn ban đầu.[311] Bây giờ Phraates II của Parthia đã tương kế tựu kế thả ngay Demetrios II Nikator, hy vọng rằng hai anh em sẽ bắt đầu một cuộc nội chiến, nhưng kế hoạch của vị vua này đã phá sản khi Antiochus VII Sidetes bị đánh bại ngay sau khi em trai mình được thả ra và không bao giờ gặp ông ta. Phraates II liền phái người đuổi theo Demetrios II Nikator, nhưng ông đã cố gắng thoát khỏi sự truy sát rất ngoạn mục để trở về Syria một cách an toàn và giành lại ngai vàng cùng nữ hoàng của mình.[312]

Vương triều An Tức[sửa | sửa mã nguồn]
Phraates IV

Năm 32 TCN, bởi sự độc ác của Phraates IV đã khuấy động làn sóng phẫn nộ từ các thần dân của mình, họ đã tôn Tiridates II lên ngôi.[313] Năm 29 TCN, Phraates IV được khôi phục lại ngai vàng nhờ vào dân Scythia, việc này khiến Tiridates II chạy trốn đến Syria. Năm 28 TCN, Phraates IV lại phải đào vong bởi Tiridates II hưng binh công phá Parthia lần thứ nhì. Năm 26 TCN, Phraates IV lần thứ ba bước lên ngôi báu, Tiridates II thất trận hoàn toàn.[314]

  • Tiridates II (tại vị:32 TCN-29 TCN)(phục vị:28 TCN-26 TCN)

Năm 32 TCN, Tiridates II được lập bởi những người Parthia chống lại Phraates IV, nhưng ông đã bị trục xuất năm 29 TCN khi Phraates IV trở về với sự giúp đỡ của người Scythia.[315] Tiridates II trốn chạy sang Syria, nơi Augustus cho phép ở lại, nhưng từ chối hỗ trợ ông. Năm 28 TCN, Tiridates II xâm chiếm Parthia một lần nữa, nhưng đến năm 26 TCN Phraates IV lại giành được quyền lực để tái đăng cơ.[316]

Artabanus III

Năm 35, giới quý tộc Parthia nổi dậy chống lại vua Artabanus III, họ đã thỉnh cầu hoàng đế La Mã Tiberius gửi cho một vị vua thuộc dòng dõi Phraates. Tiberius đã điều phái Tiridates III về phía đông, và ra lệnh cho Lucius Vitellius (cha của hoàng đế Vitellius) phải khôi phục lại ảnh hưởng của người La Mã ở đó.[317] Bằng những hoạt động quân sự và ngoại giao rất khéo léo Vitellius đã thành công hoàn toàn, Artabanus III bị những người theo ông ta bỏ rơi và buộc phải chạy trốn.[318] Tiridates III mặc dù đã được lập làm vua nhưng ông lại không thể tự mình cai trị, bởi ông chỉ là một chư hầu của người La Mã. Năm 36, Artabanus III quay trở về từ vùng đất Hyrcania cùng với một đội quân người Scythia (Dahan) hùng mạnh, ông được dân chúng Parthia chấp nhận, Tiridates III tháo chạy khỏi Seleucia và trốn sang La Mã. Nhưng chỉ vài tháng sau, Artabanus III lại bị lật đổ một lần nữa, và một người tên Cinnamus được giới quý tộc Parthia công bố là vua. Artabanus III phải tị nạn tại chỗ chư hầu của mình, nhà vua Izates của AdiabeneIzates bằng thương lượng và lời hứa về sự tha thứ hoàn toàn cho người Parthia đã khôi phục lại Artabanus III lần thứ ba lên ngai vàng vào năm 37.[319]

Tân Đế quốc Ba Tư[sửa | sửa mã nguồn]
Kavadh I

Năm 493, Kavad I cảm thấy mình đến tuổi trưởng thành, muốn thoát khỏi sự khống chế của quyền thần Sukhra, người cai trị thực tế của đế quốc và kết quả là ông thất thủ bị đày đến Shiraz quê hương ở phía tây nam Iran.[320] Tuy nhiên, ngay cả khi lưu vong, Sukhra vẫn giữ nguyên vương miện vua cho Kavadh I. Tại Shiraz, Kavad I tìm thấy giải pháp của mình ở Shapur của Ray, một nhà quý tộc mạnh mẽ từ nhà Mihran, và là một đối thủ kiên quyết của Sukhra. Shapur đã hành quân đến Shiraz, đánh bại lực lượng của Sukhra, bắt sống ông này và đưa đến thủ đô Ctesiphon của Sasanian rồi xử tử.[321] Kavadh I tuy trở lại ngôi báu nhưng đã bị phế truất vào năm 496 vì quyết tâm truyền bá một "tôn giáo" mới rao giảng phân phối lại tài sản, ông sử dụng đức tin như một công cụ chính trị để kiềm chế quyền lực của giới quý tộc và giáo sĩ, kho thóc hoàng gia và đất đai được chia sẻ giữa các tầng lớp thấp hơn. Kết quả, giới quý tộc bất bình đã nổi loạn, lật đổ Kavad I rồi đưa em trai ông là Jamasp lên làm vua.[322] Một cuộc họp hội đồng đã sớm diễn ra giữa giới quý tộc về những việc cần làm với Kavad I, Gushnaspdad một thành viên của một gia đình địa chủ nổi tiếng (Kanarangiyan) đề nghị đem Kavadh I xử tử. Tuy nhiên, đề nghị của ông này đã không được chấp nhận và hội đồng quyết định giam cầm Kavadh I trong "Nhà tù lãng quên" ở Khuzestan.[323] Với sự giúp đỡ của chị gái và sĩ quan Iran Siyawush, Kavadh I đã tự giải thoát khỏi nhà tù rồi đến tìm kiếm sự giúp đỡ của nhà vua Hephthalite. Ở đó, Kavadh I đã nhận được sự ủng hộ của vua Hephthalite, và cũng kết hôn với cô con gái latters (vốn là cháu gái của Kavadh I).[324] Năm 498, Kavadh I trở về Iran với quân đội của Hephthalite, Jamasp cùng giới quý tộc không đặt bất kỳ sự kháng cự nào vì họ muốn ngăn chặn một cuộc nội chiến khác. Họ đã thỏa thuận với Kavadh I, đồng ý sẽ không làm tổn thương Jamasp cũng như giới thượng lưu. Jamasp được tha, tuy Gushnaspdad và một số quý tộc khác do bất mãn đã âm mưu chống lại Kavadh I nhưng thất bại nhanh chóng và bị tiêu diệt toàn bộ vây cánh, như vậy Kavadh I đã bảo đảm vị trí của mình bằng sự khoan hồng.[325]

Khosrau II

Năm 590, Khosrau II được hai người cậu của mình là VistahmVinduyih đưa lên ngôi sau khi họ lãnh đạo một cuộc đảo chính cung đình lật đổ vua Hormizd IV. Tuy nhiên, ngôi vị chưa kịp ổn định thì đại tướng Bahram Chobin, một quý tộc dòng Mihran, tiến quân đến kinh đô Ctesiphon, và sau một cuộc giao tranh kết thúc với thất bại của Khosrau II, ông phải bỏ chạy vào nước Đông La Mã cùng với hai người cậu của mình.[326] Trên đường đi, họ đã bị quân đội của Bahram Chobin bắt kịp, nhưng Vinduyih đã đánh lừa bằng cách bảo rằng Khosrau II là cháu trai của ông, điều này khiến cho ông ta bị bắt còn Khosrau II có thể trốn thoát được.[327] Khosrau II gửi thư cho hoàng đế Đông La Mã Maurice xin viện quân đánh Bahram Chobin, Maurice đồng ý với điều kiện là Ba Tư phải nhường Đông La Mã các thành phố Amida, Carrhae, DaraMiyafariqin. Hơn nữa, Maurice yêu cầu Ba Tư chấm dứt can thiệp vào công việc nội bộ của La Mã ở Tây-Bồ và Armenia, và phải nhượng lại quyền kiểm soát hoàn toàn vùng Lazistan cho La Mã.[328] Năm 591, Khosrau II tới Constantia, và chuẩn bị hành quân đánh Lưỡng Hà trong tay Bahram Chobin, Vistahm và Vinduyih cộng tác với tướng La Mã là John Mystacon họp quân ở Azerbaijan và Armenia. Sau một thời gian chuẩn bị, Khosrau II cùng với tổng chỉ huy phía Nam của Đông La Mã là Comentiolus, xâm chiếm vùng Lưỡng Hà.[329] Trong cuộc xâm lược này, Khosrau II do cảm thấy bị Comentiolus xúc phạm, đã thuyết phục Maurice thay thế viên tướng này bằng Narses. Khosrau II và Narses sau đó tiến sâu hơn vào lãnh thổ của Bahram Chobin, chiếm Dara và sau đó là Mardin, tại đây Khosrau II đã được tuyên bố làm vua trở lại.[330]

Borandukht

Năm 630, nữ hoàng Ba Tư Borandukht bị lật đổ và Shapur-i Shahrvaraz, con trai của cựu hoàng Shahrbaraz đã được tôn lên làm vua của đế quốc Sassanid.[331] Dẫu vậy, Shapur-i Shahrvaraz đã không được phe của viên tướng Piruz Khosrow chấp nhận, thế lực này còn được biết đến với tên gọi là phe Parsig. Do đó Shapur-i Shahrvaraz đã bị lật đổ bởi Piruz Khosrow và phe nhóm của ông ta, họ tôn Azarmidokht, em gái của Borandukht lên ngôi. Bấy giờ, tể tướng Farrukh Hormizd, người đã từng đưa Borandukht lên ngôi cũng nhân thế cục hỗn loạn tự tuyên bố mình là "nhà lãnh đạo của nhân dân và trụ cột của Iran" rồi trở thành vua của một phần lãnh thổ Ba Tư.[332] Để cúng cố quyền lực, ông này có lời cầu hôn với Azarmidokht, nhưng Azarmidokht đã sát hại ông ta với sự trợ giúp từ thành viên gia tộc Mihran Siyavakhsh. Chẳng được bao lâu sau, Azarmidokht lại bị sát hại bởi người con trai thứ hai của Farrukh Hormizd là Rostam Farrokhzad. Borandukht khôi phục lại ngôi báu, tuy nhiên chỉ sau một năm trị vì, bà cuối cùng đã bị Piruz Khosrow bóp cổ cho tới chết.[333]

Tiểu vương quốc Alid[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 919, ngai vàng của Abu Muhammad Hasan ibn Qasim bị thách thức bởi hai anh em Abu 'l-Husayn Ahmad ibn Hasan và Abu 'l-Qasim Ja'far ibn Hasan, họ lật đổ ông để cùng trị vì.[334] Tuy nhiên ngay trong năm đó, được sự giúp đỡ của Abu Mansur Makan ibn Kaki (một nhà lãnh đạo quân sự Daylamite hoạt động ở miền bắc Iran, đặc biệt là Tabaristan và phía tây Khurasan vào đầu thế kỷ thứ 10), Abu Muhammad Hasan ibn Qasim đã chiếm thế thượng phong để giành lại quyền lực của mình.[335] Năm 923, hai anh em Abu 'l-Husayn Ahmad ibn Hasan và Abu 'l-Qasim Ja'far ibn Hasan lại quật khởi, họ quay lại đánh bại Abu Muhammad Hasan ibn Qasim, qua đó thực hiện chế độ cộng trị lần thứ hai.[336] Nhưng Abu 'l-Husayn Ahmad ibn Hasan lại đoản mệnh qua đời ngay trong năm 923, còn Abu 'l-Qasim Ja'far ibn Hasan thì duy trì quyền lực được hai năm nữa rồi cũng tạ thế, Abu Ali Muhammad ibn Abu 'l-Husayn Ahmad là nhân vật chính trị tiếp theo bước lên vũ đài lịch sử.[337] Năm 927, Abu Ja'far Husayn ibn Abu 'l-Husayn Ahmad lên thay anh trai Abu Ali Muhammad ibn Abu 'l-Husayn Ahmad nhưng chỉ được thời gian ngắn đã bị Abu Mansur Makan ibn Kaki hạ bệ, Abu Muhammad Hasan ibn Qasim trở thành quân chủ lần thứ ba, nhưng chỉ một năm sau ông cung bị giết trong trận chiến với Asfar ibn Shiruya.[338]

Năm 919, Abu 'l-Husayn Ahmad ibn Hasan lên ngôi đồng trị vì với người anh em Abu 'l-Qasim Ja'far ibn Hasan, nhưng ngay trong năm đó hai anh em đều bị hạ bệ bởi người tiền nhiệm Abu Muhammad Hasan ibn Qasim.[339] Năm 923, Abu 'l-Husayn Ahmad ibn Hasan và Abu 'l-Qasim Ja'far ibn Hasan tái khẳng định được quyền lực, nhưng rất tiếc ông lại vắn số mà chết ngay trong năm đó, còn Abu 'l-Qasim Ja'far ibn Hasan thì cai trị được hai năm.[340]

Năm 919, Abu 'l-Qasim Ja'far ibn Hasan lên ngôi đồng trị vì với người anh em Abu 'l-Husayn Ahmad ibn Hasan, nhưng ngay trong năm đó hai anh em đều bị hạ bệ bởi người tiền nhiệm Abu Muhammad Hasan ibn Qasim.[341] Năm 923, Abu 'l-Qasim Ja'far ibn Hasan và Abu 'l-Husayn Ahmad ibn Hasan tái khẳng định được quyền lực, nhưng Abu 'l-Husayn Ahmad ibn Hasan chết ngay trong năm đó, còn Abu 'l-Qasim Ja'far ibn Hasan thì hai năm sau cũng qua đời sau một cơn bạo bệnh.[342]

Nhà Ziyar[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 980, Ziyarid Qabus kết minh với người cai trị Buyid của Rey là Fakhr al-Dawla, khi Fakhr al-Dawla bị Adud al-Dawla đánh bại đã đến nương náu ở Ziyarids.[343] Adud al-Dawla đề nghị tiền và lãnh thổ của Ziyarid để đổi lấy sự đầu hàng của Fakhr al-Dawla, nhưng Ziyarid Qabus đã từ chối, điều này khiến Adud al-Dawla lấy cớ để tiến hành xâm chiếm và chinh phục Tabaristan.[344] Năm 981, anh trai của Adud al-Dawla là Mu'ayyad al-Dawla chỉ huy một cánh quân đã lấy được Gurgan, Ziyarid Qabus và Fakhr al-Dawla bị buộc phải chạy trốn đến Samanid Khurasan, Samanids có gửi một lực lượng nhằm lấy lại các tỉnh nhưng không thành công. Năm 984, Fakhr al-Dawla phục hồi các lãnh thổ của mình ở Rey, lẽ ra Ziyarid Qabus đã có thể giành lại ngôi vị.[345] Tuy nhiên, theo lời khuyên của tể tướng Al-Sahib Ibn Abbad, Fakhr al-Dawla đã từ chối trao lại quyền kiểm soát Gurgan và Tabaristan cho Ziyarid Qabus. Ziyarid Qabus buộc phải sống lưu vong cho đến năm 997, khi Fakhr al-Dawla qua đời và được con trai nhỏ Majd al-Dawla kế nhiệm, những người ủng hộ Ziyarid giành quyền kiểm soát Tabaristan và từ đó chinh phục Gurgan, Ziyarid Qabus chính thức trở lại đó vào năm 998.[346]

Vương triều Buyid[sửa | sửa mã nguồn]
Nhà Buyid ở Rey - Isfahan - Hamadan[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 980, Fakhr al-Dawla liên minh với hoàng tử Ziyarid Qabus và yêu cầu hỗ trợ từ phía Samanid Empire, đế chế Buyid rơi vào tình trạng khủng hoảng hỗn loạn từ năm 976 khi vua Rukn ad-Dawla qua đời. Hai người anh em của Fakhr al-Dawla là Mu'ayyad al-DawlaAdud al-Dawla đã liên tục dấy binh chống phá ông, đến đây họ liên minh với nhau mở cuộc hành quân thần tốc vào lãnh thổ của Fakhr al-Dawla khi viện binh chưa kịp tới, buộc ông phải chạy trốn đến Ziyarids.[347] Tuy nhiên, Mu'ayyad al-Dawla không dừng lại ở đó, tiếp tục chiến dịch của mình, khiến cả Fakhr al-Dawla và Ziyarid Qabus phải tìm nơi ẩn náu ở Samanid Khurasan. Mu'ayyad al-Dawla sau đó trở thành nhân vật cai trị Rey dưới quyền của Adud al-Dawla.[348] Cái chết của Adud al-Dawla năm 983 và sau đó là Mu'ayyad al-Dawla năm 984 đã cho Fakhr al-Dawla cơ hội giành lại quyền lực, tể tướng của Mu'ayyad al-Dawla là Al-Sahib Ibn Abbad đã tổ chức một cuộc tập hợp quân đội ở Gurgan và thuyết phục họ chấp nhận Fakhr al-Dawla làm chủ nhân mới của họ, Fakhr al-Dawla lúc đó vẫn còn ở Khurasan, ngay lập tức được mời đến Gurgan tức vị. Bấy giờ, Fakhr ad-Dawla có nhiều lãnh thổ hơn khi ông lên nắm quyền trước năm 980, những người Hamadan do Mu'ayyid ad-Dawla kiểm soát và các vùng lãnh thổ trước đây do Ziyarids thống trị như Gorgan và Tabaristan, ông nhận danh hiệu "vua của các vị vua" và biến Al-Sahib Ibn Abbad trở thành tể tướng của mình.[349]

Nhà Buyid ở Fars - Iraq - Arrajan - Kerman[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 987, Shirdil Abu'l-Fawaris, người cai trị của nhà Buyid ở Fars tiến quân vào Baghdad, bắt sống rồi phế truất quân chủ nhà Buyid ở Iraq là Samsam al-Dawl, giam cầm ông trong một pháo đài.[350] Kế hoạch tiếp theo của Sharaf al-Dawla là khuất phục người Kurd Badr ibn Hasanwayh, người đã tiếp quản Diyarbakr dưới triều đại của Samsam al-Dawla và là đồng minh của Fakhr al-Dawla. Nhưng chiến dịch đó đã thất bại nặng nề và không lâu sau đó, Sharaf al-Dawla uất ức mà chết vào năm 989.[351] Samsam al-Dawla nhân cơ hội này quyết tâm trở lại quyền lực, mặc dù ông đã bị mù một mắt ngay trước cái chết của Sharaf al-Dawla, ông trốn thoát khỏi nhà tù với sự giúp đỡ từ phía cựu tể tướng Alaf ibn Hasan của Sharaf al-Dawla.[352] Ông giành quyền kiểm soát Fars, Kerman và Khuzestan từ anh trai Baha al-Dawla, cả Samsam al-Dawla và anh trai của ông đều nhìn thấy vị trí của họ bị đe dọa bởi Fakhr al-Dawla, sau này đã xâm chiếm Khuzestan trong nỗ lực chia cắt lãnh thổ của hai anh em. Hành động này đã thúc đẩy cả hai thành lập một liên minh, Samsam al-Dawla đã công nhận Baha 'al-Dawla là người cai trị Iraq và Khuzestan, trong khi chính ông giữ Arrajan, Fars và Kerman, cả hai coi nhau bình đẳng, và đều lấy danh hiệu "vua".[353]

Nhà Buyid ở Fars[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 1052, quân đội của Al-Malik al-Rahim xâm chiếm Fars, họ đánh bại Abu Mansur Fulad Sutun và các đồng minh. Tuy nhiên, Abu Mansur Fulad Sutun đã yêu cầu sự hỗ trợ của Seljuk sultan Toghrul-Beg, và đã chiếm lại Shiraz vào năm 1053.[354] Năm 1054, một nhà lãnh đạo quân sự người Dailamite tên là Fuladh đã đẩy lùi Abu Mansur Fulad Sutun khỏi Fars, sau đó Fuladh đã thỏa thuận với Al-Malik al-Rahim để ông này đồng ý thừa nhận quyền lực của mình.[355] Tuy nhiên, Al-Malik al-Rahim đã liên thủ cùng với Abu Mansur Fulad Sutun, đánh tan quân đội của Fuladh, Abu Mansur Fulad Sutun sau đó đã đồng ý thừa nhận thẩm quyền của Al-Malik al-Rahim.[356] Năm 1055, Al-Malik al-Rahim đã bị bắt giữ và phế truất bởi lực lượng của Toghrul Beg tại Baghdad, chấm dứt sự cai trị của Buyid ở Iraq. Bấy giờ, Abu Mansur Fulad Sutun mới yên ổn duy trì quyền lực ở Fars nhưng tư cách là chư hầu của nhà Seljuk.[357]

Nhà Ghaznavi[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 1030, hoàng đế Ba Tư Mahmud, Mohammad I kế vị. Tuy nhiên, triều đại của Mohammad I chỉ duy trì được 5 tháng thì bị chính người anh song sinh của mình là Mas'ud I lật nhào. Trước đây đúng ra quyền kế vị phải thuộc về Mas'ud I, nhưng vì mối quan hệ xấu với vua cha, nên Mahmud đã thay đổi quan điểm của mình và bổ nhiệm Mohammad I làm người thừa kế.[358] So với Mas'ud I, Mohammad I ít kinh nghiệm trong các vấn đề chính trị và quân sự hơn. Abu'l-Najm Ayaz, người đã công khai thay đổi lòng trung thành với anh trai của Muhammad là Mas'ud I, người này có các chiến dịch quân sự ở miền tây Iran nên mang lại cho mình một danh tiếng lớn. Abu'l-Najm Ayaz lôi kéo các tướng lĩnh quân đội khác tham gia tạo phản, Muhammad I hay tin gửi một đội quân dưới quyền tướng Suvendharay tiến hành dập tắt cuộc nổi loạn, nhưng cuối cùng phiến quân chiến thắng và giết chết Suvendharay. Tiếp đó, phiến quân đến với Mas'ud I đang ở Nishapur, Mas'ud I tập hợp lực lượng hành quân về phía Ghazni, đánh bại Muhammad I chọc mù mắt và giam cầm, đồng thời tự phong mình là quốc vương mới của đế chế Ghaznavid.[359] Năm 1040, Mas'ud I bị Seljuq đánh bại trong trận Dandanaqan buộc phải dời Greater Khorasan tới Ấn Độ, nhưng ông lại bị lính của chính mình bắt giữ rồi sát hại trên đường đi, Mohammad I được đặt trở lại ngai vàng. Năm 1041, Maw'dud, con trai của Mas'ud I đóng quân ở Balkh, tập hợp lực lượng phản kích đến Ghazni, chiếm giữ ngai vàng và kết án Mohammad I, cầm tù cho đến chết.[360]

Nhà Seljuk[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 1152, sau cái chết của Sultan Masuda, Mugith ad-Dunya wa'd-Din trở thành người trị vì mới của nhà Seljuk với đế hiệu Malik-Shah III. Tuy nhiên, anh trai của Malik Shah III là Muhammad II không dễ dàng chấp nhận như thế, quân đội của ông ta nhanh chóng chuyển đến Iraq.[361] Quốc vương Malik-Shah III không kịp tổ chức phòng thủ, cùng lúc đó Caliph al-Muqtafi bắt đầu các hoạt động quân sự ở hậu phương, chiếm lĩnh trung tâm Mesopotamia. Cuối cùng, vào năm 1153, Malik-Shah III đã bị Hass Beek bắt giữ, và ông bị giam hãm cho đến năm 1156, Muhammad II trở thành sultan mới.[362] Năm 1156, Malik Shah III trốn thoát khỏi nhà tù, làm dấy lên cuộc nổi dậy chống lại Sultan Muhammad II, Malik Shah III kiểm soát một phần tỉnh Fars. Năm 1160, sau cái chết của Muhammad II, một thời gian ngắn ông lại chiếm được quyền lực trong toàn bộ vương quốc Hồi giáo. Nhưng ngay sau đó Malik Shah III đã bị đánh bại dưới tay Hamadan, ông chạy trốn về phương bắc rồi chết trong trận chiến với tiểu vương quốc Sharaf al-Din I-dehiz.[363]

Năm 1189, Rukn ad-Dunya wa'd-Din (tức Toghrul III) của nhà Seljuk bị lật đổ. Atabex Kizil-Arslan từ chi Ildezhizids đã quyết định bổ nhiệm Sanjaar, một đại diện của vương quốc Seljukids để thay thế Togrul III.[364] Vào thời điểm đó, Togrul III đã gia nhập lực lượng với Hassan Kifchak, thống đốc của Azerbaijan. Nhưng ông bị Qizil Arslan từ phía Atabeg của Azerbaijan đánh bại, buộc phải đầu hàng và chấp nhận giam cầm trong pháo đài Kukhran. Năm 1190, ông đã cố gắng giải thoát mình khỏi sự giám hộ của Qizil Arslan, nhưng kế hoạch bại lộ dẫn đến việc ông bị bắt nhốt trở lại.[365] Tuy nhiên, Qizil Arslan bị ám sát vào năm sau và Toghrul III lợi dụng sự lộn xộn mà trốn khỏi nhà tù. Abu Bekir bin Pakhlavan Ildezhizid, Tiểu vương quốc Arran và Azerbaijan, đã tổ chức đàn áp Toghrul III.[366] Lúc này, cựu quốc vương Togrul III đã tiếp cận Mahmud Anas, người đã giúp đỡ ông thoát khỏi lao ngục, ông nhận được sự viện trợ về mọi mặt. Sau một trận chiến quyết định với Abu Bekir bin Pakhlavan Iledzhizids diễn ra gần Kazzyn, Togrul III đã giành chiến thắng, nhờ đó khôi phục ngai vàng.[367]

Nhà Timur[sửa | sửa mã nguồn]
Husayn Bayqarah
Nhà Timur tại Herat[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 1470, Uzun Hasan của Ak Koyunlu ra mặt ủng hộ Yadgar Muhammad Mirza trong việc phản đối Husayn Bayqarah vì vị vua này đã lợi dụng cái chết của quốc vương Abu Sa'id Mirza để thừa cơ xâm nhập, ông ta lập tức đem quân tấn công Khurasan.[368] Ban đầu, Husayn Bayqarah đã đánh bại Yadgar Muhammad Mirza trong trận Chenaran, nhưng sau đó Uzun Hasan đã gửi quân tiếp viện kịp thời tiếp tục tiến vào Khurasan, Husayn Bayqarah không thể chống cự nổi thế mạnh của địch buộc phải chạy trốn, kinh đô Herat bị quân của Uzun Hasan chiếm đóng, Yadgar Muhammad Mirza tự lập làm vua.[369] Tuy nhiên, chỉ sáu tuần sau, Husayn Bayqarah đã hô hào binh lực khắp trong nước tái chiếm thành phố, sau khi tăng cường một lực lượng mới đã đánh bại các con trai của cựu vương Abu Sa'id Mirza đang cố gắng tiến vào Khurasan giúp đỡ Yadgar Muhammad Mirza, ông bắt Yadgar Muhammad Mirza đem ra hành quyết.[370]

Nhà Timur tại Fergana[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 1497, quân chủ nhà Timur tại Fergana là Ẓahīr-ud-Dīn Muhammad bị đánh bại bởi những cuộc nổi loạn của những người họ hàng, mầm mống cuộc biến động khởi điểm ngay từ lúc ông lên ngôi năm 1494 khi mới 12 tuổi.[371] Ông thực hiện việc đánh chiếm Samarkand làm cơ sở để mưu tính phục hồi cơ nghiệp tại Fergana, nhưng năm 1498, khi ông khôi phục được Fergana thì lại để mất Samarkand không lâu sau đó.[372]

Ẓahīr-ud-Dīn Muhammad
Nhà Timur tại Samarkand[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 1498, Ẓahīr-ud-Dīn Muhammad cai trị Samarkand chưa được bao lâu đã bị thất bại trong nỗ lực tái chiếm Fergana.[373] Năm 1500, khi cố gắng tái chiếm Samarkand vừa thành công, ông lại đánh mất Fergana.[374] Năm 1501, Ẓahīr-ud-Dīn Muhammad lại thất thủ Samarkand một lần nữa, lần này ông thất bại nhanh chóng bởi đối thủ đáng gờm nhất, Muhammad Shaybani, Khan của Uzbeks.[375] Năm 1504, Ẓahīr-ud-Dīn Muhammad chiếm được Kabul, vùng đất này vốn đang nằm trong sự sở hữu của một đứa bé sơ sinh, hậu duệ của Ulugh Begh.[376] Ông kết bang giao với vua Ismail I của nhà Safavid và chiếm lại khu vực Trung Á, bao gồm cả Samarkand vào năm 1511.[377] Tuy nhiên, đến năm 1512, Ẓahīr-ud-Dīn Muhammad lại đánh mất nó cùng với các vùng đất khác mới chiếm được vào tay người Uzbek.[378]

Nhà Timur tại KabulĐế quốc Mogul[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 1506, sau hai năm trị vì Kabul, một cuộc nổi dậy giữa một số tướng lãnh đạo của Ẓahīr-ud-Dīn Muhammad đã đẩy ông ra khỏi nơi đây.[379] Năm 1510, Ẓahīr-ud-Dīn Muhammad trở lại Kabul, thống trị nơi này một lần nữa và lấy lại lòng trung thành của phiến quân.[380] Ẓahīr-ud-Dīn Muhammad và Shah Ismail đã thành lập một quan hệ đối tác trong nỗ lực chiếm lấy các phần của Trung Á, để đáp lại sự giúp đỡ của Shah Ismail, Ẓahīr-ud-Dīn Muhammad cho phép Safavids hành động như một kẻ bá đạo đối với ông và những người theo ông.[381] Do đó, vào năm 1511, sau khi rời anh trai Nasir Mirza cai trị Kabul, ông đã tìm cách chiếm Samarkand lần thứ ba, ông cũng lấy Bokhara nhưng lại thua cả Uzbeks vào năm 1512.[382] Năm 1514, Ẓahīr-ud-Dīn Muhammad lần thứ ba trở về Kabul, những năm sau đó, sự cai trị của ông chủ yếu liên quan đến việc đối phó với các cuộc nổi loạn tương đối quan trọng từ các bộ lạc Afghanistan, quý tộc và người thân của ông, ngoài việc tiến hành các cuộc đột kích trên các ngọn núi phía đông.[383] Sau nhiều lượt tranh giành quyền lực ở Ba Tư đều thất thế, Ẓahīr-ud-Dīn Muhammad chuyển sự chú ý để tạo ra đế chế của mình tại phía bắc Ấn Độ.[384] Vào lúc này, khu vực đồng bằng Ấn-Hằng ở phía bắc của tiểu lục địa Ấn Độ đang nằm dưới sự cai trị của Ibrahim Lodi thuộc vương triều Lodi người Afghan, trong khi khu vực Rajputana nằm dưới sự kiểm soát của Liên minh Rajput theo Ấn giáo, với Minh chủ là Rana Sanga của Mewar.[385] Năm 1524, Daulat Khan Lodi, một thành viên của triều đại Lodhi, vì muốn tạo phản nên đã cho mời Ẓahīr-ud-Dīn Muhammad đến để lật đổ Ibrahim và trở thành vua.[386] Qua mấy phen giao chiến, Ẓahīr-ud-Dīn Muhammad đánh bại Ibrahim Lodi trong trận Panipat lần thứ nhất vào năm 1526 và thành lập đế quốc Mogul, ông đổi đế hiệu là Babur.[387] Tuy nhiên, Babur ngay lập tức phải đối mặt với sự chống đối, lần này là từ Rana Sanga của Mewar, người coi Babur là một kẻ ngoại tộc, Rana đã bị Babur đánh bại trong trận Khanwa, ngôi vị nhờ vậy được củng cố vững chắc.[388]

Vương triều Muzaffariden[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 1363, Dschamal ad-Din Abu l-Fawaris Schah-i Schudscha hành quân chống lại anh trai mình là Mahmud Shah, người đang nắm quyền kiểm soát Isfahan nhưng bất phân thắng bại, một nền hòa bình đã sớm được ký kết.[389] Năm 1364, Mahmud Shah, với sự hỗ trợ của cha vợ, Sheikh Awais (triều đại Jalayirid), đã mở cuộc phản kích bất ngờ vào Fars và chiếm lấy Shiraz.[390] Dschamal ad-Din Abu l-Fawaris Schah-i Schudscha phải bỏ chạy, ông không thể giành lại quyền kiểm soát thủ đô của mình cho đến năm 1366, sau đó tuy đã quay trở lại chốn kinh kỳ nhưng ông cùng Mahmud Shah vẫn còn tiếp tục xung đột dai dẳng cho mãi đến năm 1374, khi cha vợ ông này mất thì mới hoàn toàn chấm dứt.[391]

Vương triều Sarbadāren[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 1348, Lutf Allah chứng tỏ mình không có khả năng trả lương cho quân đội, Khwaja Shams al-Din 'Ali thấy là cơ hội và buộc ông phải thoái vị, sau đó ông ta trực tiếp kiểm soát chính phủ.[392] Năm 1353, Yahya Karawi, một quý tộc lên nắm quyền sau vụ ám sát Khwaja Shams al-Din 'Ali do một quan chức trong chính phủ Haidar Qassib giật dây. Năm 1356, đến lượt Yahya Karawi bị sát hại, một số thành viên của đảng Wajih ad-Din Mas'ud đã cố gắng đưa Lutf Allah trở lại làm người cai trị.[393] Nhưng Lutf Allah chưa kịp ổn định ngai vàng thì Haidar Qassāb đã ngăn chặn điều này bằng cách hành quân từ Astarabad đến Sabzewar và buộc những kẻ âm mưu phải chạy trốn khỏi thành phố.[368] Sau đó, ông ta đã đưa cháu trai của Yahya Karawi là Zahir al-Din Karawi làm nguyên thủ quốc gia vào năm 1358. Nhưng Zahir al-Din Karawi nhanh chóng chứng tỏ là một người cai trị không đạt yêu cầu đối với Haidar Qassib, một số tín đồ của Mas'ud đã thoát khỏi cuộc thanh trừng của Haidar Qassib, và giới quý tộc Atabeg đúng về phía Luft Allah đã nổi loạn ở Esfarayen.[394] Phớt lờ lời khuyên của Haidar Qassib, Zahir al-Din Karawi từ chối di chuyển chống lại phiến quân, Haidar Qassib nổi giận đã phế truất Zahir al-Din Karawi để nắm quyền kiểm soát chính thức của chính phủ.[395] Lúc đó, cả hai đảng phái của Mas'ud (người không thích Haidar Qassib vì mối quan hệ ban đầu với Khwaja Shams al-Din 'Ali và cuộc đàn áp của ông ta với những người ủng hộ Lutf Allah) và những kẻ liều lĩnh (người ghét ông ta vì vụ giết Khwaja Shams al-Din 'Ali) đều chống lại Haidar Qassib.[396] Năm 1360, trước khi Haidar Qassib và quân đội của mình có thể tới Esfarayen để khuất phục phiến quân, ông đã bị Hasan Damghani của Thổ Nhĩ Kỳ đâm chết, Hasan Damghani tiếp đến đã đưa Lutf Allah làm người đứng đầu Sarbadars. Nhưng chỉ một năm sau, Lutf Allah đã nảy sinh bất đồng với Hasan Damghani, người đã phế truất và xử tử ông và sau đó nắm quyền kiểm soát chính thức nhà nước Sarbadāren.[397]

Năm 1373, một cuộc nổi dậy ở Kirman chống lại Shah Shuja do Pahlavan Asad lãnh đạo đã nhận được sự hỗ trợ quân sự từ Chvadscha Ali b. Muayyad của vương triều Sarbadāren, nhưng cuộc nổi loạn đã bị đánh bại vào năm 1374.[398] Shah Shuja đem lòng oán hận Chvadscha Ali b. Muayyad, ông ta tìm một nhân vật tên Rukn al-Din, cựu thành viên của Darvish, ủng hộ tiền bạc vũ khí.[399] Sau nhiều chiến dịch lớn, Rukn al-Din đã chinh phục Sabzavar vào năm 1376, buộc Chvadscha Ali b. Muayyadphải chạy trốn đến Astarabad nương nhờ Amir Vali. Amir Vali coi đây là cơ hội hữu ích để mở rộng ảnh hưởng của mình ở Khurasan, nên bỏ qua hiềm khích cũ mà không lâu sau đó, đã đem quân giúp đỡ Chvadscha Ali b. Muayyad, ông được phục hồi làm người cai trị Sarbadar năm 1379.[400]

Vương triều AstarabadMazandaran[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 1366, dưới sự lãnh đạo của Chvadscha Ali b. Muayyad, quân đội Sarbadars thực hiện một cuộc phản công toàn diện, và Amir Vali bị buộc rời khỏi lãnh thổ của mình. Ngay sau khi mất Astarabad, ông đã thành lập một cơ sở quyền lực mới bằng cách chiếm giữ Semnan từ Sarbadars.[397] Sau đó, ông đã cố gắng mở nhiều cuộc hành quân lớn để lấy lại Astarabad, nhưng không thành công. Trong những năm sau đó, Amir Vali tổ chức cuộc tấn công quy mô chống lại Jalayirids ở phía tây, vận động ở vùng Rey. Quân chủ Jalayirids là Shaikh Awais Jalayir chống trả quyết liệt nhưng không thể ngăn ông lại, liền thuyết phục Chvadscha Ali b. Muayyad tấn công Amir Vali, nhưng phía Sarbadar coi Amir Vali là một bộ đệm hữu ích chống lại Jalayirids và từ chối chống lại ông.[401] Một cuộc chiến kéo dài giữa Sarbadars và vương triều Kartids ở Herat đã cho phép Amir Vali mở rộng lãnh thổ của mình với chi phí của Sarbadars, nhưng phải đến năm 1374, ông mới chiếm lại được Astarabad.[402]

Vương triều Afschariden[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 1749, Shahrokh Shah mất ngôi bởi các quý tộc khi còn chưa kịp yên ổn cơ nghiệp, ông bị cầm tù đồng thời chịu hình phạt chọc mù mắt, Sulayman II (hậu duệ của hoàng tộc Safavid (mẹcon gái của Safavid Shah Suleiman I) được đưa lên ngai vàng.[403] Vụ việc này có mầm mống ngay từ khi vừa lên nắm quyền, Shahrokh Shah đã mang Safawidenspross Sulaiman, một giáo sĩ có ảnh hưởng của thành phố thánh Qom, ở thủ đô Mashhad của ông ta và buộc ông ta quản lý hàng hóa của Waqf cho ngôi mộ của vị thánh thứ tám Ali Riza.[404] Theo cách này, người Afsharid muốn để mắt đến một ứng cử viên tiềm năng và do đó không vô hại cho ngai vàng, nhưng cuộc đấu tranh quyền lực đã nhanh chóng phát triển theo một hướng khác, một số quý tộc và tể tướng không hài lòng với Shahrokh Shah. Do đó, họ lật đổ Shahrokh Shah rồi ủng hộ Sulayman II, hạ lệnh ân xá trong ba năm tiếp theo, điều này lại gây ra gánh nặng cho kho bạc.[405] Một nhóm những kẻ âm mưu đã tập hợp xung quanh tướng Yusuf Ali Chan Jalayir (Yusuf'Alī Ḫān Ǧalāyir), để giành lấy sự giàu có của nhà nước, muốn lật đổ Sulayman II và đưa người mù trở lại ngai vàng. Vì vậy, Sulayman II đã bị giết trong đêm Nouruzfest 1750 bởi phe phái đối lập, Shahrokh Shah đã được giải phóng và tái bổ nhiệm làm người cai trị.[406]

Thổ Nhĩ Kỳ[sửa | sửa mã nguồn]

Tiểu vương quốc Saltukids[sửa | sửa mã nguồn]

Vào những năm 1153-1154, Saltuk II đã hành quân về Tiểu vương quốc Ani, nhưng Shaddad đã thông báo cho bá chủ của mình, Quốc vương Georgia, về việc này.[407] Demetrius I lập tức hành quân đến Ani, đánh bại và bắt được Saltuk II, theo yêu cầu của những người cai trị Hồi giáo láng giềng và thả ông để đòi tiền chuộc 100.000 dinar, được trả bởi con trai của Saltuk II và Saltuk II thề sẽ không chiến đấu chống lại người Gruzia.[408]

Kaykhusraw I
Hồi quốc Rum Seljuk[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 1196, Suleiman II tiến quân về phía Konya để lật đổ anh trai mình tự xưng làm sultan, Kaykhusraw I thua trận trốn đến Constantinople, ông sống lưu vong ở đó đến năm 1203.[409] Khi Suleiman II bị người Gruzia đánh bại và bắt sống trong trận chiến Basian, Kaykhusraw I thừa cơ quay trở lại gây dựng lực lượng, Kilij Arslan III lên ngôi thay thế Suleiman II.[410] Năm 1205, Kaykhusraw I đem quân vào Konya, loại bỏ Kilij Arslan III khỏi quyền lực, qua đó làm sultan lần thứ hai.[411]

Năm 1284, Mesud II bị Kayqubad III lật đổ. Nhưng chỉ vài tháng sau, ông được tể tướng Ilkhan Sahip Ata của Kai Chosrau III giúp sức nên giành lại ngay địa vị.[412] Năm 1293, Mesud II mất ngôi lần thứ hai bởi Ilkhan Gazan ủng hộ Kayqubad III nhưng cũng chỉ hơn một năm sau ông đã đoạt lại vị trí vốn có của mình. Năm 1301, vị trí này lại bị Alā al-Dīn Kai Kobad bin Ferāmurz cướp mất.[413] Đến năm 1303, khi người Mông Cổ trừng phạt một số bộ trưởng của mình, ông này sợ hãi và muốn chạy trốn, nhưng đã bị bắt tại rgüp và bị gửi đến Tabriz năm 1303. Tại thời điểm này, Mesud II đã được sử dụng lại.[414] Còn Alā al-Dīn Kai Kobad bin Ferāmurz bị kết án tử hình, tuy ông thoát chết vì người vợ cao quý, bản án đã được chuyển thành quản thúc tại Isfahan, nhưng lại bị sát hại bởi một trong những người hầu của mình trong một cuộc cãi nhau.[415]

Năm 1284, Alā al-Dīn Kai Kobad bin Ferāmurz lần đầu tiên lên ngôi sau khi hạ bệ Mesud II, ông được hỗ trợ bởi hầu quốc Karaman.[416] Tuy nhiên, chỉ vài tháng sau, Alā al-Dīn Kai Kobad bin Ferāmurz bị tể tướng Ilkhan Sahip Ata của Kai Chosrau III đánh bại, ông chạy trốn đến Cilicia nương nhờ các hoàng tử Armenia. Tại đây, Ilkhan Gazan đã giúp ông khôi phục địa vị vào năm 1293, thay thế người anh em họ Mesud II.[417] Đến năm 1894, Alā al-Dīn Kai Kobad bin Ferāmurz gặp Gazan tại Mosul khi ông trở về từ chiến dịch chống lại Syria. Hài lòng với lòng trung thành này, Gazan ban hôn cho Alā al-Dīn Kai Kobad bin Ferāmurz với một cô con gái của Hülegü.[418] Nhưng chẳng mấy chốc, ông ta đã phàn nàn về Alā al-Dīn Kai Kobad bin Ferāmurz, và các bộ trưởng của ông, bởi vì những người giàu có này đã bị cướp đi của cải của họ bằng cách tra tấn và chết. Ilchan Gazan ra lệnh rằng Alā al-Dīn Kai Kobad bin Ferāmurz không được làm gì nữa mà không có sự đồng ý của người Mông Cổ, Mesud II nhờ vậy phục vị. Năm 1301, Alā al-Dīn Kai Kobad bin Ferāmurz lại lên ngôi lần thứ tư.[419]

Hầu quốc Karaman[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 1318, Badr al-Din Ibrahim Beg đã nổi loạn, đặt yêu sách lên ngôi với anh trai mình, Haci Sufi Burhanettin Musa chịu lép vế buộc phải từ bỏ ngôi vị, ông dời đến thành phố Larende.[420] Nhưng vào năm 1352, sau một thời gian hỗn loạn khởi điểm từ năm 1350 với hai đời quân chủ là AhmetŞemseddin, Haci Sufi Burhanettin Musa lại được mời đến Karaman tái đăng cơ để thiết lập lại trật tự.[421]

Năm 1333, Badr al-Din Ibrahim Beg nhường ngôi cho anh trai mình là Halil.[422] Tuy nhiên, sau cái chết của Halil năm 1340, ông đã trở lại ngôi vị.[423]

Năm 1399, Sultanzade Nasireddin Mehmet Bey II nổi loạn, không nghe theo hiệu lệnh của Bayazid I, ông này tức giận đem quân trừng phạt, đánh bại và bắt giam Sultanzade Nasireddin Mehmet Bey II.[424] Sau thất bại của Bayazid I năm 1402, trong trận chiến ở Ankara nổi tiếng, Sultanzade Nasireddin Mehmet Bey II đã được Tamerlane của nhà Timurid thả ra khỏi nhà tù, trở lại làm vua Karaman lần thứ hai.[425] Năm 1420, Sultanzade Nasireddin Mehmet Bey II thực hiện một chiến dịch chống lại Bursa, ông thua trận và bị bắt giữ, anh trai ông là Sultanzade Bengi Alaeddin Ali Bey II thay thế.[426] Một năm sau, ông được thả ra sau cái chết của quốc vương xứ này, Sultanzade Bengi Alaeddin Ali Bey II nhường quyền cai trị về cho em trai.[427]

Năm 1421, Sultanzade Nasireddin Mehmet Bey II quay về phục vị sau một năm tù đày, Sultanzade Bengi Alaeddin Ali Bey II lập tức trả ngôi cho em.[428] Nhưng đến năm 1423, Sultanzade Nasireddin Mehmet Bey II qua đời, Sultanzade Bengi Alaeddin Ali Bey II lại lên nắm giữ ngai vàng.[429]

Murad II
Mehmed II
Mustafa I
Đế quốc Ottoman[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 1444, Murad II do cảm thấy quá mệt mỏi với các công việc triều chính và chiến tranh nên quyết định về phủ Manisa an hưởng tuổi già, truyền ngôi cho hoàng tử Mehmed II. Về phần vua con, được sự giúp đỡ của các thầy học và các đại thần, ông dần dần đã nắm được cách trị vì đất nước.[430] Nhưng giữa lúc đó thì một sự biến quan trọng xảy ra: vua Władysław III của Ba LanHungary gây chiến. Ông này trước đây đã phát động Thập tự chinh đánh bại quân Ottoman và ký hòa ước Segedin với Murad, nay nhân cơ hội Mehmed còn nhỏ tuổi liền cất binh, xé bỏ hòa ước Segedin, lấy cớ là hòa ước này do Władysław ký với Murad và khi Murad đã thoái vị thì nó không còn hiệu lực nữa. Được cộng hòa Venezia, Giáo hoàng, hoàng đế Đông La Mã và một số thế lực châu Âu khác ủng hộ, Władysław III đã tổ chức được một cuộc Thập tự chinh lớn.[431] Thập tự quân nhanh chóng tiến sâu vào lãnh thổ Ottoman và áp sát trọng trấn Varna nằm trên bờ Hắc Hải. Trước tình hình đó, Mehmed buộc phải vội vã phi ngựa tới phủ Manisa mời vua cha về chấp chính. Sau đó, Murad II đã xuất quân đánh tan tác đạo Thập tự quân tại trận Varna (1444), Władysław III cũng tử trận. Mối họa xâm lược bị đẩy lùi, sang năm 1445, Murad II lại trao quyền cho vua con rồi quay về Manisa.[432] Tuy nhiên, một bộ phận Cấm vệ quân Janissary lại nổi loạn, tỏ ý không phục ấu chúa và đòi Murad quay trở lại ngôi vị. Không còn cách nào khác, tháng 5 năm 1446 Mehmed II lại phải đích thân ra Manisa mời vua cha về lên ngôi thêm một lần nữa.[433]

Năm 1444, Fatih Sultan Mehmet được vua cha nhường ngôi, ngai vàng chưa kịp ổn định thì xảy ra cuộc thập tự chinh lớn do vua Władysław III của Ba Lan phát động, ông buộc phải mời vua cha Murad II trở lại ngôi vị để chủ trì đại cuộc. Năm 1445, sau khi đánh tan liên quân thập tự chinh, Murad II lại trao trả quyền lực cho Fatih Sultan Mehmet.[434] Năm 1446, bởi cuộc làm loạn của cấm vệ quân Janissary, Fatih Sultan Mehmet đành phải thoái vị để vua cha Murad II chấp chính.[432] Năm 1451, Murad II bệnh mất ở Edirne, thái tử Mehmed II (tức Fatih Sultan Mehmet) chính thức lên ngôi lần thứ ba.

Năm 1618, sau một thời gian trị vì 3 tháng ngắn ngủi, Mustafa I bị phế truất và bị ép phải truyền ngôi cho cháu trai là Osman II để lui về cấm cung.[435] Dưới triều đại Osman II, nảy sinh ra căng thẳng giữa vị vua trẻ và binh đoàn Janissary, kết quả vào năm 1622 ông này bị tể tướng Kara Davut Pasha giết chết.[436] Vì vậy, Mustafa I được quần thần ủng lập quay trở lại ngai vàng, nhưng cũng chỉ được non một năm ông lại bị phế truất lần thứ hai.[437]

Á Mỹ Ni Á[sửa | sửa mã nguồn]

Nhà Orontes[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 323 TCN, Alexandros đại đế qua đời, Perdiccas được bổ nhiệm làm người giám hộ và là quan nhiếp chính của đế quốc, trong cuộc phân chia tại Babylon, ông ta giao Armenia cho Neoptolemus trấn giữ thay thế cho Mithranes.[438] Năm 321 TCN, Eumenes đem quân sang châu Á mưu lật đổ thế lực của Perdiccas, và mục tiêu đầu tiên là Armenia. Neoptolemus bị Eumenes đánh bại tại một nơi gần Hellespont và tử trận, Mithranes được đưa trở lại làm tổng trấn.[439]

Alexandros Helios
Artaxias II
Tigranes IV
Erato
Vương quốc Đại Armenia[sửa | sửa mã nguồn]
Vương triều ArtaxidenGroßarmenien[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 34 TCN, quân chủ Artavasdes II của vương quốc Đại Armenia bị đế quốc La Mã bắt giữ, tại buổi lễ ban tặng của Alexandria, Alexandros Helios được vua cha Marcus Antonius phong làm vua của Armenia.[440] Bấy giờ con trai của Artavasdes II, Artaxias II cũng được nhân dân tôn lên làm vua thay thế cha mình. Artaxias II đem quân tấn công bất ngờ đánh đuổi người La Mã, nhưng chẳng bao lâu quân tiếp viện của La Mã kéo đến, đánh đuổi Artaxias II chạy sang Ba Tư, Alexandros Helios nhanh chóng khôi phục vương quyền ở Armenia.[441]

Năm 34 TCN, Artaxias II lên ngôi sau khi cha mình bị bắt, nhưng sau chiến dịch ngắn ngủi không thành công của mình chống lại người La mã, ông bị buộc phải tới Parthia.[442] Tuy nhiên, với sự hỗ trợ của người Parthia, ông đã trở lại Armenia khôi phục địa vị vào năm 30 TCN.[443]

Năm 5 TCN, người La Mã không chấp nhận ngai vàng của Tigranes IV nên đã bổ nhiệm Artavazd III làm vua Armenia, nguyên nhân la sau cái chết của vua cha Tigranes III, Tigranes IV phớt lờ luật La Mã mà tự ý lên ngôi báu.[444] Nhưng Artavazd III giữ ngai vàng chỉ có ba năm, kết thúc với cuộc đảo chính một lần nữa lên ngôi của Tigranes IV và Erato nhờ sức hỗ trợ của vương triều An Tức xứ Ba Tư.[445] Tuy nhiên, Tigranes IV lại nhanh chóng bị giết trong cuộc chiến chống lại các Highlanders, người đến từ phương bắc và tấn công Armenia vào năm 1 TCN.[446]

Năm 5 TCN, Erato và người đồng trị vì là anh trai (cũng là chồng bà) bị người La Mã lật đổ, Artavazd III được đưa lên thay thế.[447] Nhưng đến năm 2 TCN, bà và chồng nổi dậy đánh đuổi được Artavazd III để phục vị. Năm 1 TCN, Tigranes IV bị giết trong một trận chiến, đây là hệ quả từ cuộc nổi dậy nội bộ của người Armenia, trong số những người bị cặp vợ chồng hoàng gia nổi giận trở thành đồng minh của Rome. Chiến tranh và sự hỗn loạn xảy ra sau đó, Erato đã thoái vị ngai vàng và chấm dứt sự cai trị lần thứ nhất của bà đối với Armenia.[448]. Từ tình hình xung quanh Tigranes IV và Erato, người Armenia đã yêu cầu Augustus, lập một vị vua Armenia mới, Augustus đã bổ nhiệm Artavasdes III làm Quốc vương Armenia.[449] Sau khi từ nhiệm, Erato đã sống lưu vong chính trị tại một địa điểm không xác định, người ta biết rất ít về cuộc sống của bà trong giai đoạn này.[450] Năm 6, Artavasdes III bị sát hại bởi các phần tử chống đối, vì ông này là một nhà cai trị không phổ biến với người Armenia. Khi người Armenia ngày càng mệt mỏi với các vị vua nước ngoài, Augustus đã sửa đổi chính sách đối ngoại của mình và bổ nhiệm Hoàng tử Herodian Tigranes V làm vua mới.[451] Các quý tộc Armenia không hài lòng nên nổi dậy chống lại Tigranes V, họ khôi phục Erato trở lại ngai vàng, sau đó do sự giàn xếp từ phía đế quốc La Mã, bà đã trở thành đồng cai trị với Tigranes V.[452]

Vương triều Arsakiden[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 35, sau cái chết của Arsaces I, Artabanus III đã lập người con thứ Orodes làm vua mới của Armenia.[453] Vào thời điểm này, hoàng đế La Mã Tiberius, đã từ chối chấp nhận Vương quyền Armenia của Orodes nên bổ nhiệm Mithridates I làm vua Armenia với sự hỗ trợ của anh trai ông, vua Pharamanes I của Iberia. Orodes phải đối mặt với Mithridates I trong một chiến dịch quân sự ở Armenia, trong điều kiện không thuận lợi cho Orodes.[454] Trong chiến dịch quân sự, Pharamanes I đã gửi quân đội và lính đánh thuê của mình để hỗ trợ Mithridates, còn Orodes có sự hỗ trợ của quân đội Parthia. Orodes yếu thế hơn chiến dịch quân sự chống lại Mithridates, ông bị thương đành phải bỏ chạy trở về Parthia.[455] Năm 37, Mithridates I bị hoàng đế La Mã Caligula bắt giữ vì lý do không rõ và Orodes được cha mình, Artabanus III chớp thời cơ hỗ trợ khôi phục lại vương quyền ở Armenia.[456]

Mithridates I được lập làm vua bởi hoàng đế La Mã Tiberius, người đã xâm chiếm Armenia vào năm 35.[457] Tuy nhiên, cái chết của Tiberius năm 37 đã làm đảo lộn mọi thứ, sự điên rồ của hoàng đế mới Caligula đã làm tổn hại mọi thứ cho người La Mã. Không rõ lý do gì, hoàng đế triệu tập Mithridates I đến Rome và tước vương quyền của ông.[458] Artabanus III đã tận dụng cơ hội này để tái chiếm Armenia, đưa con mình là Orodes trở lại ngai vàng.[459] Năm 42, Caligula đã ủng hộ Mithridates I quay về Armenia, với sự bảo vệ của người La Mã và đội ngũ của anh trai ông, Pharamanes I của Iberia, đã chiến thắng Orodes giành lại đất nước. Để củng cố vững chắc sự bảo hộ, một đơn vị đồn trú của La Mã đã chuyển đến Gornae.[460]

Radamisto giết Zenobia

Năm 51, để tách Armenia một lần nữa khỏi sự thống trị của Rome và gắn lại nó với Parthia sẽ là một lễ nhậm chức vĩ đại của mình, vua Vologase I đã gửi một lực lượng quân đội lớn vào Armenia, cuối cùng đã đánh đuổi người Norman vào năm 53.[461] Quốc vương Radamisto phải tháo chạy, Vologase I tuyên bố người em trai Tiridates I của mình làm vua Armenia. Nhưng một trận dịch mùa đông nghiêm trọng gây ra nhiều loại bệnh tật khủng khiếp trong binh lính đã buộc người Parthia phải rút khỏi Armenia, tạo điều kiện cho phép Rhadamistus trở về phục bích vào đầu năm 54.[462]

Tiridates I

Năm 53, Tiridates I lên ngôi vua Armenia chưa được bao lâu đã phải rút lui về Parthia vì bệnh dịch, Radamisto thừa cơ quay trở lại.[463] Nhưng sự phục bích của Radamisto cũng chỉ kéo dài được một năm thì kết liễu, bởi ông này đã trả thù những người theo hàng người An Túc bằng cách trừng phạt họ rất dã ma. Họ không chịu nổi sự khắc nghiệt đó nên quật khởi lật đổ Radamisto, chào đón sự trở lại của hoàng tử Parthia Tiridates I vào năm 55, Rhadamistus tuy trốn thoát nhưng không bao lâu bị cha mình là Parasmanes I của Iberia giết chết vì đã âm mưu chống lại quyền lực của hoàng gia.[464] Năm 58, không hài lòng với ảnh hưởng của người Parthia đang gia tăng ngay trước cửa nhà, Hoàng đế La Mã Nero đã phái tướng Gnaeus Domkina Corbulo dẫn đại quân tiến vào Greater Armenia từ Cappadocia tiến về Artaxata, trong khi Parasmanes I của Iberia tấn công từ phía bắc, và Antiochus IV của Commagene tấn công từ phía tây nam.[465] Tiridates I thua to chạy trốn khỏi thủ đô, Gnaeus Domkina Corbulo đã thiêu rụi Artaxata, phần lớn người Armenia đã từ bỏ kháng chiến và chấp nhận hoàng tử Tigranes VI được phía Rome chỉ định làm vua của họ.[466] Năm 63, Tigranes VI đã xâm chiếm một quốc gia chư hầu nhỏ lân cận của người Parthia tên là Adiabene và phế truất vua Monobazes của xứ này. Vologase I của Parthia coi đây là hành động xâm lược từ Rome, ông ta lập tức trả đũa bằng việc tấn công Armenia và bao vây Tigranakert. Cuối cùng, Tigranes VI bị buộc phải từ bỏ ngôi vị, những người Parthia đã ký một hiệp ước với Gnaeus Domkina Corbulo để Tiridates I trở lại làm vua của Armenia lần thứ ba miễn là ông tới Rome để được Nero trao vương miện.[467]

Sohaemus

Năm 161, Vologase IV của Parthia phái quân đội của mình đến chiếm Armenia và tiêu diệt các lực lượng vũ trang La Mã đóng quân tại quốc gia này dưới quyền của tướng Marcus Sedatius Severianus.[468] Sau khi Armenia bị Parthia chiếm giữ, Sohaemus phải sống lưu vong chính trị ở Rome, ông trở thành thượng nghị sĩ tại đây, Aurelius Pacorus được người Parthia đưa lên làm vua, điều này đã dấy nên cuộc chiến tranh La Mã-Parthia 161-166.[469] Aurelius Pacorus cai trị Armenia cho đến năm 164, Lucius Verus đến với quân đội La Mã đã tái chiếm Armenia, truất ngôi ông này khi họ vào được thủ đô, Sohaemus đã ngồi lại vào vị trí ở vương quốc Armenia của mình, nghi lễ cho ông trở thành vua Armenia lần thứ hai diễn ra ở Antioch.[470] Tuy nhiên, cuộc chiến này đã khiến Rome phải trả giá đắt, bởi vì quân đội chiến thắng đã mang theo nó từ phía đông một bệnh dịch lây lan rất nhanh trên toàn đế quốc.[471]

Năm 392, Hoàng đế An Tức Vahram IV đã triệu tập Khosrov IV đến Ba Tư, phế truất ông và thay thế bằng anh trai Vram Shahpuh, Khosrov IV bị nhốt suốt 22 năm trong "Pháo đài quên lãng" ở Khuzestan.[472] Sự kiện trên bắt nguồn từ khi vị quốc vương Armenia này phải chịu sự phản đối của Nakharark, họ không ngần ngại tố cáo ông là kẻ phản bội với Vahram IV, vì ông đã ủng hộ việc gia nhập ngai vàng của tộc trưởng Sahak I. Parthev, hậu duệ cuối cùng của triều đại gia trưởng do Gregory I. the Illuminator sáng lập.[473] Khi Vram Shahpuh qua đời năm 414, con trai Artachès chỉ mới mười tuổi, Nakharark lại kiến nghị lên hoàng đế Ba Tư chuẩn y việc tái lập vua Khosrov IV, Yazdgard I chấp nhận cho Khosrov IV phục vị, nhưng ông qua đời sau một năm trị vì do tuổi cao sức yếu.[474]

Vương quốc Commagene[sửa | sửa mã nguồn]
Antiochus IV

Năm 38, Antiochus IV tiếp quản vương quốc Commagene từ người cháu nội của Antonia, hoàng đế La Mã Caligula.[475] Antiochus IV vốn là một người tâm phúc, có quan hệ mật thiết với Caligula, ông cùng vua Agrippa I được nói đến như là những thầy dạy của hoàng đế về nghệ thuật của chế độ độc tài.[476] Tuy nhiên, tình bạn này lại không kéo dài được lâu vì sau đó ông đã nhanh chóng bị chính Caligula phế trừ ngôi vị. Cho đến khi Claudius lên ngôi hoàng đế vào năm 41, Antiochus IV mới được phép phục vị.[477]

Armenia Ba Tư[sửa | sửa mã nguồn]
Vahan Mamikonian

Năm 483, người Armenia đã bị đánh bại trong trận chiến Akesga, Zarmihr Hazarwuxt được đưa lên ngôi Marzban. Vahan Mamikonian thất thế sau đó đã chạy đến Tao trong khi Shapur Mihran đang có việc cần kíp phải trở về ngay Ctesiphon, điều đó cho phép người Armenia lấy lại quyền kiểm soát dòng sông Arax trong mùa đông, hạ gục Zarmihr Hazarwuxt.[478] Nhưng vào mùa xuân năm 484, Shapur Mihran trở lại với tư cách là người đứng đầu một đội quân mới và buộc Vahan Mamikonian lại phải phải chạy trốn đến nơi trú ẩn gần biên giới Byzantine, tại TaoTaron.[479] Tuy nhiên, một sự kiện bất ngờ đã thay đổi tiến trình của các sự kiện, cái chết của vua Sasanian Peroz I năm 484 trong cuộc chiến chống lại người Hephthalites, gây ra sự rút lui của người Ba Tư ở Armenia, như vậy DvinVagharshapat được phục hồi.[480] Đấu tranh để đàn áp cuộc nổi dậy của anh trai Zarir, người kế vị của Peroz I, Balash, cần sự giúp đỡ của người Armenia để đổi lấy sự hỗ trợ quân sự, Vahan Mamikonian đã đồng ý ký Hiệp ước Nvarsak, nơi trao quyền tự do tôn giáo cho các Kitô hữu và sự cấm đoán của Zoroastrianism ở Armenia, bao gồm quyền tự trị lớn hơn nhiều đối với người Nakharar. Năm 485, Vahan Mamikonian chính thức được công nhận làm Marzban, còn anh trai Vard được bổ nhiệm làm sparapet và tài sản của gia đình Mamikonia cùng các đồng minh đã được trả lại.[481]

Năm 518, một số bộ lạc Hunnic tiếp tục xâm nhập vào Armenia, Guschnasp Vahram không sao ngăn nổi trào lưu này.[482] Bấy giờ có Mjej I Gnuni đã đứng ra quyết định tổ chức một cuộc phản công, giải phóng khu vực ông ta quản lý và đẩy lùi chúng thành công.[483] Như một phần thưởng, Sassanian shah Kavadh I đã bổ nhiệm ông ta làm marzban của Armenia thay thế cho địa vị của Guschnasp Vahram.[484] Năm 548, chức vụ marzban được Tan Shapur đảm trách, việc này duy trì cho đến khi Guschnasp Vahram trở lại cầm quyền vào năm 552.[485]

Năm 552, Tan Shapur mất ngôi marzban bởi Guschnasp Vahram phục vị, nhưng đến năm 554 ông đã giành lại được quyền cai trị Armenia Ba Tư lần thứ hai.[486]

Năm 572, Vardan III Mamikonian nổi dậy chống lại Marzban Chih-Guschnasp Souren và giết chết ông ta.[487] Vua Sassanid Khosro I lập tức gửi tới Armenia đội quân gồm hai mươi ngàn người, giao cho một trong những tướng lĩnh tài ba, Mihrān Mihrevandak chỉ huy và phong làm Marzban.[488] Mặc dù thua kém về số lượng, ban đầu Vardan III Mamikonian thua to bỏ chạy nhưng sang đầu năm 573 đã đánh bại Mihrān Mihrevandak ở đồng bằng Khalamakh, khôi phục địa vị mới giành được của mình. Khosro I nổi giận lại cử Gloun Mihrān đem binh mã sang tấn công, thủ đô Armenia bị người Ba Tư tiếp quản, buộc Vardan III Mamikonian phải lánh nạn ở Constantinople.[489] Hoàng đế Byzantine Justin II đề nghị bảo vệ Armenia, và với sự giúp đỡ của ông này, Vardan III Mamikonian đã chiếm lấy Dvin, đánh bại hoàng đế Sassanid Khosro I. Hiệp định đình chiến năm 574 được ký kết, tuy nhiên chỉ ba năm sau đã chứng kiến ​​sự trở lại của người Ba Tư với Armenia, một lần nữa buộc Vardan III Mamikonian và những người công giáo phải lánh nạn ở vùng đất Byzantine.[490]

Marzban của Hyrcania và Armenia Ba Tư[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 602, Marzban của Hyrcania (vùng duyên hải phía nam của biển Caspi) là Smbat IV Bagratouni được hoàng đế Ba Tư Khosrow II triệu hồi về kinh nhận nhiệm vụ mới.[491] Năm 604, ông được gửi trở lại Armenia với quyền hạn rộng lớn hơn, ngoài chức vụ Marzban Armenia Ba Tư còn có thêm tư cách là tư lệnh quân đội của lãnh chúa.[492]

Armenia La Mã[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 634, Varaz-Tiroç II Bagratouni bị trục xuất khỏi Armenia La Mã và lưu đày sang Châu Phi, Theodoros Rechtuni được đưa lên cầm quyền.[493] Theodoros Rechtouni đấu tranh mạnh mẽ chống lại người Ả Rập và từ chối việc phóng thích Varaz-Tiroç II Bagratouni, nhưng đến năm 645, để hòa giải giới quý tộc Armenia, hoàng đế Constant II chấp nhận, ban lệnh ân xá của mình cho Varaz-Tiroç II Bagratouni rồi cất nhắc ông lên làm marzban thay Theodoros Rechtuni.[494] Nhưng chưa đầy một năm sau, Theodoros Rechtuni đã dẹp tan được Varaz-Tiroç II Bagratouni để làm marzban lần thứ hai.[495]

Năm 645, trước sức tấn công áp đảo của người Ả Rập, Theodoros Rechtuni đã chấp nhận sự bảo hộ tuyệt đối của người Ả Rập và được bảo đảm theo hợp đồng để trả lại quyền tự trị đáng kể cho Byzantine Armenia.[496] Hành vi này của Theodoros Rechtuni được hiểu ở Constantinople là tội phản bội cao, hoàng đế Constans II lập tức chuyển đến Armenia với một đội quân lớn và dễ dàng đánh bại Theodoros Rechtuni, nhưng ông đã kịp thời trốn thoát đến một tu viện trên đảo Akdamarhồ Van, Varaz-Tiroç II Bagratouni được đưa trở lại phục vị.[497] Sau sự ra đi vội vã của hoàng đế Đông La Mã năm 646, Theodoros Rechtuni đã ra lệnh cho 7.000 binh sĩ từ Ả Rập và đồn trú họ tại khu vực Byzantium phía bắc hồ Van, Varaz-Tiroç II Bagratouni bị sát hại.[498] Năm 654, Theodoros Rechtuni cuối cùng tuyệt vọng về sự kháng cự hơn nữa với người Đông La Mã, đã chấp nhận sự tuyệt đối của Maurianos được bổ nhiệm làm người cai trị Armenia. Theodoros Rshtuni đã có thể đàm phán một hiệp ước rời Armenia với mức độ tự trị tương đối cao, để đáp lại Constans II đã đích thân thống trị lực lượng của mình và dẫn họ đến Armenia mặc dù âm mưu ngày càng tăng đối với ông ta ở Constantinople.[499] Trớ trêu thay là chỉ huy Armenia của Quân đội Thrace, Constans II bảo vệ Armenia và phế truất Theodoros Rechtuni, người đã lánh nạn trên đảo Akhtamar, Maurianus được giao nhiệm vụ bảo vệ Armenia lần thứ hai. Năm 655, Maurianus bị đuổi ra khỏi Armenia vào vùng Kavkaz và Theodoros Rechtuni được phục hồi. Quyết định rằng Theodoros Rechtuni không đáng tin, chỉ ít lâu sau người Ả Rập đã gửi ông đến Damascus, nơi Theodoros Rechtuni chết trong tù giam vào năm sau.[500]

Năm 654, Maurianos giành quyền cai quản Byzantine Armenia nhưng chưa bao lâu thì Theodoros Rechtuni đã khôi phục địa vị, đến năm 655 tuy ông quay trở lại thống trị xứ này nhưng cũng chỉ được vài tháng lại bị trục xuất cũng bởi Theodoros Rechtuni.[501]

Năm 693, Smbat VI Bagratuni phải đối mặt với một đội quân Ả Rập dưới sự lãnh đạo của Muhammad ibn Marwan, người đã cướp bóc đất nước để đưa Armenia La Mã dưới sự kiểm soát trực tiếp của caliph.[502] Muhammad ibn Marwan bắt được các lãnh đạo chủ chốt của giáo hội và hoàng tử quan trọng nhất của Armenia, bao gồm cả Smbat VI Bagratuni, giam hãm tại Damascus.[503] Smbat VI Bagratuni được thả ra vào năm 697, hoàng đế Tiberius III đã bổ nhiệm ông làm người đăng quang lần thứ hai, Smbat VI Bagratuni chỉ huy Armenia thay mặt Byzantium. Năm 700, ông đánh bại Abd al-Aziz ibn Hatim al-Bahilli, trục xuất ông này về nước.[504] Năm 705, Smbat VI Bagratuni quyết định xác lập nền hòa bình với Caliph, chấp nhận sự thống trị của người Ả Rập, từ chức thống trị và rút khỏi lãnh thổ của mình, Armenia sau đó được cai trị bởi Muhammad ibn Marwan lần thứ hai.[505]

Năm 695, Abd al-Aziz ibn Hatim al-Bahilli thay thế Muhammad ibn Marwan cai quản Armenia La Mã. Năm 700, Smbat VI Bagratuni đánh đuổi được Abd al-Aziz ibn Hatim al-Bahilli để phục vị.[506] Năm 705, Muhammad ibn Marwan trở lại cầm quyền bởi Smbat VI Bagratuni quyết định đầu hàng người Ả Rập.[507]

Vương triều Bagratiden[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 745, Grigor II Mamikonian được bổ nhiệm làm vua Armenia, với sự giúp đỡ của caliph, Achod III Bagratuni đã lưu vong sang Yemen.[508] Tuy nhiên, Achod III Bagratuni quay trở lại Armenia vào năm 746 và bắt David Mamiconius (anh trai của Grigor II Mamikonian) rồi giết chết ông ta, Grigor II Mamikonian cảm thấy lực lượng mình quá yếu buộc phải thoái vị.[509] Năm 748, Grigor II Mamikonian lật đổ được Achod III Bagratuni, chọc mù mắt ông, nhưng chưa ngồi lâu trên ngai vàng thì lại ốm chết, như vậy Achod III Bagratuni được người Ả Rập đưa lên ngôi lần thứ ba. Không lâu sau đó, vào năm 751, các caliph của Umayyad bị lật đổ và giết bởi Abbasids, và Achod III Bagratuni, người cũng đã cam kết với Umayyads, lại bị thất sủng, danh hiệu "Prince d’Arménie" của ông bị huỷ bỏ.[510]

Năm 746, Marwān II ibn-Mohammed sau khi ổn định vững chắc ngai vàng, muốn thưởng cho Achod III Bagratuni, người đã hỗ trợ ông ta trong chiến tranh. Marwān II ibn-Mohammed đưa quân tiến đánh Davith Mamikonia, chặt tay và bóp cổ người này, và khôi phục Achod III Bagratuni lên nắm quyền lực ở Armenia, Grigor II Mamikonia buộc phải hòa giải với Achod III Bagratuni, chấp nhận từ nhiệm.[511] Năm 748, cuộc nội chiến ở đế chế Ả Rập lại tiếp tục, Grigor II Mamikonia nhân cơ hội quyết định trả thù anh trai mình, ông tiến hành cuộc chính biến bất ngờ và bắt giữ Achod III Bagratouni và khiến ông này bị mù, ông tự xưng vua Armenia, nhưng đã chết vì bệnh tật ngay sau đó.[512]

Vương triều Vaspurakan[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 852, Caliph Jafar al-Mutawakkil quyết định tấn công chiếm lấy Armenia, tướng Bugha al-Kabir chỉ huy quân đội 200.000 người đàn áp dã man các lực lượng vũ trang Armenia. Aschot I. Abulabus Ardzruni thua trận, bị vây hãm tại một trong những pháo đài của ông, sau đó bị hai chư hầu phản bội nên bị bắt đày đến Samarra.[513] Jafar al-Mutawakkil ở Armenia đến năm 855 thì được triệu hồi về kinh, Gurgen I ar Arrouni ngồi vào vị trí tối cao cai trị xứ này.[514] Năm 857, Caliph phóng thích Grigor Derenik Ardzruni (con trai của Aschot I. Abulabus Ardzruni cũng bị lưu đày cùng cha) cho phép tiếp quản Vaspourakan. Năm 868, Aschot I. Abulabus Ardzruni được Caliph thả về nước, Grigor Derenik Ardzruni lập tức trả ngôi vị cho cha.[515]

Năm 868, Grigor Derenik Ardzruni trao quyền cai trị Armenia cho cha mình, Aschot I. Abulabus Ardzruni. Hai cha con sau đó cố gắng giảm các vùng đất Hồi giáo Vaspurakan, thất bại với Amiouk nhưng đã xoay sở để chiếm thành phố có cùng tầm quan trọng chiến lược của Varag. Năm 874, Aschot I. Abulabus Ardzruni qua đời, Grigor Derenik Ardzruni quay trở lại làm vua.[516]

Năm 896, nhiếp chính Gagik Apumrvan Artsruni chính thức phế truất Ashot II, tự lập làm quân chủ Vaspurakan. Suốt thời kỳ tại vị thứ nhất, Ashot II chịu dự khống chế của Gagik Apumrvan Artsruni.[517] Đến năm 898, Ashot II quật khởi tiêu diệt Gagik Apumrvan Artsruni để giành lại địa vị của mình.[518] Năm 900, Vaspurakan bị chiếm giữ bởi tiểu vương Sajid Afshin.[519] Ashot II chạy trốn và đến Bardaa, Afshin để lại một đơn vị đồn trú do Safi chỉ huy, tuyên bố là thống đốc của Van. Năm 901, Ashot II trở về trục xuất quân Sajid, khôi phục ngai vàng lần thứ ba.[520]

Vương triều Vaspurakan và Vương triều Andzevatsik[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 857, sau hai năm tạm thời chấp chính Vaspurakan, Gurgen I ar Arrouni nhượng lại vị trí cho Grigor-Dérénik Arçrouni khi ông này được người Ả Rập thả ra.[521] Năm 867, ông trở thành chúa tể quyền lực nhất miền nam Armenia bằng con đường hôn nhân, cai trị khu vực Andzevatsik.[513]

Công quốc Taron[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 851, quân chủ công quốc Taron Bagrat I Bagratuni bị Yusuf ben Abu Said ben Marwazi của Armenia Ostikan bắt làm tù binh giam cầm tại Samarra, con trai là Aixot II bước lên ngôi.[522] Nhưng chưa bao lâu sau, công quốc Taron đã bị Gurgen Ardzruni, con trai của Abubeldj (hoàng tử của Mardastan) chiếm giữ với danh hiệu Curopalata. Năm 858, Aixot II mới khôi phục lại cơ nghiệp của tổ tiên, mặc dù các cuộc tranh chấp xung đột vẫn tiếp diễn trong những năm sau đó.[523]

Tiểu vương quốc Armenia[sửa | sửa mã nguồn]

Từ năm 642 đến 643 là cuộc chinh phạt Armenia lần thứ hai của người Ả Rập, họ tuyên bố thành lập tỉnh Arminia với tư cách là tiểu vương quốc, Husayf ibn al-Yaman al-Absi được đề bạt làm thống đốc đầu tiên.[524] Nhưng Theodoros Rshtuni đã chỉ huy quân đội kháng chiến đánh bại sức tấn công của người Ả Rập, Husayf ibn al-Yaman al-Absi buộc phải lui binh.[525] Salman ibn Rabia al- Bahili được cử sang Arminia ngay sau đó cũng chưa thành công phải trở về năm 644, và đến lượt Habib ibn Maslama al-Fihri vẫn không ngoại lệ.[526] Năm 654, ngưởi Ả Rập mở cuộc hành quân lần thứ ba quy mô lớn và Habib ibn Maslama al-Fihri là tổng chỉ huy, sang năm sau thì Husayf ibn al-Yaman al-Absi thế chỗ, lần này người Armenia đã chịu khuất phục.[527]

Năm 644, Habib ibn Maslama al-Fihri giữ chức thống đốc Arminiya, nhưng quân Ả Rập bị đánh lui. Năm 654, ông dẫn binh quay trở lại gần một năm thì trao lại quyền kiểm soát vùng mới thành lập này lại cho Husayf ibn al-Yaman al-Absi.[528] Chiến dịch năm 654 thành công lớn đối với người Ả Rập, các lực lượng của Habib ibn Maslama al-Fihri đã chiếm Melitene và đánh bại thống đốc Byzantine của Armenia, Maurianos trong một cuộc tấn công ban đêm gần Dvin.[529]

Năm 721, cuộc chiến tranh Ả Rập Khazar lần thứ hai đang trong giai đoạn khốc liệt nhất, 30.000 Khazar đã phát động một cuộc xâm lược Armenia và gây ra một thất bại nặng nề đối với quân đội của Maslamah ibn Abd al-Malik tại Marj al-Hijara, buộc ông phải bỏ chạy.[530] Đáp lại, Caliph Yazid II đã gửi Al-Jarrah ibn Abd al-Lah al-Hakami (Thống đốc KhurasanSistan) cùng 25.000 quân đội Syria đến Armenia, đưa ông ta chỉ huy cuộc tấn công Umayyad chống lại Khazars. Al-Jarrah ibn Abd al-Lah al-Hakami đã nhanh chóng thành công trong việc đưa Khazar trở lại qua vùng Kavkaz và chiến đấu theo hướng bắc dọc theo bờ biển phía tây của Biển Caspi, phục hồi Derbent và tiến vào thủ đô Balanjar của Khazar.[531] Năm 725, ngay sau cái chết của Yazid II và sự đăng cơ của Hisham ibn Abd al-Malik, Caliph mới đã phái Maslama ibn Abd al-Malikthay thế Al-Jarrah ibn Abdallah al-Hakami ở mặt trận Kavkaz chống lại Khazars.[532] Năm 729, Maslama ibn Abd al-Malik đã bị cách chức bởi thất bại liên tiếp trong nhiều trận đánh, và được thay thế bằng Al-Jarrah ibn Abd al-Lah al-Hakami.[533] Đến năm 730, khi Al-Jarrah ibn Abd al-Lah al-Hakami chết, ông lại được đưa trở lại Arminiya, tất nhiên do làm việc vô năng nên chỉ hai năm ông lại bị phế truất để Marwan ibn Muhammad thế chỗ.[534]

Năm 725, Hisham ibn Abd al-Malik thay Al-Jarrah ibn Abd al-Lah al-Hakami bằng Maslama ibn Abd al-Malik.[535] Đến năm 729, Al-Jarrah ibn Abd al-Lah al-Hakami quay trở lại Arminiya và phục vụ ở đây cho đến khi tử trận vào năm sau.[536]

Năm 733, Marwan ibn Muhammad được thay thế bằng Sa'id ibn Amr al-Harashi (Thống đốc Khurasan).[537] Nhưng đến năm 735, Sa'id ibn Amr al-Harashi bị mù nên buộc phải từ chức và Marwan ibn Muhammad quay trở lại nắm quyền tại Tiểu vương quốc Armenia, đến năm 744 ông thành vị Caliph cuối cùng của Caliphate Umayyad với đế hiệu Marwan II.[538]

Năm 754, Yezid bin Usayd as-Sulami quyết định trao quyền kiểm soát Arminiya cho Hasan ibn Kathwah al-Tayi, ông chuyển qua làm thống đốc Mosul (và dường như của toàn bộ Jazira).[539] Yezid bin Usayd as-Sulami được bổ nhiệm lần thứ hai vào năm 759 và cai trị ở Arminiya khoảng mười năm, rồi trao lại ngôi vị cho Bakkar ibn Muslim al-Uqayli năm 769. Năm 771, Hasan ibn Kathwah al-Tayi quản lý chính sự ở đây lần thứ hai cho đến năm 775, Wadih al-Assabi tiếp nhiệm thời gian ngắn ngủi, sau đó Yezid bin Usayd as-Sulami lại tiếp tục làm việc lần thứ ba từ năm 775.[540]

Năm 759, Hasan ibn Kathwah al-Tayi rời khỏi cương vị thống đốc ở Arminiya, Yezid bin Usayd as-Sulami được điều động trở lại đến năm 771.[541] Sau đó, Hasan ibn Kathwah al-Tayi quay về vị trí này cho đến năm 775.[542]

Năm 786, Khuzayma ibn Khazim ibn Khuzayma al-Tamimi được thay thế bởi Yusuf ibn Raixid as-Sulamí cho đến năm 787 thì Yazid ibn Mazyad al-Shaybani được chỉ định giữ chức thống đốc Arminiya.[543] Sau đó lần lượt Abd al-Kadir al-Addaui rồi Sulayman ibn Yazid làm chủ Tiểu vương quốc Armenia, đến lượt Yazid ibn Mazyad al-Shaybani phục vị hai lần.[544] Yazid ibn Mazyad al-Shaybani chết, con trai Asad ibn Yazid al-Shaybani kế vị được hai năm thì Muhammad ibn Yazid al-Shaybani giành quyền một năm trước khi Khuzayma ibn Khazim ibn Khuzayma al-Tamimi quay trở lại chính trường Arminiya vào năm 803.[545]

Năm 788, sau hai năm cai trị Tiểu vương quốc Armenia, Yazid ibn Mazyad al-Shaybani được phái đến để chiến đấu với một cuộc nổi loạn Kharijite do đồng bọn Shaybanid Al-Walid ibn Tarif al-Shaybani lãnh đạo, Abd al-Kadir al-Addaui tiếp quản công việc ở đây được ba tháng thì đến lượt Sulayman ibn Yazid kế nhiệm đến năm 791 và Fazl ibn Yahya ibn Khalid al-Barmaki đến năm 795[546] Yazid ibn Mazyad al-Shaybani đã thành công trong việc đánh bại và giết chết thủ lĩnh phiến quân trong trận chiến, chấm dứt cuộc nổi dậy.[547] Năm 792, đội trưởng Ba Tư Ata Hashim al-Mukanna, với sự hỗ trợ của gia tộc Armenia và Ba Tư, đã nổi dậy chống lại OstikanBardaaBeilakan, tại ngã ba Araxes với Kura. Cuộc nổi dậy này đã bị Yazid ibn Mazyad al-Shaybani nghiền nát năm 796, đó là giai đoạn ông trở lại làm cầm quyền ở tiểu vương quốc Armenia lần thứ hai từ năm 795 và đánh bại Kharigites của al-Walid khi họ tấn công Akhlat.[548] Yazid ibn Mazyad al-Shaybani được bổ nhiệm lại làm quân chủ Arminiya lần thứ ba vào năm 799, để kịp thời đối mặt với cuộc tấn công Khazar cuối cùng vào các tỉnh Caucian của Caliphate.[549]

Năm 795, Fazl ibn Yahya ibn Khalid al-Barmaki không chống nổi cuộc bạo động của Ata Hashim al-Mukanna phải tháo chạy. Yazid ibn Mazyad al-Shaybani đến nơi nhanh chóng dẹp yên phản loạn vào năm 796, Ahmed ibn Yâzid al-Sulami được cử sang cai trị tiểu vương quốc Armenia, đến năm 798 thì Sa'id ibn Salm al-Bahili lên ngôi.[540] Năm 799 lại xảy ra cuộc tấn công Khazar, Nasr ibn Habib al-Muhsin thừa cơ cơ tiếp quyền nhưng chỉ lít lâu Sa'id ibn Salm al-Bahili đã lật lại được. Tuy nhiên, bởi thế cuộc nhiễu nhương phức tạp nên Yazid ibn Mazyad al-Shaybani một lần nữa được điều động sang dẹp loạn.[550] Sau đó là một loạt các trường hợp thay bậc đổi ngôi như: Assad ibn Yazid al-Shaybani (801 - 802), Muhammad ibn Yazid al-Shaybani (802 - 803), Huzayma bin Hazim al-Tamimi (803-806), Suleyman bin Yacid Al-Amiri (806 - 807), Ayub Ibn Suleyman (807), Yahya ibn Zufar (808), Abdullah bin Mohammed (809), Muhammad ibn Zuhayr al-Dabbi (809), Assad ibn Yazid bin Mazyad (809 - 811) và sự trở lại chóng vánh của Ahmed ibn Yâzid al-Sulami năm 811.[551]

Năm 799, Sa'id ibn Salm al-Bahili mất ngôi bởi Nasr ibn Habib al-Muhsin, nhưng chưa bao lâu ông đã giành lại quyền lực, tuy nhiên việc phục vị này cũng không kéo dài bởi Yazid ibn Mazyad al-Shaybani đã quay về Arminiya ngay sau đó.[552]

Năm 802, Muhammad ibn Yazid al-Shaybani lên ngôi khi người em trai Asad ibn Yazid al-Shaybani từ nhiệm. Năm 810, Asad ibn Yazid al-Shaybani tiếp nhận chức vụ ở Arminiya lần thứ hai, ông đối đầu với một cuộc nổi dậy của những người định cư Ả Rập ở Iberia dưới thời Yahya ibn Sa'idIsmail ibn Shu'ayb.[553] Asad ibn Yazid al-Shaybani đã thành công trong việc dập tắt cuộc nổi dậy và bắt giữ các nhà lãnh đạo phe đối lập, nhưng sau đó ông đã ân xá và thả họ ra, và chính vì điều này lại bị cách chức lần thứ hai, Ishaq ibn Sulayman được điều động sang lấp chỗ trống quyền lực tại đây.[554]

Năm 807, Al-Abbas ibn Zufar al-Hilali vừa lên ngôi đã bị lật đổ bởi Ayyub ibn Suleiman, ông đã khôi phục được ngay quyền lực và trị vì đến năm 808.[555] Thời gian tiếp theo là hàng loạt những trường hợp thanh trừng đẫm máu, lần lượt có: Yahya ibn Zufar (808), Abdullah ibn Mohammed (809), Ubeid (809), Mohammed Ibn Zuhai-Dabbi (809), Asad ibn Yazid al-Shaybani (810), Ahmed ibn Yâzid al-Sulami (811), Ishaq ibn Suleiman al-Hashimi (811-813).[556] Al-Abbas ibn Zufar al-Hilali cũng cố gắng giành lấy ngai vàng lần thứ hai nhưng không giữ được, bởi ông bị Suleiman ibn Ahmed al-Hashimi cướp ngôi.[557]

Năm 813, Suleiman ibn Ahmed al-Hashimi mới chiếm được địa vị từ tay Al-Abbas ibn Zufar al-Hilali thì lại bị Tahir ibn Mohammed al-Sanani đánh bại phải bỏ chạy, nhưng Abu Abdullah đã dẹp yên Tahir ibn Mohammed al-Sanani vào năm 814 trước khi Suleiman ibn Ahmed al-Hashimi quay về phục vị vào cuối năm đó.[558]

Năm 814, sau một thời gian ngắn làm việc tại Arminiya, Khalid ibn Yazid al-Shaybani về kinh phục mệnh, rồi ông bổ nhiệm một thời gian ngắn trong 822 làm thống đốc Ai Cập.[559] Năm 829, Khalid ibn Yazid al-Shaybani quay trở lại Tiểu vương quốc Armenia. Lần cai trị này kết thúc năm 832 đánh dấu bằng sự đàn áp tàn bạo của một số cuộc nổi dậy của các ông trùm Ả Rập địa phương, cũng như sự đối xử khắc nghiệt của dân số Kitô giáo.[560] Kết quả là, khi Khalid ibn Yazid al-Shaybani được tuyên bố đến Arminiya lần thứ ba vào năm 841, một cuộc nổi loạn đã nổ ra, buộc chính phủ Abbasid phải triệu hồi ông ngay lập tức.[561] Tuy nhiên năm 942, al-Wathiq đã giao Arminiya cho Khalid ibn Yazid al-Shaybani lần thứ tư, đợt này ông dẫn đội quân hùng hậu kéo sang, và đè bẹp mọi sự phản đối.[562]

Năm 826, Abd al-Ala ibn Ahmad al-Sulami chưa kịp ổn định ngôi vị thì bị Abd al-Ala ibn Ibrahim lật đổ.[563] Năm 827, Mohammed ibn Humeid tiến hành binh biến cướp chính quyền.[564] Tiếp đó năm 828, Abdullah ibn Tahir tổ chức bạo loạn giành được ngai vàng.[565] Sang năm 829, Abd al-Ala ibn Ahmad al-Sulami tuy phục vị nhưng cũng chỉ ít lâu cũng mất ngôi lần thứ hai bởi Khalid ibn Yazid al-Shaybani.[566]

Năm 841, Khalid ibn Yazid al-Shaybani được phái sang thay cho Ali ibn al-Hussein al-Qaysi Yatim, tuy nhiên do trước đây Khalid ibn Yazid al-Shaybani quá khắc nghiệt với những người công giáo nên họ đã nổi dậy chống đối.[567] Như vậy, Khalid ibn Yazid al-Shaybani buộc phải rút lui, Ali ibn al-Hussein al-Qaysi Yatim trở lại nắm quyền. Nhưng sang đầu năm 842, Khalid ibn Yazid al-Shaybani đưa sang một đội quân hùng hậu đã dẹp yên mọi cuộc chống đối, Ali ibn al-Hussein al-Qaysi Yatim lại từ nhiệm.[568]

Năm 844, Muhammad ibn Khalid ibn Yazid al-Shaybani nối tiếp sự nghiệp của người cha Khalid ibn Yazid al-Shaybani tiếp tục công việc đàn áp các cuộc nổi loạn địa phương khác nhau của các lãnh tụ Hồi giáo và Kitô giáo, năm 846 ông trở về vùng đất tổ tiên của mình ở Diyar Bakr.[569] Muhammad ibn Khalid ibn Yazid al-Shaybani được bổ nhiệm lại Arminiya vào năm 857, sau cuộc đàn áp đẫm máu của một cuộc nổi loạn lớn của người Armenia dưới thời Bugha al-Kabir.[570] Năm 862, ông rời bỏ quyền lực của mình và trở về Ganja, rồi ra ông đã nhận lại chức vụ vào năm 878, khi theo Tovma Artsruni (Thomas Arcruni), ông đã cố gắng thành lập một liên minh với các nhà cai trị Hồi giáo địa phương khác như Kaysites để kiềm chế quyền lực đang lên của Hoàng tử Ashot Bagratuni, nhưng Muhammad ibn Khalid ibn Yazid al-Shaybani đã bị đánh bại và buộc phải chạy trốn khỏi đất nước.[571]

Năm 877, Muhammad al-Yemeni thay Ahmed Isa ben Cheikh al-Shaybani làm thống đốc Arminiya được hơn một năm, sau đó lịch sử chứng kiến sự phục vị ngắn ngủi của Muhammad Ibn Khalid|Muhammad ibn Khalid ibn Yazid al-Shaybani vào năm 878.[572] Kế đến Ishak Ibn Kundadjik tiếp quản công việc, nhưng không rõ chính xác thời gian phục vụ của ông này, chỉ biết rằng sau đó Ahmed Isa ben Cheikh al-Shaybani đã phục hồi và cai trị đến năm 886.[573]

Thời kỳ Yusuf Husep tại nhiệm là giai đoạn lịch sử đầy biến động của Armenia, ông lên ngôi tới 4 lượt.[574] Tuy nhiên sử sách chỉ giữ lại được lần trị vì cuối cùng được thay thế bởi Nasr Subuk năm 924, còn khiếm khuyết chi tiết cụ thể về những lần ông mất ngôi trước vào các năm 900, 903 và 914.[575]

Năm 924, Nasr Subuk vừa giành được quyền lực thì đã bị Bechr chiếm đoạt, tất nhiên ngay năm sau ông đã lấy về những gì mình vừa mất.[576]

Khans Ba Tư[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 1626, Mohammed Kuli-Khan mất quyền kiểm soát vương quốc bởi Daoud Khan.[577] Đến năm 1640, ông mới giành lại ngôi vị của mình.[578]

Từ năm 1781 đến năm 1784, Khans Ba Tư nằm dưới sự chiếm đóng của Vương quốc Karabakh, Ibrahim Khalil Khan được đặt lên cai trị xứ này thay vì Mohammad Hasan Khan đã thất thế.[579] Năm 1784, Hajji Beg Barlas, anh trai của Muhammad Hasan Khan đã nổi dậy chống trả người Karabakh và lấy lại Ganja Khanate.[580] Năm 1786, Hajji Beg Barlas tạ thế và Mohammad Hasan Khan lên ngôi lần thứ hai, tuy nhiên quân Karabakh đã nhanh chóng tràn sang đánh bại, bắt sống rồi cầm tù Mohammad Hasan Khan, cuối cùng họ đã sát hại ông vào năm 1792.[581]

Vương quốc Karabakh[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 1625, Davud-khan cướp được chính quyền từ tay Mohammed Quli Khan.[582] Đến năm 1642, Mohammed Quli Khan đã lật ngược tình thế, khôi phục địa vị của mình.[583]

Năm 1822, Mehdi Quli Khan bị đánh bại bởi sức bành chướng khó cưỡng của đế quốc Nga.[584] Tuy năm 1826 ông có giai đoạn ngắn nổi dậy phục vị, nhưng rốt cục vẫn phải chấp nhận thảm cảnh nước mất nhà tan.[585]

A Trại Bái Cương[sửa | sửa mã nguồn]

Vương triều Girdyaman[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 699, Varaz Tiridat I đánh mất ngôi vị bởi Shiruy, ông phải lưu vong sang Byzantium và sống ở Constantinople trong 5 năm.[586] Năm 704, Varaz Tiridat I phục tịch nhưng chỉ được một năm thì mất, vương triều Girdyaman bị bãi bỏ, kể từ đó hoàn toàn chịu sự thống trị của Ả Rập theo quan điểm thực tế và pháp lý.[587]

Vương quốc Yeni Shamakha[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 1768, Aghazi Khan đánh mất ngôi vị, kẻ chiếm đoạt là Fath Ali Khan (1768-1769).[588] Tiếp đó đến lượt Abd Allah Beg (1769-1770, rồi Ildar Beg (1770-1778) lần lượt giành được quyền thống trị vương quốc Yeni Shamakha, đến năm 1778 Aghazi Khan mới đòi được ngôi báu của mình.[589]

Vương quốc Sheka[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 1795, Mohammad Hassan mất ngôi, nguyên nhân bởi một trong những hành vi đầu tiên của ông là bắt người anh em cùng cha khác mẹ Fatali, chọc mù mắt và quản thúc tại gia.[590] Sở dĩ người này được giới quý tộc Arash Mahal ưa chuộng hơn, điều đó khiến Salim Khan, một người anh em cùng cha khác mẹ chạy trốn đến Djaro-Belokani vào năm 1785, ông này ngấm ngầm xây dựng lực lượng chờ đợi thời cơ đoạt vị.[591] Salim Khan đánh chiếm Shaki Khanate khi Muhammad Hasan tới thăm Agha Mohammad Khan QajarKarabakh vào tháng 11/12/1795, trong khi Salim Khan thua trận gần Goynuk, thì một vụ bắt giữ bất ngờ của Muhammad Hasan bởi Mostaha khan Davalu (một vị tướng dưới thời Agha Muhammad) về tội phản quốc, đã khiến ông ta chiếm lại Shaki Khanate bằng cơ hội này.[592] Muhammad Hasan khan bị Qajars chọc mù mắt và gửi đến Tabriz làm con tin, trong khi đó 7 người con trai chưa đủ tuổi của ông đã bị Salim Khan xử tử.[593][594] Mohammad Hassan đã được khôi phục quyền lực trong cuộc tái chiếm Transcaucasus của Agha Muhammad năm 1797, ông đã phế truất Salim Khan vào ngày 9 tháng 5 năm 1797 với sự giúp đỡ từ Mustafa khan của Shirvan.[595]

Năm 1797, triều đại đầu tiên của Salim Khan kết liễu đột ngột khi diễn ra cuộc viễn chinh từ phía đế quốc Nga trong chiến dịch mới của KavkazAgha Mohammad, sự kiện trên đã buộc ông phải chạy trốn khỏi tổ quốc.[596] Được Mustafa khan của Shirvan hỗ trợ nhiệt tình, Mohammad Hassan trở lại phục bích, tuy vậy triều đại thứ hai của Mohammad Hassan buộc phải chấm dứt khi mối quan hệ của ông ta với Shirvan lại căng thẳng.[592] Trong thời gian đó, Salim Khan không ngừng đấu tranh để giành lại ngai vàng và tìm kiếm sự giúp đỡ của Mustafa khan.[597] Muhammad Hasan đã đầu hàng Must Must khan, người đã tha thứ cho ông ta và phái những kẻ độc ác cai quản Shaki như một phần của Shirvan, trong khi Salim Khan thông báo cho anh trai Fatali về sự phản bội này, người dân địa phương đã tôn Fatali Khan lên ngôi thay vì Muhammad Hasan và Salim Khan bất chấp Shirvan.[598] Salim Khan buộc Fatali Khan phải từ chức một thời gian ngắn vào năm 1805 và đánh bại Mustafa khan với sự hỗ trợ từ Tsitsianov, người đã gửi cho ông 300 binh sĩ, cuối cùng ông đệ trình lên chính quyền Nga vào ngày 2 tháng 6 năm 1805 và sớm được trao tặng cấp bậc trung tướng theo lệnh của Alexander I.[593] Sau đó, ông cũng đã qua trung gian đệ trình của Mustafa khan, buộc ông phải trở thành đối tượng người Nga vào ngày 6 tháng 1 năm 1806, cuộc phục bích này cũng chỉ tồn tại khoảng một năm.[599] Sau vụ giết người của Tsitsianov tại thành phố Baku vào ngày 20 tháng 2 và vụ thảm sát gia đình của Ibrahim Khalil Khan (bao gồm cả chị gái của Salim Khan) bởi người Nga vào ngày 2 tháng 6 năm 1806, Salim Khan đã trục xuất quân đồn trú của Nga khỏi Shaki Khanate vào ngày 24 tháng 6 năm 1806.[600] Tướng Pyotr Nebolsin của Nga đã tấn công vào tháng 11 để trả thù và đánh bại 8000 quân Shaki Khanate mạnh gồm lính đánh thuê Dagestan, ông thất thế buộc phải đào vong sang Ba Tư.[601]

Hãn quốc Baku[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 1791, mối quan hệ vốn căng thẳng giữa Ahmed Khan của Quba và Mirza Muhammad Khan II bùng phát đến mức đỉnh điểm, Muhammadquli Khan (chú của Mirza Muhammad Khan II) đã cố gắng chiếm đoạt khanate bằng cách sử dụng sự thiếu kinh nghiệm của cả Ahmed Khan và Mirza Muhammad, ông ta bảo đảm với Ahmed Khan về lòng trung thành của mình nếu được trao ngôi khanate.[602] Ahmed Khan không chấp nhận, lập tức gửi một đội quân đến thành phố Baku để khuất phục Muhammadquli Khan, vì lực lượng bảo vệ ở Baku chỉ bao gồm khoảng 500 người, Mirza Muhammad Khan II quyết định thoái vị để ủng hộ chú mình.[603] Mirza Muhammad Khan II di chuyển đến Quba, nhưng Muhammadquli Khan đã phản bội các hiệp ước và tuyên bố độc lập, Ahmed khan đáp lại bằng việc huy động quân đội tấn công vào thành phố Baku nhằm khôi phục Mirza Muhammad Khan II.[604] Tuy nhiên, Ahmed khan lại bị Muhammadquli Khan đánh bại nên uất hận qua đời, Shaykhali Khan kế nhiệm, Mirza Muhammad Khan II một lần nữa được giao cho quân đội diễu hành trên đảo Baku, Shaykhali Khan tiếp tục yêu cầu bá tước Ivan Gudovich bao vây thành phố Baku.[605] Muhammadquli Khan nhanh chóng gửi thư đệ trình tới đế chế Nga, yêu cầu giúp đỡ, Gudovich ra lệnh cho đô đốc Pyotr Shishkin đối phó để giải quyết vấn đề vì lợi ích của Nga.[606] Tuy nhiên, lệnh này bị trì hoãn vì không rõ lý do và Baku bị bắn phá, Muhammadquli khan đã làm hòa với Shaykhali Khan và sớm ngã bệnh và qua đời, Mirza Muhammad Khan II nhờ vậy được bổ nhiệm làm Khan một lần nữa vào năm 1792 bởi Shaykhali Khan.[607] Tuy nhiên, các quý tộc thành phố đứng đầu là Selimkhanov đã tuyên bố em họ của Mirza Muhammad Khan II là Huseyngulu Khan là khan mới của họ, ông thua cuộc lại trốn chạy sang Quba.[608] Sau đó, Mirza Muhammad Khan II thực hiện việc bao vây thành phố Baku và buộc Huseyngulu Khan phải chia doanh thu của khanate, Huseyngulu Khan đâu có chịu nên đã bí mật mở một cuộc tấn công ban đêm vào Balakhani với quân tiếp viện từ Shirvan năm 1795 và buộc Mirza Muhammad Khan II phải lánh nạn ở Quba một lần nữa.[609] Chưa dừng lại ở đó, Mirza Muhammad Khan II đã lấy lực lượng từ Shaykhali và định vị trên đường absheron, chặn các tuyến đường thương mại và tiếp tế.[610] Huseyngulu Khan đã gửi Manaf cầu xin Selimkhanov yêu cầu Gudovich giúp đỡ, Mirza Muhammad Khan II bị bắt trong cuộc phục kích của quân đội Nga.[611] Chẳng bao lâu nhờ sự giúp đỡ của Mostaha Khan, anh em họ đã làm hòa và Mirza Muhammad Khan II quay trở lại Quba, trong khi vẫn giữ được thu nhập của mình từ các mỏ dầu ở Baku.[612] Khi nghe tin Huseyngulu Khan đã bị Agha Mohammad Khan Qajar bắt giữ tại Karabakh vào năm 1797, Mirza Muhammad Khan II vội vã chiếm lấy thành phố Baku để lên ngôi lần thứ ba.[613] Tuy nhiên, vụ ám sát Agha Mohammad Khan Qajar và sự xuất hiện nhanh chóng của Huseyngulu khan đã phá hỏng kế hoạch của ông.[614] Sau một hiệp ước mới, Mirza Muhammad Khan II định vị mình ở Mashtaga, đóng vai trò là phó khan.[615] Năm 1803, ông lại bị Huseyngulu Khan tấn công một lần nữa ở Mashtaga, lần này với sự giúp đỡ của Mostafa khan, Mirza Muhammad Khan II trốn đến Quba và bắt đầu tìm cách tập hợp quân đội.[616] Ông gia nhập quân đội của tướng Nga Sergei Bulgakov vào tháng 7 năm 1806, họ cùng nhau đánh bại Huseyngulu Khan vào ngày 6 tháng 10 năm 1806.[617]

Năm 1797, Huseyngulu Khan bị bắt giữ bởi Agha Mohammad Khan Qajar, Mirza Muhammad Khan II thừa cơ trở lại phục bích.[618] Ít lâu sau, Agha Mohammad Khan Qajar bất ngờ bị ám sát, Huseyngulu Khan tận dụng tình huống này trốn thoát khỏi nhà tù, ông quay lại đánh bật Mirza Muhammad Khan II khỏi Baku.[619] Sau đó hai bên ký hiệp ước phân chia quyền lực, Mirza Muhammad Khan II làm phó khan, đồn trú tại Mashtaga.[620] Những năm sau đó, Mirza Muhammad Khan II và Huseyngulu Khan thường xuyên xung đột với nhau, kết quả cuối cùng Mirza Muhammad Khan II được đế quốc Nga chống lưng đã giành thắng lợi quyết định vào năm 1806, Baku Khanate chấm dứt sự tồn tại, sát nhập vào lãnh thổ của Nga Hoàng.[621]

Vương quốc Urmia[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 1755, Muhammad Hasan Khan Qajar đánh chiếm Urmia, người ủng hộ đối thủ Azad Khan Afghanistan, Fatali Khan Afshar Arashlu tháo chạy đến Tabriz.[622] Năm 1756, Azad Khan Afghanistan đã lợi dụng Muhammad Hasan Khan Qajar bị từ chối trong cuộc bao vây Xiraz của họ để lấy IsfahanUrmia và truy đuổi Muhammad Hasan Khan Qajar rút lui vào bờ biển Caspi, Fatali Khan Afshar Arashlu nhờ đó phục bích.[623] Nhưng trong một cuộc tấn công bất ngờ vào Rasht vào mùa đông 1756-1757, Muhammad Hasan Khan Qajar đã đánh bại Azad Khan Afghanistan và sau đó trục xuất ông ta khỏi Azerbaijan.[624] Muhammad Hasan Khan Qajar lần đầu tiên chiếm đóng Tabriz và sau trận chiến đẫm máu vào tháng 6 năm 1757, Fatali Khan Afshar Arashlu của Urmia đã không thể giữ nổi đất nước, Muhammad Hasan Khan Qajar tái chiếm Urmia, Fatali Khan Afshar Arashlu và Azad Khan Afghanistan chạy trốn cùng với những người theo ông đến Baghdad.[625]

Muhammad Hasan Khan Qajar

Năm 1756, Muhammad Hasan Khan Qajar bị trục xuất khỏi vương quốc Urmia bởi Azad Khan Afghanistan và Fatali Khan Afshar Arashlu.[626] Nhưng chỉ một năm sau, ông đã lấy lại vị thế khi mở cuộc tập công táo bạo khiến các đối thủ không kịp phòng bị, họ đều phải bỏ chạy đến Baghdad.[627]

Năm 1795, Qasim Khan Afshar Kasimlu đoạt được quyền lực trong tay Muhammad Quli Khan Afshar Kasimlu.[628] Năm 1796, Mustafa Quli Khan Afshar Kasimlu đánh đổ Qasim Khan Afshar Kasimlu để bước lên ngôi báu.[629] Năm 1797, Muhammad Quli Khan Afshar Kasimlu trở lại ngai vàng, nhưng cũng ngay trong năm đó ông đã để mất vị thế bởi Hussein Khan Gulu Afshar Kasimlu với khuynh hướng thân Ba Tư, vương quốc Urmia từ đây trở thành chư hầu của đế quốc Ba Tư cho đến khi bị diệt vong hoàn toàn vào năm 1865.[630]

Vương quốc Karadagh[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 1782, Mustafakuli khan chuẩn bị cho một cuộc tấn công vào Khanate Karabakh, nhưng người cai trị Karabakh đã có được thông tin tình báo nên chủ động tiến đánh trước.[631] Khan Ibrahim Khalil của Khanate Karabakh tổ chức tập kích bất ngờ Vương quốc Karadagh bằng quân đội của mình và quân đoàn Dagestan, họ tàn phá thủ đô mới là Gurşt, các cư dân chạy trốn tán loạn, Mustafakuli khan bị bắt, chịu cảnh giam cầm trong pháo đài Shusha.[632] Trong thời gian Mustafakuli Khan không có trong nước, con trai của ông là Ismail Khan đã trở thành người cai trị mới của Karadakh, nhưng chỉ một năm sau Necef Kulu Khan (em ruột Mustafakuli Khan) đã giành được quyền lực từ tay Ismail Khan.[633] Mustafakuli khan yêu cầu Khan Ibrahim Khalil phế truất Necef Kulu Khan, Khan Ibrahim Khalil đã lừa bắt được ông ta, đem về nhốt ở Şuşa vào năm 1786.[634] Cùng lúc đó, Mustafakuli Khan được ân xá và một lần nữa cai trị Karadagh, tuy nhiên với điều kiện con trai ông Ismail khan bị giữ làm con tin tại Khanate Karabakh.[635]

Năm 1782, Ismail khan từ chối nộp thuế, Khan Ibrahim Khalil lập tức gửi một đội quân hùng hậu đến áp đảo và yêu cầu các khoản thuế mà ông phải trả, do ông không chịu nên đã bị hạ bệ vào năm 1783, Necef Kulu Khan là người thế chỗ.[636] Năm 1786, cha của Ismail Khan đã được trao một bản cam kết của Aghamuhammed Shah Govanli-Qajar, theo đó ông phải sang Khanate Karabakh làm con tin để đổi lấy việc phục bích của cha mình.[637] Năm 1791, Mustafakuli khan qua đời, Ismail khan được phóng thích hồi hương, nhờ vậy ông đăng cơ lần thứ hai.[638]

Cách Lỗ Cát Á[sửa | sửa mã nguồn]

Công quốc Iberia[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 772, Nerse được Caliph Abu Ja'far Abdallah ibn Muhammad Al-Mansur triệu tập đến Baghdad và bị tống vào tù.[639] Năm 775, Abu Abdallah Muhammad ibn Abdallah al-Mansur lên ngôi Caliph, đã quyết định thả Nerse về nước.[640]

Đế quốc Gruzia[sửa | sửa mã nguồn]
Demetrius I

Năm 1154, lo sợ rằng vua cha Demetrius I sẽ biến đứa con trai nhỏ của mình là George III trở thành người thừa kế ngai vàng, David V đã cố gắng nổi dậy phản đối.[641] Cuối cùng, ông ta đã giành chiến thắng, buộc cha mình phải thoái vị và David V trở thành vua, Demetrius I bị ép trở thành một tu sĩ với cái tên Damian (Damianus).[642] David V cai trị trong sáu tháng và bị sát hại bởi các quý tộc thân cận nhất là: SumbatIvane Orbeli, những người đã thực hiện một thỏa thuận bí mật với George III, em trai của David V.[643] Demetrius I quay trở lại làm vua vào năm 1155, tuy nhiên ông ốm chết chỉ một năm sau đó, George III lên ngôi kế nghiệp.[407]

Năm 1299, Mahmud Ghazan của Ilkhanate tuyên bố phế truất David VIII, đồng thời bổ nhiệm em trai của ông là Giorgi V làm vua Gruzia.[644] Việc này phải nói từ năm 1295, lúc đó David VIII đã ủng hộ Baidu Khan trong một cuộc xung đột nội bộ ở Ilkhanate, nhưng Baidu Khan đã bị giết và Mahmud Ghazan trở thành Khan mới tại đây.[645] Mahmud Ghazan ra lệnh cho nhà vua Gruzia phải đến thủ đô Tabriz, nhớ về số phận của cha mình ngày trước là Demetrius II từng bị chặt đầu tại Movakan, David VIII từ chối tuân thủ và bắt đầu chuẩn bị cho chiến tranh.[646] Mahmud Ghazan đã đáp trả bằng một cuộc trừng phạt, quân Ilkhanate tràn sang tàn phá đất nước Gruzia, được hỗ trợ bởi người Mông Cổ, người Ossetes tấn công tỉnh Shida Kartli và chiếm hẻm núi sông Liakhvi.[647] David VIII cố thủ trong núi Mtiuleti và đánh bại một lực lượng Mông Cổ lớn trong một đội du kích tuyệt vọng chiến đấu tại Tsikare, trong lúc đó người Mông Cổ lập Giorgi V lên ngôi tại thủ đô, còn David VIII vẫn tiếp tục cuộc trường kỳ kháng chiến của mình.[648] Mặc dù được hỗ trợ bởi lực lượng Mông Cổ, sức mạnh của Giorgi V cũng không thể mở rộng ra khỏi thủ đô của Gruzia nên Mahmud Ghazan đã thay thế ông ta bằng một người anh em khác, Vakhtang III, vào năm 1302.[649] Nhà vua mới lãnh đạo một đội quân Mông Cổ chống lại David VIII, nhưng vẫn xâm nhập được sâu vào các tỉnh miền núi phần lớn do phiến quân nắm giữ, sau nhiều năm chiến tranh dai dẳng, kết quả một thỏa thuận ngừng bắn đã được đàm phán.[650] Năm 1307, David VIII được công nhận là có chủ quyền chung với anh trai Vakhtang III và nhận được phong chức công tước Alastani ở tỉnh miền nam Javakheti, cho đến năm 1308 khi Vakhtang III chết, David VIII chính thức phục bích trở thành vị vua duy nhất tại Gruzia.[651]

Năm 1302, George V the Brilliant bị Mahmud Ghazan phế truất bởi năng lực làm việc kém cỏi, người lên thay thế là Vakhtang III.[652] Mặc dù được sự hậu thuẫn của quân Mông Cổ, nhưng Vakhtang III cũng không hơn gì trong cuộc chiến đấu với David VIII, kết quả họ ký hòa ước chấp nhận đồng cai trị vào năm 1307.[653] Năm 1308, Vakhtang III chết, David VIII một mình thống trị Gruzia cho đến lúc băng hà vào năm 1311, con trai là George VI tiếp nhiệm.[654] George V the Brilliant trở thành nhiếp chính cho cháu mình, bởi cả hai người anh trai đều không còn trên thế gian, và đến năm 1314 cũng qua đời không rõ nguyên nhân, ông nghiễm nhiên đăng cơ lần thứ hai một cách hợp tình hợp lý.[655]

Vào cuối mùa thu năm 1386, một đội quân khổng lồ của Timur đã tấn công Georgia, Tbilisi bị bao vây và chiếm ngày 22 tháng 11 sau một cuộc chiến khốc liệt, Bagrat V đại đế cùng gia đình ông bị cầm tù.[656] Lợi dụng thảm họa này, công tước chư hầu hoàng gia Alexander I xứ Imereti tuyên bố mình là một người cai trị độc lập, ông ta lên ngôi vua Imereti tại Tu viện Gelati năm 1387.[657] Để đảm bảo việc phục tịch của mình, Bagrat V đại đế quyết định chấp nhận chuyển đổi từ Cơ đốc giáo chính thống và trở thành người Hồi giáo, Timur đồng ý giải thoát Bagrat V đại đế và đưa ông cùng với quân đội 20.000 người Mông Cổ trở về Georgia.[658] Tuy nhiên, với sự trợ giúp bí mật từ George VII, con trai ông, George VII đã tiêu diệt hoàn toàn một đội quân Mông Cổ, qua đó giải thoát nhà vua.[659] Bagrat V đại đế tổ chức lực lượng chống phá Alexander I, tuy Alexander I đã thành công trong việc chiếm giữ một số pháo đài ở Imereti, nhưng Kutaisi vẫn nằm ngoài tầm kiểm soát của ông ta.[660] Năm 1389, Alexander I qua đời, anh trai là George I kế tục sự nghiệp.[661] Không giống như người tiền nhiệm, George I ban đầu thích nhiều thành công hơn trong việc củng cố quyền lực của mình đối với Imereti, nhiều pháo đài đã bị tịch thu từ những người trung thành của Bagrat V đại đế và người được bảo hộ của ông này.[662] Năm 1392, George I lãnh đạo quân đội của mình để khuất phục Vameq I Dadiani (Công tước xứ Mingrelia), nhưng ông này đã phải chịu thất bại nặng nề và bị giết chết chiến trường.[663] Bagrat V đại đế nhân cơ hội trung hưng cơ nghiệp, tung quân ồ ạt chiếm đóng Imereti, tái hợp nó với Vương quốc Georgia, tuy nhiên chỉ một năm sau thì ông mất.[664]

Vương quốc Karthli[sửa | sửa mã nguồn]
Simon I đại đế

Năm 1569, Simon I đại đế bị người Ba Tư bắt giữ và mất 9 năm giam cầm, suốt thời gian cầm quyền lần thứ nhất của mình, ông luôn phải chiến đấu chống lại đế quốc Ba Tư hùng hậu.[665] Simon I đại đế lên ngôi sau sự kiện tử trận của cha mình, Luarsab I trong trận Garisi, ông có một nơi cư trú ở Gori, từ đó ông cai trị các vùng lãnh thổ bị chiếm lại từ những kẻ xâm lăng.[666] Năm 1559, ông đã liên minh với một chủ quyền khác ở Gruzia, Levan I của Kakheti, và cưới cô con gái Nestan-Darejan.[667] Bắt đầu từ năm 1560, Simon I đại đế đã phát động một loạt các trận chiến để phục hồi thành phố Tbilisi, nhưng vào tháng 4 năm 1561 ông đã phải chịu thất bại tại trận Tsikhedidi, khiến anh rể và đồng minh, Hoàng tử Giorgi của Kakheti phải trả giá bằng mạng sống.[668] Anh trai của ông, David XI đã đệ trình lên hoàng đế Ba Tư Tahmasp I, chuyển đổi sang đạo Hồi và trở về với một đội quân Ba Tư để giành lấy vương miện vào năm 1562.[669] Simon I đại đế đã phong tỏa thành phố Tbilisi và giành chiến thắng trong các trận chiến tại Dighomi (1567) và Samadlo (1569), nhưng cuối cùng ông đã bị đánh bại và bắt làm tù binh tại P'artskhisi vào năm 1569.[670] David XI lúc đó mới chính thức lên ngôi, được gọi là Daud Khan, còn Simon I đại đế được gửi đến Ba Tư, ông từ chối chuyển sang đạo Hồi và bị giam cầm tại pháo đài của thành phố Alamut.[671] Năm 1578, nền hòa bình giữa vương triều Ba Tư Safavid và đế quốc Ottoman sụp đổ, quân đội Thổ Nhĩ Kỳ do Lala Mustafa Pasha chỉ huy chiếm phần lớn Georgia và đánh bật Daud Khan.[672] Vua Safavid đương nhiệm Mohammad Khodabanda muốn có một người cai trị bù nhìn ở Kartli, nơi phổ biến trong dân chúng địa phương, do đông ta ra lệnh cho Simon I đại đế được ra tù và tặng ông vương miện Kartli theo yêu cầu rằng ông sẽ chuyển sang đạo Hồi.[673] Sau 9 năm bị giam cầm, quyết tâm của Simon I đại đế bị suy yếu, ông chấp nhận yêu cầu của nhà vua Safavid, và để xâm chiếm thành phố Tbilisi, ông đã nhận được đại bác và 5.000 binh sĩ Qizilbash do tướng Ali-Qoli Khan chỉ huy.[674] Simon I đại đế đã lãnh đạo một cuộc chiến tranh du kích thành công chống lại người Thổ Nhĩ Kỳ, đã phục hồi hầu hết Kartli vào năm 1579 và đưa một cuộc bao vây đến Tbilisi, địa vị của ông được củng cố vững chắc.[675] Trong thời gian từ 1556 đến 1569, ông được biết đến với cái tên Mahmud Khan, và từ 1578 đến 1599 với tên Shahnavaz Khan.[676]

Nazar Alī Khān

Năm 1688, để được Hoàng đế Ba Tư công nhận là vua của Karthli, Heraclius I của Kakheti đã kiếm cớ gây thiệt hại cho George XI của Karthli, anh trai của Artchil I, sau đó cảm thấy vẫn chưa an toàn, ông chấp nhận chính thức lần này theo đạo Hồi với danh hiệu Nazar Alī Khān.[677] Nhưng Nazar Alī Khān lại có một ý tưởng khá mơ hồ về các quy tắc chính trị và cách cư xử của người Gruzia, và ông nhanh chóng xa lánh các quý tộc, những người đánh giá cao mong muốn thay đổi các quy tắc cổ xưa.[678] Về phần mình, George XI của Karthli nhận thấy rõ rệt vấn đề, đã nhanh chóng trở lại để tranh thủ sự ủng hộ từ Hoàng đế Ba Tư, như vậy ông ta đoạt được danh hiệu vua Georgia từ năm 1692 đến 1695.[679] Năm 1695, Nazar Alī Khān lấy lại địa vị của mình, nhưng đến năm 1703 Hoàng đế Ba Tư Soltan Hossein quyết định trả lại danh hiệu vua Karthli cho George XI nhưng không cho phép ông ta quay trở lại vương quốc của mình, mà giao cho một đội quân chống lại cuộc nổi dậy của người Afghanistan, anh trai Levan của Karthli mới là người cai trị trực tiếp.[680] Để đền bù, Heraclius I cũng được công nhận lại ngai vàng của Kakheti, nhưng ông cũng không được phép trở về đất nước, quyền hành thực sự do con trai cả David Imam Quli Khān nắm giữ.[681]

Shah-Nawaz-Khan III

Năm 1688, Shah-Nawaz-Khan III đứng đầu một cuộc đảo chính chống lại một thống đốc Ba Tư của vùng Kakheti láng giềng của Gruzia, ông đã cố gắng, mặc dù vô ích để có được sự ủng hộ của đế quốc Ottoman chống lại sự thống trị của Safavid.[682] Để đáp trả, Soleiman I đem quân tấn công Gruzia, phế truất Shah-Nawaz-Khan III và trao vương miện của cho quân chủ KakhetianHeraclius I, đối thủ của Shah-Nawaz-Khan III, người sau đó đã theo đạo Hồi và lấy tên Nazar-Ali Khan.[683] Shah-Nawaz-Khan III chạy trốn đến Racha ở phía tây Georgia, từ đó ông thực hiện một số nỗ lực để đòi lại quyền sở hữu của mình.[684] Shah-Nawaz-Khan III kết hợp với anh trai Artchil I của Imeretia, người cố gắng áp đặt mình vào Imeretia, sau đó ông đệ trình Soleiman I, người không hài lòng với Heraclius I của Kakheti, và được hoàng đế Ba Tư bổ nhiệm lại làm vua Georgia từ 1692 đến 1695.[685] Được anh trai Levan giúp đỡ, vào năm 1700 đã tái lập chủ quyền của shah ở Kerman, như một phần thưởng, Shah-Nawaz-Khan III đã được khôi phục lại ngai vàng Kartli vào năm 1703, nhưng không được phép trở lại đất nước của mình, danh nghĩa ông là vua nhưng cai trị thực tế do Levan giữ vai trò nhiếp chính.[686] Thay vào đó, George XI sớm được giao nhiệm vụ đàn áp cuộc nổi loạn Afghanistan vào tháng 5 năm 1704, ông được Shah trao danh hiệu Gurgin Khan và được bổ nhiệm làm phó vương của tỉnh Kandahar và sipah salar (tổng tư lệnh) của quân đội Ba Tư.[687]

Vakhtang VI

Năm 1711, sau cái chết của anh trai Kai-Khosrov I, Vakhtang VI chính thức lên làm vua tại Karthli, mặc dù trước đó quyền lực thực sự ông vẫn nắm giữ ngay từ năm 1703.[688] Năm 1712, Hoàng đế Ba Tư Soltan Hosayn triệu tập Vakhtang VI sang để xác nhận ngôi vị chính thống của ông với điều kiện Vakhtang VI ông phải theo đạo Hồi, Vakhtang VI đã từ chối thành ra bị cầm tù.[689] Ở trong nước, Svimon (người anh em khác mẹ với Vakhtang VI) lên làm nhiếp chính, đến năm 1714 Svimon trao lại ngai vàng cho Ali Quli-Khan.[690] Năm 1716, Vakhtang VI chấp nhận theo đạo Hồi nên được công nhận làm vua Karthli, việc này khiến Ali Quli-Khan buộc phải từ bỏ ngai vàng.[691] Nhưng Vakhtang VI vẫn phải ở lại chưa thể về nước, ông được bổ nhiệm chức vụ sipah-salar (tổng tư lệnh) của quân đội Ba Tư, trên danh nghĩa thì là vua Karthli nhưng thực tế quyền điều hành đất nước lại do con trai Bakar I làm nhiếp chính.[692] Cho đến năm 1719, sau ba năm phục vụ quân ngũ, Vakhtang VI mới chính thức được phóng thích, ông quay về Karthli để làm vua lần thứ hai.[693]

Năm 1716, Ali Quli-Khan được thay thế bởi Vakhtang VI, ông trốn đến Telavi rồi Kakheti, nhưng cuối cùng đã đầu hàng con trai của Vakhtang VI là Bakar I (nhiếp chính của Kartli).[694] Khi lên ngôi, Ali Quli-Khan đã liên minh với một nhà cai trị Gruzia khác là David II của Kakheti (Imamquli-Khan), mục đích để đẩy lùi các cuộc tấn công từ các gia tộc Dagestan đang tàn phá nhưng vị trí của chính ông, vị trí bị phá vỡ bởi một phe đối lập cao quý.[695] Ali Quli-Khan tỏ ra bất tài và nghiện rượu, không thể duy trì trật tự trong đất nước của mình, do đó ông bị Quốc vương Husayn của đế quốc Ba Tư loại trừ, nhường chỗ cho Vakhtang VI.[696] Ali Quli-Khan bị bắt giam tại Tbilisi, nơi ông trở lại Kitô giáo, năm 1721 ông được Mukhrani cấp quyền sở hữu và bổ nhiệm làm mdivanbeg của Karthli.

Bakar I

Khi Constantine II của Kakheti (Mahmad Quli-Khan) di chuyển cùng với một đội quân Ba Tư để loại bỏ Vakhtang VI khỏi ngôi vào năm 1723, Ali Quli-Khan trốn sang quân đội đế quốc Ottoman, ông tiếp cận để trở thành người Hồi giáo Sunni và được phục hồi làm vua Karthli dưới tên Mustapha Pasha năm 1724.[697] Tuy nhiên, quyền lực của ông chủ yếu là danh nghĩa và chính phủ thực sự được điều hành bởi một viên chỉ huy Thổ Nhĩ Kỳ, đến năm 1727 đế quốc Ottoman quyết định bãi bỏ vương quốc Kartli khi ông qua đời, áp đặt chính quyền trực tiếp của họ.[698]

Năm 1719, Bakar I trả lại ngôi vị cho cha sau ba năm nhiếp chính, Vakhtang VI từ Ba Tư về nước phục bích.[699] Năm 1723, khi quân đội Ottoman xâm chiếm Georgia, Vakhtang VI thua liểng xiểng phải bỏ chạy đến đế quốc Nga lưu vong.[700] Bakar I lên chấp chính, ông đã cố gắng thương lượng với đối thủ, nhưng cuối cùng không thành công, ông đã theo gót cha mình sang Nga vào tháng 7 năm 1724.[701]

Vương quốc Kakheti[sửa | sửa mã nguồn]
Alexander II

Năm 1601, Alexander II bị chính con trai mình, David I lật nhào, David I tận dụng căn bệnh của cha mình và giành được quyền kiểm soát hiệu quả của chính phủ, gạt người em trai George sang một bên.[702] Khi Alexander II bình phục, David I từ chối trao trả quyền lực và buộc cha mình phải thoái vị rồi vào tu viên ở vào tháng 10 năm đó, David I lên ngôi vua của Kakheti.[703] Tuy nhiên anh trai George đã chủ mưu một âm mưu nhanh chóng sụp đổ và dẫn đến đàn áp, David I đã bị George cầm tù trong khi mười bảy người ủng hộ ông ta bị xử tử vào ngày 2 tháng 10 năm 1602, Alexander II đã có thể nối lại ngai vàng.[704]

Temuraz I

Năm 1614, Temuraz I mất ngôi vua bởi sự xâm lược từ đế quốc Ba Tư, khi lưu vong ở Imereti, ông đã cùng với George III của Imereti gửi thư cho Sa hoàng Michael của Nga, thông báo cho về sự phản đối của họ đối với shah Iran và yêu cầu viện trợ.[705] Tuy nhiên, người Nga đã không chuẩn bị và không có ý định can thiệp vào các vấn đề của Kakheti, các quý tộc Kakheti tập hợp lại phía sau David Jandieri và nổi dậy chống lại đế quốc Ba Tư vào ngày 15 tháng 9 năm 1615.[706] Cuộc nổi loạn nhanh chóng lan sang Kartli, và các quý tộc Gruzia đề nghị Teimuraz I làm vua của miền đông Georgia, nhưng Shāh Abbās Đại đế của Ba Tư dẫn đầu cuộc xâm lược tiếp theo vào năm 1616, cuộc nổi dậy đã bị hủy diệt và Teimuraz I một lần nữa chạy trốn đến miền tây Georgia.[707] Trong những năm tiếp theo, Teimuraz I tiếp tục tìm kiếm và khai thác viện trợ của Nga và Ottoman chống lại Ba Tư và vẫn là một điểm tập hợp để phản đối Safavid, khuyến khích các đối tượng của mình từ chối người thay thế Hồi giáo cho ông.[708] Đồng minh Gruzia trước đây của người Ba Tư là Giorgi Saakadze đã tham gia cuộc nổi dậy của Teimuraz I, nhờ đó đã dẫn dắt Gruzia đến một chiến thắng trước quân đội Ba Tư do tướng Qarachaqay Khan lãnh đạo trong trận Martqopi vào ngày 25 tháng 3 năm 1625.[709] Giorgi Saakadze tiếp tục tiêu diệt những người di cư Thổ Nhĩ Kỳ, tiếp đó phục hồi Teimuraz I làm vua của vương quốc liên hiếp Kartli và Kakheti, Shāh Abbās Đại đế thất bại trong việc đè bẹp cuộc nổi dậy mặc dù chiến thắng đắt giá trước người Gruzia trong trận Marabda vào ngày 1 tháng 7 năm 1625.[710] Đối mặt với sự kháng cự của du kích ở vùng cao nguyên Georgia, Hoàng đế Ba Tư đành miễn cưỡng công nhận quyền cai trị của vua nổi loạn, như vậy Temuraz I lên ngôi lần thứ ba.[711] Năm 1633, Temuraz I đã che chở cho anh rể Daud Khan (thống đốc Ba Tư của Ganja và Karabakh của người Gruzia), người đã trốn khỏi cuộc đàn áp của Sam Mirza đối với gia đình của anh trai ông Imam-Quli Khan, thống đốc có ảnh hưởng của Fars, Lar và Bahrain.[712] Teimuraz I từ chối đầu hàng kẻ chạy trốn, và hoàn toàn đánh giá cao hậu quả của sự từ chối này, ông đã tập hợp lực lượng của mình trong sự vội vàng. Sam Mirza trả đũa bằng cách tuyên bố Teimuraz I bị phế truất và thay thế ông bằng người yêu thích của mình, một hoàng tử Gruzia có tên Khusraw Mirza (Rostom), người đóng vai trò quan trọng trong việc củng cố quyền lực của Sam Mirza sau cái chết của Shāh Abbās Đại đế năm 1629.[713] Teimuraz I trốn thoát sang Imereti và ở đó đến năm 1636, thông qua hòa giải của Rostom, Teimuraz I đã được ân xá và được xác nhận là vua của Kakheti bởi Sam Mirza, đó là lần làm vua thứ tư của ông.[714]

Heraclius I

Năm 1675, Heraclius I nhận được từ Hoàng đế Ba Tư công nhận quyền của mình đối với Kakheti và thay thế Artchil I, người trong lúc đó kết hôn với em gái của mình là Công chúa Khetevan để cố gắng hợp pháp hóa việc gia nhập ngai vàng Kakheti.[715] Tuy nhiên, Heraclius I từ chối chấp nhận Hồi giáo, ông bị trục xuất khỏi Kakheti vào năm sau, chính quyền của đất nước sau đó được giao phó cho các nhà lãnh đạo từ Ba Tư phái đến.[716] Tiếp đó Heraclius I chuyển sang Karthli, hai lần tranh ngôi tại đây với George XI, danh hiệu là Nazar Alī Khān (1688-1692)(1695-1703). Năm 1703, Hoàng đế Ba Tư Soltan Hossein quyết định trả ngôi vua Karthli cho George XI nhưng lại giao cho ông ta một đội quân chống lại cuộc nổi dậy của người Afghanistan, anh trai Levan của Karthli mới là người cai trị trực tiếp xứ đó.[717] Heraclius I cũng được công nhận lại ngai vàng của Kakheti, nhưng ông cũng không được phép trở về đất nước, quyền hành thực sự do con trai cả David Imam Quli Khān nắm giữ.[718]

Vương quốc Imereti[sửa | sửa mã nguồn]
Alexander II

Năm 1478, Bagrat II qua đời, con trai Alexander II trở thành vua Georgia, ban đầu cai trị cả hai vùng là: Imericia ở phía tây và Karthli ở phía đông.[719] Nhưng ngay trong năm đó, Alexander II bị trục xuất khỏi vương quốc bởi một đối thủ đáng gờm, Constantine II.[720] Alexander II đành lui về miền sơn cước, gây dựng lực lượng tại các tỉnh miền núi phía tây của RachaLechkhumi chờ thời cơ và phục hồi.[721] Năm 1483, Constantine II bị đánh bại bởi Qvarqvare II của Samtskhe trong trận chiến Aradeti, Alexander II tranh thủ tình hình đã đem binh xâm nhập và định cư tại Imereti, ông tuyên bố phục vị nhưng lại đánh mất Kutaisi với Constantine II vào năm 1484.[722] Năm 1488, Alexander II lại được hưởng lợi bởi cuộc xâm lược từ phía Turkmen Ak Koyunlu của Karthli, ông lập tức nhảy lên nắm quyền kiểm soát Imereti lần thứ ba.[723] Năm 1491, sau nhiều năm giằng co quyết liệt bất phân thắng bại, Constantine II buộc phải công nhận đối thủ của mình là một chủ quyền độc lập, và mệnh lệnh của ông ta chỉ giới hạn ở Karthli.[724]

Năm 1588, Rostom được đưa lên ngai vàng thông qua sự hỗ trợ của Mamia IV Dadiani (quân chủ của Mingrelia), người đã phế truất vua Leon của Imereti.[725] Tuy nhiên, chính quyền của Rostom đã bị từ chối bởi Giorgi II Gurieli (quân chủ của Guria), người đã thuê một lực lượng Ottoman để truất ngôi nhà vua và ủng hộ Bagom IV, người họ hàng của Rostom.[726] Rostom chạy trốn đến Mingrelia, từ đó ông tiếp tục đấu tranh cho vương miện, lợi dụng tình hình này, Simon I của Karthli kéo quân xâm nhập và đưa phần lớn Imereti dưới quyền kiểm soát của ông ta.[727] Rostom được Manuchar I Dadiani hỗ trợ, ông thẳng thừng từ chối tối hậu thư của Simon I, ông đã đánh bại Simon I tại Opshkviti và hất cẳng ông này khỏi Imereti năm 1590.[728] Rostom tuy phục hồi làm vua của Imereti, ông làm hòa với Simon I, nhưng quyền lực của ông chỉ có trên danh nghĩa, nó được nắm giữ một cách hiệu quả bởi một élite quý tộc, đặc biệt là hoàng tử Mingrelia.[729]

Năm 1660, Bagrat V đã trở thành quân chủ Imereti sau cái chết của cha mình, người mẹ kế có ảnh hưởng của ông là Darejan đã bắt ông cưới cô cháu gái Ketevan.[730] Tuy nhiên, chỉ ít lâu sau, Darejan lại yêu cầu Bagrat V phải bỏ vợ để cưới bà ta, trước sự từ chối của nhà vua, Darejan đã bắt giữ rồi phế truất ông.[731] Sau đó, Darejan tái hôn với một quý tộc tầm thường là Vakhtang Tchutchunashvili, và ông này được đưa lên ngôi vua.[732] Động thái đó đã thu hút nhiều quý tộc vào phe đối lập, họ tranh thủ sự ủng hộ của đế quốc Ottoman và Mingrelian, kết quả họ khôi phục Bagrat vào năm 1661, còn Darejan và Vakhtang Tchutchunashvili bị đày đến Akhaltsikhe (thuộc tỉnh Gruzia) nằm trong cương vực Thổ Nhĩ Kỳ.[733] Việc phục bích của Bagrat V lần thứ nhất lại quá ngắn ngủi, chỉ được khoảng nửa năm thì có biến, Vakhtang V của Karthli tổ chức hành quân đến Imereti, đánh bại ông để đưa con trai của mình là Archil lên thay thế.[734] Hành động này đã gặp phải sự phản ứng mạnh mẽ từ chính phủ Ottoman, những gì mà họ coi là một vụ đột nhập lấy cảm hứng từ Ba Tư vào vùng ảnh hưởng của Thổ Nhĩ Kỳ, một tối hậu thư của Thổ Nhĩ Kỳ đã sớm nhận được ở Isfahan.[735] Người Ottoman đe dọa tuyên bố chiến tranh nếu Vakhtang V vẫn cố tình duy trì con trai mình trên ngai vàng miền tây Georgia, Vakhtang V đã buộc phải triệu hồi Archil từ Kutaisi về nước vào năm 1663 và khôi phục lại vị vua chính nghĩa Bagrat V.[711] Năm 1668, Bagrat V một lần nữa bị nhóm của Darejan truất ngôi với sự hỗ trợ quân sự của pasha of Akhaltsikhe, Vakhtang Tchutchunashvili trở thành vua Imereti lần thứ hai.[716] Tuy nhiên, cả Darejan và Vakhtang Tchutchunashvili đã sớm bị sát hại, và Bagrat V đòi lại vương miện vào năm 1669.[736] Những sự kiện này đã được mật thám của hoàng gia ở Tbilisi, miền đông Georgia theo dõi chặt chẽ, vua Vakhtang V của Karthli, người hợp tác với các bá chủ Ba Tư cho phép ông ta đưa toàn bộ miền đông Georgia dưới quyền của mình, vận động ở Imereti và trao vương miện cho con trai Archil làm vua Imereti năm 1678.[737] Tuy nhiên, dưới áp lực của đế quốc Ottoman, sớm nhớ lại tối hậu thư lần trước từ Kutaisi, và Bagrat V đã được phục bích trên ngai vàng một lần nữa vào năm 1679.[738]

Năm 1660, Vakhtang Tchutchunashvili lên làm vua sau khi kết hôn với Thái hậu Darejan (mẹ kế của vua Bagrat V), nhưng chỉ một năm sau ông đã bị lật đổ bởi đế quốc Ottoman và Vameq III Dadiani của Mingrelian.[739] Vakhtang Tchutchunashvili cùng Darejan đã chạy trốn đến Akhaltsikhe (tỉnh Georgia do Ottoman nắm giữ), ông được phục hồi bởi pasha của Akhaltsikhe vào năm 1668, nhưng chưa đầy một năm sau, ông đã bị sát hại với vợ Darejan tại cung điện Kutaisi.[740]

Archil

Năm 1663, bởi áp lực từ đế quốc Thổ Nhĩ Kỳ, Archil buộc phải trả ngôi vua Imereti cho Bagrat V, ông chuyển qua Kakheti cai trị ở đây từ năm 1664 đến năm 1675.[741] Để có được sự đồng ý của Hoàng đế Ba Tư, Archil đã thắng thế, trở thành một người cải đạo trên danh nghĩa Hồi giáo, đảm nhận danh hiệu Shah-Nazar-Khan.[742] Năm 1675, phần lớn là do những mưu mô của đại tiểu thư Ba Tư Shaykh 'Ali Khan, Archil đã rời khỏi Kakheti, ông chạy sang vương quốc ngoài biên giới Thổ Nhĩ Kỳ là Akhaltsikhe, pasha Akhaltiskhe hứa sẽ trao vương miện của Imereti lần thứ hai cho ông.[743] Năm 1678, Archil sớm được tái lập ở Kutaisi với sự trợ giúp của pasha Akhaltiskhe, mặc dù không có sự đồng ý của Sublime Porte, nhưng các đặc vụ Ottoman đã xử tử pasha Akhaltiskhe và phế truất Archil vào năm 1679.[744] Archil trốn sang đế quốc Nga, nhưng không được phép tới Moscow cho đến năm 1686, tiếp đó được anh trai của mình là vua George XI của Karthli khuyến khích, Archil trở về Georgia vào năm 1690 và đã thành công trong việc giành lại vương triều Imereti, nhưng ông lại bị giới quý tộc địa phương phế truất một lần nữa vào năm 1691.[745] Trong vài năm sau đó, Archil đã thực hiện một số nỗ lực để giành lấy vương miện, tiến hành một cuộc chiến tranh du kích chống lại người Thổ Nhĩ Kỳ và phe đối lập quý tộc do gia đình Abashidze lãnh đạo, ông tranh thủ việc Alexander IV bị cha vợ đảo chính đã đưa quân vào Imereti để lên ngôi lần thứ ba năm 1695.[746] Cũng như những lần trước, chỉ hơn một năm Archil lại bị trục xuất vào năm 1596 bởi George V, ông cố gắng giành lại chính quyền lần thứ tư vào năm 1698, ông đánh bại George V nhờ sự giúp đỡ của Shoshita (công tước xứ Rachakhi), nhưng chính quyền của ông cũng chỉ như tia chớp vừa loé sáng đã nhanh chóng vụt tắt.[747] Cuối cùng, Archil đã từ bỏ hy vọng tái lập chính mình ở Imereti, và vào năm 1699, một lần nữa vượt qua dãy núi Kavkaz đến Nga, nơi ông định cư ở Vsesviatskoye gần Moscow đến hết đời.[748]

Năm 1681, Alexander IV được phóng thích khi đang làm con tin ở Karthli, ông vừa lên ngôi sau cái chết của cha mình Bagrat V thì đã bị lật đổ, người thực hiện việc này là George III của Guria.[749] Tuy nhiên, Alexander IV có được sự hậu thuẫn từ phía George XI của Karthli và các quý tộc Imereti nên đã bảo đảm sự công nhận của đế quốc Ottoman cho ông, do vậy Alexander IV lại trở về vị trí ở Imereti sau khi hạ bệ George III năm 1683.[750] Để thoát khỏi quyền bá chủ của đế quốc Ottoman, Alexander IV chuyển lòng trung thành của mình sang Safavidah Suleiman I của Ba Tư năm 1689, ông đã bị người Thổ Nhĩ Kỳ trục xuất sang Karthli vào tháng 8 năm 1690.[751] Năm 1691, thông qua sự hòa giải từ phía Erekle I của Karthli và chính phủ Ba Tư, Alexander IV đã được phục hồi ở Imereti sau một năm vô chính phủ, ông tại vị cho đến lúc bị truất ngôi bởi các quý tộc do chính cha vợ của mình là Giorgi-Malakia Abashidze chủ mưu.[735]

Mamia Đại đế Gurieli

Năm 1701, công tước Mamia Đại đế Gurieli của Guria được cha vợ Giorgi-Malakia Abashidze hỗ trợ đã lên cầm quyền tại Imereti sau vụ ám sát Simon.[752] Nhưng ngôi vị của ông chỉ có trên danh nghĩa, Giorgi-Malakia Abashidze kiểm soát các lĩnh vực hoàng gia, doanh thu và quý tộc, trong khi Mamia Đại đế Gurieli phải bán các đối tượng Guria của mình làm nô lệ để đáp ứng các chi phí của chính ông.[753] Cuối năm đó, Mamia Đại đế Gurieli cảm thấy không chịu nổi sự áp chế, ông buộc phải thoái vị để nghỉ ngơi với công quốc Guria, còn Giorgi-Malakia Abashidze trở thành vua của Imereti và do đó, là một bá chủ của cả Guria lẫn Mingrelia.[754] Năm 1701, Giorgi-Malakia Abashidze bị lật đổ sau một cuộc nổi dậy của các quý tộc, để ủng hộ vị vua Bagrationi chính nghĩa George VII, Giorgi-Malakia Abashidze đã lánh nạn ở Tbilisi, nương nhờ Vakhtang VI của Karthli.[755] Sự cai trị tham nhũng của George VII sớm trở nên không khoan dung đối với người Imereti, vào tháng 10 năm 1711, Mamia Đại đế Gurieli nhờ sự bảo đảm ủng hộ của các quý tộc: Mingrelia, RachaLechkhumi đã tái lập mình với tư cách là vua của Imereti, để lại Guria cho người con trai Giorgi IV Gurieli, George VII chạy sang Vakhtang VI của Karthli.[756] Tháng 6 năm 1712, George VII bí mật trở lại xâm chiếm quận Argveti, đánh bại Mamia Đại đế Gurieli tại Chkhari, qua đó lên ngôi lần thứ hai.[757] Mamia Đại đế Gurieli trốn đến Racha và sau đó đến Karthli, nơi đây ông được con trai của Vakhtang VI là Bakar I cưu mang, bố trí nơi cư trú tại Tskhinvali.[758] Vào tháng 11 năm 1713, Mamia Đại đế Gurieli phối hợp cùng với Dadiani (công tước của Racha), Giorgi Abashidze và Lechkhumian, đánh bại vua George VII tại Kutaisi và buộc ông này phải chạy đến Akhaltsikhe.[759] Nhưng Mamia Đại đế Gurieli chết bất ngờ một cách bí ẩn hai tháng sau đó, vào ngày 5 tháng 1 năm 1714, như vậy George VII được phục hồi một lần nữa.[760]

George VII

Năm 1711, George VII phải chạy sang Vakhtang VI của Karthli nhờ vả, bởi Mamia Đại đế Gurieli trở lại ngai vàng.[761] Năm 1712, George VII đã trở lại đòi quyền lực, đánh bật Mamia Đại đế Gurieli ra khỏi Imereti.[762] Năm 1713, Mamia Đại đế Gurieli tái chiếm Imereti, George VII phải chạy đến Akhaltsikhe.[763] Năm 1714, Mamia Đại đế Gurieli đột ngột qua đời, George VII thừa cơ kéo quân về Imereti đăng cơ lần thứ ba.[757] Năm 1716, George VII lại mất ngôi bởi các quý tộc nổi loạn do Bezhan Dadiani (Hoàng tử Mingrelia) và Hoàng tử Zurab Abashidze lãnh đạo, ông phải lưu vong đến Constantinople, George IV của Guria được mời lên ngôi vua.[764] George VII đã thành công trong việc thu hút sự ủng hộ của Ottoman, ông giành lại vương miện vào năm 1719, George IV phải tháo chạy về Guria.[716] Tuy nhiên, triều đại của ông đã được chứng minh là ngắn ngủi, vào tháng 2 năm 1720, ông bị ám sát bởi những kẻ âm mưu do Hoàng tử Simon Abashidze đứng đầu.[765]

Năm 1719, George IV Gurieli thất bại khi George VII được người Thổ Nhĩ Kỳ ủng lập đưa trở lại ngôi vị.[766] Năm 1720, lợi dụng tình hình George VII bị ám sát, George IV Gurieli đưa quân vào chiếm đóng Imereti.[767] Ba tháng sau, Alexander V đem theo một biệt đội phụ trợ Thổ Nhĩ Kỳ, tấn công quyết liệt vào Imereti, George IV Gurieli không chống nổi đành chịu mất ngôi vua lần thứ hai, ông bỏ chạy về Guria.[768]

Năm 1738, Alexander V gửi Đức cha Timothy Gabashvili đến Petersburg của đế quốc Nga, với dự án hành động chung chống lại đế chế Ottoman.[769] Tuy nhiên, hiệp ước Nga La Tư-Thổ Nhĩ Kỳ năm 1739 khiến sứ mệnh ngoại giao đó trở nên vô dụng, phẫn nộ trước yêu cầu này với chính phủ Nga, đế quốc Ottoman đã tài trợ cho một cuộc đảo chính đã phế truất Alexander V để ủng hộ anh trai ông George IX lên ngôi vào năm 1741.[770] Hoàng đế Ba Tư Nadir Shah đã sớm lấy lại lãnh thổ của Alexander V và phản đối với chính phủ Ottoman vì hành động này vào năm 1742, George IX phải sống lưu vong từ cha vợ George Lipartiani đến Mingrelia, mãi sau này ông ta được phép trở lại Imerezia dưới triều đại của cháu trai Salomone I "vĩ đại".[771] Alexander V tuy được phục hồi, nhưng lại phải đối mặt với một cuộc nổi dậy cục bộ mới vào năm 1746, lần này do anh trai Mamuka của ông (người cai trị như một vị vua đối địch ở một số vùng của Imereti) khởi xướng, Alexander V phải bỏ chạy tìm kiếm sự hẫu thuẫn từ các địa phương khác, cuộc chiến kéo dài cho đến khi chiến tranh huynh đệ kết thúc với chiến thắng của ông năm 1749 với sức hỗ trợ từ đế quốc Thỗ Nhĩ Kỳ.[772]

Solomon I "vĩ đại"

Năm 1752, Solomon I "vĩ đại" lên ngôi sau cái chết của cha mình, vua Alexander V.[773] Ngay lập tức phe đối lập quý tộc đã tổ chức một cuộc đảo chính, Solomon I "vĩ đại" phải bỏ chạy khỏi kinh đô nhưng đã nhanh chóng giành lại vương miện chỉ trong vài ngày khi phiến quân chưa kịp bầu vua mới, ông bắt đầu một chương trình cải cách nhằm ổn định vương quốc bị xé nát bởi các cuộc nội chiến kinh niên.[774] Người Ottoman coi Imereti là phạm vi ảnh hưởng của họ, đã gửi trong một đội quân sang tấn công, nhưng Solomon I "vĩ đại" đã thành công trong việc huy động các quý tộc của mình xung quanh, ông đánh bại quân xâm lược tại trận Khresili năm 1757.[775] Các cuộc đột kích Ottoman tiếp tục tiếp diễn vào những năm 1760, cho đến khi họ đẩy lui Solomon I "vĩ đại" khỏi thủ đô của ông tại Kutaisi vào năm 1765 và đặt người anh em họ của Solomon I "vĩ đại", Teimuraz lên ngai vàng.[776] Năm 1768, Solomon I "vĩ đại" tìm cách quay trở lại nhưng chỉ được một phần nhỏ đất đai, vương quốc của ông vẫn bị người Thổ chiếm đóng.[777] Tháng 5 năm 1769, Solomon I "vĩ đại" đã đi đến Tbilisi để gặp Heraclius II (người họ hàng của ông đang làm vua ở Karthli và Kakheti) để liên minh, hai vị vua quyết định yêu cầu năm trung đoàn Nga và tham gia cuộc chiến với Đế quốc Ottoman để đổi lấy sự đảm bảo rằng lợi ích của Gruzia sẽ được bảo vệ trong thỏa thuận hòa bình giữa Nga La Tư và Thổ Nhĩ Kỳ.[778] Người Nga đã phái một lực lượng nhỏ dưới quyền tướng Gottlieb Heinrich Totleben, kết quả họ đã giúp Solomon I "vĩ đại" phục hồi Kutaisi vào tháng 8 năm 1770, Teimuraz bị bắt nhốt vào tù cho đến chết.[779]

Solomon II

Năm 1789, vua The Kakhetian nhỏ (người cai trị Karthli và Kakheti) đã gửi quân đội của mình vào Imereti giúp đỡ David-Solomon trục xuất David II vào Akhaltsikhe ở tỉnh Gruzia do Ottoman nắm giữ.[780] Năm 1790, ông trở lại với một lực lượng Thổ Nhĩ Kỳ và phế truất Solomon II, nhưng cuối cùng bị đánh bại và chạy trốn khỏi Imereti.[781] Sau đó, thông qua sự hòa giải của Heraclius, David II được phép trở lại Imereti và được ban cho một sự sốt sắng.[782] Trong khoảng thời gian từ 1792 đến 1794, David II đã cố gắng với lính đánh thuê Dagestan để giành lại vương miện, nhưng đã phải chịu một thất bại và rút lui khỏi Imereti, ông chết vì bệnh đậu mùa khi đang lưu vong tại Akhaltsikhe.[783]

Năm 1790, Solomon II bị người Thổ Nhĩ Kỳ đánh bại, đồng nghĩa với việc David II phục tịch.[784] Nhưng cũng ngay trong năm đó, lực lượng trung thành với Solomon II đã đuổi được người Thổ Nhĩ Kỳ, giữ vững ngai vàng cho Solomon II.[785] Năm 1794, Solomon II lại đánh tan David II trong khi ông này cố gắng giành giật quyền lực lần thứ ba, David II phải bỏ chạy và chết trên đường lưu vong.[786]

Công quốc Mingrelia[sửa | sửa mã nguồn]

Việc nắm giữ quyền lực của Giorgi III Dadiani ở Mingrelia năm 1572 đã thách thức bởi nhà cai trị láng giềng, Giorgi Gurieli (công tước Guria) và em trai của ông, Mamia IV Dadiani.[787] Năm 1573, họ đã thành công trong việc lật đổ Giorgi III Dadiani, ông chỉ có thể nối lại ngai vàng thông qua sự can thiệp từ phía vua George II của Imereti với cái giá là nhượng bộ về lãnh thổ và tài chính vào năm 1578.[788]

Năm 1678, Mamia IV Dadiani bị đánh bật khỏi ngai vàng, anh trai ông là Giorgi III Dadiani được vua George II của Imereti giúp sức đã trở lại.[789] Năm 1682, Giorgi III Dadiani qua đời, Mamia IV Dadiani lên ngôi lần thứ hai trong hòa bình nhờ sự hòa giải với anh trai từ lần mất ngôi trước.[790]

Giorgi IV Dadiani

Năm 1704, Giorgi IV Dadiani quyết định thoái vị, ông ủng hộ con trai lớn của vợ cũ Mikeladze, Katsia I Dadiani lên ngôi.[791] Tuy đã lui về an dưỡng tại Salipartiano, nhưng Giorgi IV Dadiani vẫn là người có ảnh hưởng lớn trong suốt thời kỳ Katsia I Dadiani tại vị cho đến năm 1709.[792] Sau đó Giorgi IV Dadiani bị Katsia I Dadiani trục xuất, lý do vì ông đã ly dị mẹ của Katsia I Dadiani, buộc Giorgi IV Dadiani phải chạy đến Abkhazia.[793] Đến năm 1710, Katsia I Dadiani đột ngột từ trần, Giorgi IV Dadiani quay trở lại làm vua lần thứ hai, nhưng quyền lực được đổi mới của ông lại bị người con trai thứ hai Bezhan Dadiani thách thức.[794] Giorgi IV Dadiani đã bị phế truất một lần nữa vào năm 1715, Bezhan Dadiani bước lên ngai vàng nhờ sự hỗ trợ từ phía vua George VII của Imereti, Giorgi IV Dadiani bị Bezhan Dadiani giam giữ để quản thúc tại gia cho đến lúc ông mất vào cuối năm đó.[795]

Năm 1791, Solomon II của Imereti đã thành công trong việc lật đổ Grigol Dadiani để ủng hộ người em trai của Grigol Dadiani, Manuchar II Dadiani lên ngôi.[796] Grigol Dadiani chạy đến Eyalet (công quốc Gruzia duy nhất vĩnh viễn trở thành một tỉnh Ottoman với tư cách là thị trấn của Cildir), phiên hòa giải của vua Heraclius II đã thất bại và Grigol Dadiani đã bị giam giữ khi ông đến đàm phán tại Kutaisi, thủ đô của Imereti.[797] Grigol Dadiani sớm trốn thoát được với sự giúp đỡ của chú mình, Giorgi DadianiKaikhosro Gelovani (tổng đốc của Lechkhumi, ông cố thủ trong pháo đài Nogi ở Mingrelia, nơi Solomon II đã thất bại và trở về Kutaisi.[798] Năm 1792, nỗ lực trở lại của Grigol Dadiani đã bị phá vỡ khi đồng minh mới của ông David II, người yêu sách vương miện Imereti, bị đánh bại bởi Solomon II và Manuchar II gần quân tiếp viện Abkhaz của Kutaisi, do vậy ông bị bỏ rơi.[730] Grigol Dadiani sau đó đã tìm thấy sự hỗ trợ ở quận Lechkhumi và chống lại thành công Solomon và Manuchar II trong thành trì của mình tại Nogi, Manuchar II cuối cùng đã bị lật đổ khỏi Mingrelia và trốn sang Abkhazia vào năm 1793, nhưng Grigol Dadiani đã có thể mua lòng trung thành của nhà cai trị Abkhaz Kelesh Bey bằng cách trao cho ông pháo đài Anaklia.[799] Có một người yêu sách khác ở Mingrelia trong những năm này, đó chính là Tariel Dadiani, em trai của Grigol Dadiani và Manuchar II, Solomon II lợi dụng những mâu thuẫn giữa anh em họ, ông ta đã nhanh chóng cài đặt Tariel Dadiani làm công tước Mingrelia, nhưng chỉ được một thời gian ngắn thì Grigol Dadiani lại thắng thế vào năm 1794.[800] Với cuộc tấn công đổi mới của Solomon II ở Mingrelia vào năm 1802, Grigol Dadiani một lần nữa bị phế truất và thay thế bởi Tariel Dadiani, nhưng thành công cũng tồn tại trong thời gian quá ngắn ngủi, Grigol Dadiani đã có thể tiếp tục nhiệm kỳ của mình và được đặt vào năm 1804 tại Mingrelia dưới sự bảo vệ của đế quốc Nga.[801]

Năm 1794, Tariel Dadiani thua to trong cuộc tranh giành ngôi báu với anh trai Grigol Dadiani, ông phải đào tẩu sang Thổ Nhĩ Kỳ.[802] Năm 1802, Tariel Dadiani theo chân người Thổ quay lại Mingrelia, nhưng chưa đâu vào đâu đã bị Grigol Dadiani trục xuất lần thứ hai, sở dĩ có thắng lợi này bởi đằng sau Grigol Dadiani có đế quốc Nga hùng mạnh làm chỗ dựa.[803]

Công quốc Guria[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 1582, Giorgi Dadiani, kẻ thù cũ của George II Gurieli qua đời và ngai vàng của công quốc Mingrelia đã được anh trai Mamia IV Dadiani nối tiếp.[804] Mamia IV Dadiani đã thuyết phục George II Gurieli bắt giữ và tống giam cháu trai của ông ta, tiếp đến Mamia IV Dadiani khai thác cái chết của đứa cháu trong một tai nạn mất đoàn kết như một cái cớ để tấn công Guria vào năm 1583.[805] George II Gurieli đã bị đánh bại và thay thế bằng người anh rể của ông, Vakhtang I Gurieli, một trong những nhà tài trợ của Tu viện Shemokmedi (nhà thờ chính của Guria).[806] George II Gurieli chạy trốn sang đế quốc Ottoman, ông lưu trú tại thị trấn Gonio trong thủ đô Constantinople, ở đây ông kêu gọi người Thổ giúp đỡ.[807] Năm 1587, cái chết của Vakhtang I Gurieli đã mở ra cơ hội lớn, George II Gurieli đã thành công trong việc nối lại sự cai trị của mình, tất nhiên đằng sau ông là lực lượng hùng hậu của đế quốc Thỗ Nhĩ Kỳ.[808]

Năm 1684, Giorgi III Gurieli bị giết trong trận chiến Rokiti chống lại vua Alexander IV của Imereti, người em trai Malakia Gurieli được đặt làm người kế vị bởi vị vua chiến thắng, con trai Giorgi III Gurieli là Kaikhosro II Gurieli bị lưu đày sang Akhaltsikhe.[809] Năm 1685, Kaikhosro II Gurieli trở về từ nơi lưu đày ở Akhaltsikhe với quân đội do Yusuf Pasha của Akhaltsikhe cung cấp, Malakia Gurieli bị truất ngôi, ông cũng chạy sang Akhaltsikhe.[722] Yusuf Pasha đã cố gắng hòa giải giữa hai chú cháu, nhưng Kaikhosro II Gurieli dứt khoát từ bỏ lời hứa sẽ không làm hại Malakia Gurieli, ông ta khiến chú của mình bị chọc mù mắt.[810] Điều này đã xúc phạm Yusuf Pasha, ông này cho thực hiện việc ám sát Kaikhosro II Gurieli vào năm 1689, Malakia Gurieli được phục hồi làm công tước Guria, nhưng sự cai trị của ông không kéo dài lâu.[811] Người dân Guria coi Malakia Gurieli là kẻ bất tài, họ đã mua chuộc Yusuf Pasha của Akhaltsikhe, bảo đảm sự ủng hộ của vị vua này trong việc hạ bệ Malakia Gurieli để ủng hộ một cháu trai khác của ông ta, Mamia III Gurieli.[812]

Mamia III Gurieli

Năm 1711, Mamia III Gurieli lên làm vua tại Imereti, điều này có được là do sự ủng hộ của các quý tộc Mingrelie, Công tước xứ Ratcha và Letchkhumi.[813] Con trai ông, George IV Gurieli tiếp quản công quốc Guria, nhưng chỉ một năm sau Mamia III Gurieli đã bật bãi khỏi Imereti nên phải quay lại bản quốc, George IV Gurieli trả ngôi vị cho cha.[716]

Năm 1712, George IV Gurieli từ nhiệm vị trí quân chủ bởi vua cha Mamia III Gurieli thất thế ở Imereti, ông chủ động hoàn vị cho cha.[814] Năm 1714, Mamia III Gurieli đột ngột băng hà, George IV Gurieli lên làm công tước lần thứ hai.[815] George IV Gurieli phải đối mặt với một cuộc đảo chính được thiết kế bởi chính mẹ của ông, Elene, với sự xúi giục của: Dadiani, Abashidze, và công tước Racha đã can thiệp với quân đội của họ để trục xuất George IV Gurieli rồi thay thế ông bằng người em trai Kaikhosro III Gurieli.[816] George IV Gurieli chạy trốn đến Akhlatsikhe, sau đó chuyển đến Erzurum, với quân đội được cung cấp bởi pasha địa phương, ông đã nhanh chóng tái chiếm Guria, buộc mẹ và người anh em của mình phải lưu vong.[817] Nhưng các quý tộc hàng đầu của Guria như: EristaviBezhan Nakashidze đã không chào đón sự trở lại của George IV Gurieli, và viện trợ quân sự của Bezhan Dadian để khiến George IV Gurieli phải dời đến Batumi, sự kiện trên diễn ra vào năm 1720.[818] Dadiani cướp phá Guria, khi họ rời đi, George IV Gurieli đã có thể tiếp tục triều đại của mình bằng biện pháp làm hòa với Dadiani.[819]

Năm 1756, Mamia IV Gurieli bị hạ bệ, người thực hiện cuộc thay bậc đổi ngôi này là Solomon I của Imereti, đó là hệ quả của sự thù địch bởi việc tham gia của ông vào một cuộc đảo chính cuối cùng không thành công chống lại Solomon I từ năm 1752 ở Imereti.[820] Solomon I ủng hộ Giorgi V Gurieli, em trai Mamia IV Gurieli bước lên ngôi báu, vấn đề này còn có đế quốc Thổ Nhĩ Kỳ hậu thuẫn.[821] Mamia IV Gurieli trốn đến vùng núi Racha và cuối cùng vượt qua miền đông Georgia để thu hút sự ủng hộ từ vị vua nổi dậy Heraclius II của Kakheti, nhờ sự can thiệp của Heraclius II, Mamia IV Gurieli đã giành được sự ưu ái với pasha của Ottoman Akhaltsikhe, do vậy ông được phục hồi ở Guria vào năm 1758.[822] Ông đã hòa giải với Solomon I và tham gia vào cuộc đấu tranh chống lại sự xâm lấn và buôn bán nô lệ của Ottoman, Giorgi V Gurieli bị truất ngôi.[823] Năm 1765, Hasan Pasha ở Akhaltsikhe, đáp lại sự tham gia của Mamia IV Gurieli vào những nỗ lực chống Ottoman của Solomon I, đã phục hồi Giorgi V Gurieli ở Guria.[824] Năm 1770, Solomon I đã lợi dụng cuộc chiến tranh Nga-Thổ Nhĩ Kỳ vào năm 1767, tiến quân vào Guria, đánh bại một lực lượng Ottoman diễu hành từ Batumi đến Imereti, kết thúc bằng sự kiện năm 1771, lật đổ Giorgi V Gurieli để ủng hộ Mamia IV Gurieli đăng cơ lần thứ ba.[825]

Năm 1758, Giorgi V Gurieli mất ngôi, người anh trai ông Mamia IV Gurieli trở lại ngai vàng. Năm 1765, Giorgi V Gurieli giành lại ngôi vị, ông được hỗ trợ bởi Hasan Pasha ở Akhaltsikhe.[826] Năm 1771, Giorgi V Gurieli lại mất ngôi, Solomon I lợi dụng chiến tranh Nga-Thổ để đưa quân can thiệp vào nội bộ công quốc Guria để đưa Mamia IV Gurieli phục tích.[827] Mãi đến năm 1776, Giorgi V Gurieli khai thác mối quan hệ ngày càng xấu đi giữa Solomon I và Mamia IV Gurieli, đã tổ chức một cuộc đảo chính chống lại anh trai mình, ông đã thành công để một lần nữa nắm quyền lực tại Guria, tiếp đó ông làm hòa với Solomon I do đó ổn định được vị trí của mình cho đến hết đời.[828]

Sa Đặc A Lạp Bá[sửa | sửa mã nguồn]

Đế quốc A Lạp Bá[sửa | sửa mã nguồn]

Triều đại Abbasid Khalifah of Baghdad:

Tháng 2 năm 929, một cuộc nổi dậy của cung điện do Mu'nis al-Muzaffar cầm đầu đã thay thế một thời gian ngắn Abu’l-Faḍl Jaʿfar ibn Ahmad al-Muʿtaḍid bằng người anh trai, Abu Mansur Muhammad ibn Ahmad al-Mu'tadid.[829] Nguyên nhân cuộc biến loạn trên bắt nguồn từ việc khó khăn về tài chính trong đế quốc, lần lượt các thế lực như: Abdullah al-Mahdi Billah hay Abd al-Rahman III lần lượt ly khai, họ thành lập những chính quyền độc lập riêng rẽ.[830] Tuy nhiên, chế độ mới đã thất bại trong việc củng cố chính nó, điều này dẫn đến việc Abu’l-Faḍl Jaʿfar ibn Ahmad al-Muʿtaḍid khôi phục chỉ trong vài ngày, tuy nhiên mâu thuẫn giữa ông và Mu'nis al-Muzaffar thì vẫn còn dai dẳng mãi.[831]

Abu Mansur Muhammad ibn Ahmad al-Mu'tadid lên ngôi lần thứ nhất như một phần trong cuộc xung đột của em trai ông, Abu’l-Faḍl Jaʿfar ibn Ahmad al-Muʿtaḍid với tổng tư lệnh quân đội Abbasid Mu'nis al-Muzaffar ngày càng mạnh mẽ, sự kiện đó diễn ra vào tháng 3 năm 929.[832] Lúc đó, Mu'nis al-Muzaffar phát động một cuộc đảo chính và phế truất Abu’l-Faḍl Jaʿfar ibn Ahmad al-Muʿtaḍid, nhưng chỉ sau vài ngày, Mu'nis al-Muzaffar đã được khôi phục lại Abu’l-Faḍl Jaʿfar ibn Ahmad al-Muʿtaḍid, bấy giờ Mu'nis al-Muzaffar là nhân vật sở hữu quyền lực gần như độc tài đối với chính quyền Abbasid.[833] Năm 932, sau một lần vi phạm khác với Abu’l-Faḍl Jaʿfar ibn Ahmad al-Muʿtaḍid, Mu'nis al-Muzaffar lập tức hành quân về Baghdad. Abu’l-Faḍl Jaʿfar ibn Ahmad al-Muʿtaḍid đã cố gắng đối đầu với ông ta, nhưng lực bất tòng tâm nên đã bị giết trong trận chiến sau đó, Abu Mansur Muhammad ibn Ahmad al-Mu'tadid được đưa lên ngôi lần thứ hai trong hoàn cảnh đó.[834]

Tiểu vương quốc Hejaz[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 1010, Abul-Futuh Hasan đã chia thời kỳ thống trị của Abul-Futuh Hasan thành hai giai đoạn, sự ngắt quãng này được duy trì trong khoảng hai năm.[835]

Năm 1175, Da'ud mất ngôi khi Mukaththir nổi dậy làm cuộc đảo chính, đến năm 1176 thì Al-Qasim III tạo phản đánh đuổi Mukaththir để cướp chính quyền.[836] Da'ud tận dụng cơ hội quay lại lật đổ Al-Qasim III phục vị, nhưng chỉ ít lâu sau Mukaththir đã kịp thời khôi phục ngai vàng, Da'ud đành tháo chạy, chấp nhận mất ngôi lần thứ hai.[837]

Năm 1176, Mukaththir bị cướp mất địa vị bởi Al-Qasim III, Da'ud thừa thế quay lại phục hồi, tuy nhiên Mukaththir đã không để tình trạng hỗn loạn kéo dài, ông nhanh chóng lật ngược thế cờ để lần thứ hai cai trị Tiểu vương quốc Hejaz.[838]

Năm 1240, Shiha ibn al-Qasim cản trở Rajih trên con đường công danh sự nghiệp, tuy chỉ có vài tháng ngắn ngủi nhưng cũng làm thế cuộc nhiễu nhương xáo trộn.[839] Năm 1241, đến lượt Abu-Sa'ad al-Hasan ibn Ali tạo sự khác biệt khi hạ bệ thành công Rajih, năm 1245 Abu Numai Muhammed I xuất hiện đoạt lấy vương quyền nhưng không duy trì được lâu thì bị Rajih cướp lại.[840]

Năm 1245, Abu Numai Muhammed I vừa bước lên vũ đài chính trị, chưa kịp định thần thì đã mất ngôi bởi Rajih trở về.[841] Sau đó có ba nhân vật nối nhau tiếp quản ngai vàng gồm: Ganim I (1254), Idris I (1254-1270) và Djammaz ibn Shiha (1270-1288) cho đến lúc Abu Numai Muhammed I khẳng định được quyền lực tuyệt đối lần thứ hai của mình.[842]

Tiểu vương quốc Mecca[sửa | sửa mã nguồn]

Tháng 3 năm 1632, tin tức tình báo cho Mecca biết một đội quân binh lính bất ổn đã rời Yemen và đang trên đường đến Mecca, sau khi đến Al Qunfudhah, chỉ huy của họ là Kor MahmudAli Bey đã gửi lời đến Mecca, ngỏ ý muốn vào thành phố trên đường đến Ai Cập.[843] Sợ hãi trước sự rối loạn mà đội quân ô hợp sẽ gây ra, Zayd ibn Muḥsin ibn usayn ibn Ḥasan ibn Abī Numayy và người đồng trị vì Muhammad ibn Abd Allah ibn Hasan đã từ chối, phiến quân liền liên minh với Nami ibn Abd al-Muttalib, một ứng cử viên cho tiểu vương quốc, quyết định tiến vào thành phố bằng vũ lực.[844] Zayd ibn Muḥsin ibn usayn ibn Ḥasan ibn Abī Numayy và Muhammad ibn Abd Allah ibn Hasan đã thu thập lực lượng của mình, tổ chức đánh chặn quân đội tiến công, hai bên đã gặp nhau trong trận chiến gần Wadi al-Biyar.[845] Sau khi chiến đấu ác liệt, lực lượng của Tiểu vương quốc đã bị đánh bại, Muhammad ibn Abd Allah ibn Hasan tử trận, Zayd ibn Muḥsin ibn usayn ibn Ḥasan ibn Abī Numayy rút lui về phía Wadi Marr al-Zahran.[846] Phiến quân tiến vào Mecca, Nami ibn Abd al-Muttalib được tuyên bố là tân tiểu vương, và ông ta đã bổ nhiệm người anh em họ Abd al-Aziz ibn Idris ibn Hasan làm người đồng cai trị với mình.[847] Sau rời khỏi khỏi tiểu vương quốc, Zayd ibn Muḥsin ibn usayn ibn Ḥasan ibn Abī Numayy đã đến Medina, ở đó ông thông báo tình hình Mecca đến Halil Pasha, thống đốc Thổ Nhĩ Kỳ tại Ai Cập.[848] Halil Pasha phái 3500 binh sĩ đến Hejaz bằng đường bộ và đường biển, Nami ibn Abd al-Muttalib hay tin chỉ đạo phiến quân di tản Mecca, đồng thời tự rào chắn tại pháo đài Turbah.[849] Zayd ibn Muḥsin ibn usayn ibn Ḥasan ibn Abī Numayy và quân đội Ai Cập tiến vào Mecca mà không gặp sự kháng cự nào đáng kể, họ bao vây pháo đài trong khoảng hai mươi ngày, kết quả đã tiêu diệt hầu hết phiến quân bên trong, bắt được Kor Mahmud, Nami ibn Abd al-Muttalib và Abd al-Aziz ibn Idris ibn Hasan, sau đó đưa họ trở lại Mecca xử tử.[850]

Năm 1667, Muhsin ibn Ahmad thế chỗ Sa‘d ibn Zayd ibn Muḥsin nhưng năm sau thì bị trục xuất, đến năm 1670 đến lượt Hamud bin Abdullah bin Hasan làm cuộc chính biến, tuy nhiên ngay trong năm đó Sa‘d ibn Zayd ibn Muḥsin đã chiếm lại ngai vàng.[851] Từ năm 1669, Sa‘d ibn Zayd ibn Muḥsin cộng trị với Ahmad bin Zaid, đến năm 1671 cả hai đều bị Abu al-Barakat III ibn Muhammad hạ bệ.[840] Cho đến năm 1693, qua nhiều cuộc thăng trầm của lịch sử, Sa‘d ibn Zayd ibn Muḥsin lấy lại vương quyền từ tay Said bin Saad.[839] Nhưng năm 1694, Abdullah bin Hasyim xuất hiện như một kẻ ngáng đường khiến sự cai trị của ông bị ngắt quãng trong một thời gian ngắn, Sa‘d ibn Zayd ibn Muḥsin giữ vững vương quốc của mình cho đến hết đời sau khi đánh bại quân phản loạn.[852]

Năm 1668, Muhsin ibn Ahmad mất ngai vàng bởi người tiền nhiệm Sa‘d ibn Zayd ibn Muḥsin quay trở lại phục bích, mãi đến năm 1789 ông mới lấy lại địa vị sau nhiều cuộc thay ngôi đổi chủ: Sa‘d ibn Zayd ibn Muḥsin hai lần (1668-1670)(1670-1671) vì sự chen ngang của Hamud bin Abdullah bin Hasan (1670), trong đó Ahmad bin Zaid cộng trị với Sa‘d ibn Zayd ibn Muḥsin từ 1669-1671.[853] Tiếp đó lần lượt có: Abu al-Barakat III ibn Muhammad (1671-1672), Barakat bin Muhammad (1672-1682), Said bin Barakat (1682-1683), Ibrahim bin Muhammad (1683-1684), Ahmad bin Zaid lần thứ nhì (1684-1688) và Ahma bin Ghalib (1688-1689). [854]

Năm 1693, Said bin Saad chịu mất ngôi bởi sự phục bích lần thứ ba của Sa‘d ibn Zayd ibn Muḥsin, cho đến năm 1702 ông mới giành lại ngai vàng khi Sa‘d ibn Zayd ibn Muḥsin qua đời.[855] Năm 1704, địa vị của Said bin Saad lại bị tuột mất bởi Abdulmuhsin bin Ahmad, nhưng chỉ trong năm đó Abdulkarim bin Muhammed đã lật nhào Abdulmuhsin bin Ahmad.[856] Năm 1705, Said bin Saad cố gắng chiếm lại vương quốc nhưng chỉ trong chốc lát lại thất bại, mãi đến năm 1711 ông mới thành công để trở thành quân chủ lần thứ năm.[857]

Năm 1671, Ahmed bin Zeid và người đồng cai trị Sa‘d ibn Zayd ibn Muḥsin đều bị mất ngôi bởi Abu al-Barakat III ibn Muhammad, đến năm 1682 thì có Said I ibn Barakat và năm 1683Ibrahim ibn Muhammad nối tiếp nhau làm quân chủ, cho đến năm 1684 thì Ahmed bin Zeid phục bích.[858]

Năm 1705, Said bin Saad lên ngôi lần thứ ba, làm cho sự cai trị của Abdulkarim bin Muhammed bị chia làm hai thời kỳ, cho đến năm 1711 thì Said bin Saad lại khẳng định được quyền lực của mình lần thứ tư khi ông ta hạ bệ Abdulkarim bin Muhammed một lượt nữa.[859]

Năm 1718, sau một năm cai trị, Abdullah III bin Said được thay thế bởi Yahya bin Barakat (17181720), tiếp đó Mubarak bin Ahmad hai lần gián đoạn (17201722)(1723-1724) xen giữa là Barakat ibn Yahay (17221723) nối nhau cầm quyền, cho đến năm 1724 thì Abdullah III bin Said quay trở lại phục tích.[860]

Năm 1722, Barakat ibn Yahay cướp chính quyền từ tay Mubarak ibn Ahmad, tuy nhiên chưa đầy một năm Mubarak ibn Ahmad đã giành lại được ngôi báu, mặc dù vậy ông cũng chỉ giữ nổi ngai vàng không quá một năm trước khi Abdullah III bin Said trở lại.[861]

Năm 1732, Muhammed ibn Abdullah thất bại vì sự trỗi dậy của Masud I ibn Said, rất nhanh chóng chỉ sang năm 1733 ông đã đoạt lại quyền hành, nhưng đến năm 1734 thì quyền hành đó cũng bị tước đoạt lần thứ hai bởi Masud I ibn Said.[862]

Năm 1733, Masud I ibn Said bị Muhammed ibn Abdullah lật đổ, tuy nhiên ông đã khôi phục cơ nghiệp gần như ngay lập tức vào năm sau.[863]

Năm 1758, Sayyid Abd Allah al-Fa'ar, một đồng minh cũ của Musa'id ibn Sa'id cố gắng hạ bệ ông với sự hỗ trợ từ các Tiểu vương quốc Ai Cập và Syria của Hajj, Keşkeş Hüseyin BeyÇeteci Abdullah Pasha.[864] Các binh sĩ đã nắm quyền kiểm soát Masjid al-Haram, họ tuyên bố Sharif Mubarak ibn Muhammad ibn Abd Allah ibn Sa'id làm Tiểu vương, nhưng trận chiến ở Mecca kết thúc với chiến thắng của Musa'id ibn Sa'id.[865] Năm sau, Çeteci Abdullah Pasha trở lại là Tiểu vương quốc Syria của Syria, lần này có được sự giúp đỡ từ đế quốc Thổ Nhĩ Kỳ, ông ta đã phế truất Musa'id ibn Sa'id và thay thế bằng người anh trai Ja'far ibn Sa'id vào tháng 8 năm 1759.[866] Sau sự ra đi của Çeteci Abdullah Pasha và đoàn lữ hành Hajj khỏi Mecca, Ja'far ibn Sa'id đã đạt được thỏa thuận với Musa'id ibn Sa'id, theo đó cho phép ông trở lại ngai vàng vào ngày 6 tháng 9 năm 1759, còn Ja'far ibn Sa'id chuyển đến Ta'if làm vườn cây cho đến hết đời.[867]

Năm 1788, Abd al-Muin bin Musaid đăng cơ sau cái chết của người anh trai Surur ibn Musa'id, nhưng vài ngày sau ông quyết định thoái vị để nhường ngôi cho một người anh trai khác là Ghalib ibn Musa'id.[868] Ông đã hỗ trợ Ghalib ibn Musa'id trong thời gian cầm quyền của anh trai mình, lãnh đạo một số cuộc thám hiểm quân sự chống lại Tiểu vương quốc Diriyah của Saudi - Wahhabi.[869] Vào tháng 4 năm 1803 khi lực lượng Wahhabi hành quân đến Mecca, Ghalib ibn Musa'id đã chỉ định Abd al-Muin bin Musaid làm quân chủ Tiểu vương quốc trước khi rút lui về Jeddah, Abd al-Mu'in bin Musaid đã đầu hàng thành phố để Saud ibn Abd al-Aziz và được đặt làm Tiểu vương quốc dưới sự thống trị của Saudi.[870] Vào tháng 7 năm 1803, Abd al-Muin bin Musaid kêu gọi Ghalib ibn Musa'id trở lại thành phố cùng với quân đội của mình và đánh đuổi quân đồn trú Wahhabi, hai anh em quyết định thực hiện chế độ cộng trị.[871]

Năm 1803, Ghalib ibn Musa'id nhường quyền điều hành đất nước cho Abd al-Muin bin Musaid trong cuộc chiến chống lại lực lượng Wahhabi, ông lui về Jeddah.[872] Ít lâu sau, Abd al-Muin bin Musaid tạm thời đầu hàng Tiểu vương quốc Diriyah và vẫn được giữ nguyên ngôi vị, Ghalib ibn Musa'id được em trai mời ra làm vua lần thứ hai, họ phối hợp với nhau đánh đuổi quân Wahhabi rồi thực hiện chế độ cộng trị.[873]

Năm 1827, Abd al-Muttalib bin Ghalib vừa lên ngôi chưa nóng chỗ đã phải dời nhiệm sở, vì Muhammad Ali Pasha al-Mas'ud ibn Agha của Ai Cập điều động Muhammed bin Abd al-Muin bin Awn bin Muhsin bin Abdullah bin al-Hussain bin Abdullah I sang thay thế.[874] Năm 1851, Abd al-Muttalib bin Ghalib mới quay lại Tiểu vương quốc Mecca đẻ nhậm chức lần thứ nhì, nhưng đến năm 1856 ông lại phải chuyển đi để nhượng lại địa vị của mình cho Muhammed bin Abd al-Muin bin Awn bin Muhsin bin Abdullah bin al-Hussain bin Abdullah I một lần nữa.[875] Sau khi Muhammed bin Abd al-Muin bin Awn bin Muhsin bin Abdullah bin al-Hussain bin Abdullah I từ trần vào năm 1858, có hai nhân vật là Abdullah bin Muhammed (18581877) và Hussein bin Muhammed (18771880) lần lượt lên cầm quyền trước khi Abd al-Muttalib bin Ghalib tái nhiệm lần thứ ba vào năm 1880.[876]

Muhammed bin Abd al-Muin bin Awn bin Muhsin bin Abdullah bin al-Hussain bin Abdullah I

Năm 1851, Muhammed bin Abd al-Muin bin Awn bin Muhsin bin Abdullah bin al-Hussain bin Abdullah I được thay thế bởi người tiền nhiệm Abd al-Muttalib bin Ghalib, đến năm 1856 ông quay lại vị trí của mình.[877]

Năm 1882, Abd al-Ilah bin Muhammed thôi giữ chức Sharif của Mecca, Awn ar-Rafiq bin Muhammed (18821905) và Ali bin Abdullah bin Muhammed (19051908) lần lượt đảm nhiệm cương vị này.[878] Năm 1908, sau khi Ali bin Abdullah bị phế truất, Abd al-Ilah bin Muhammed được tái bổ nhiệm nhưng chưa kịp đến Mecca thì đột ngột qua đời, Hussein bin Ali Pasha được điều động sang thay thế ông.[879]

Tiểu vương quốc Nejd[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 1820, Turki bin Abdullah bin Muhammad trở thành "vong quốc chi quân" khi người Ai Cập đem binh xâm lược, Muhammad Ali đã thành công trong việc thôn tính và sát nhập Tiểu vương quốc Nejd.[880] Turki bin Abdullah bin Muhammad đã chiến đấu để bảo vệ Diriyah chống lại người Ai Cập và trốn thoát khi thành phố này khi nó bị Ibrahim Pasha chiếm giữ vào năm 1818, đánh dấu sự kết thúc của Nhà nước Ả Rập thứ nhất.[881] Ông đã dành hai năm tiếp theo để ẩn náu vì cuộc đàn áp Al Saud, với Abdullah bin Saud được gửi đến İstanbul để bị Thổ Nhĩ Kỳ xử tử, Turki bin Abdullah bin Muhammad hợp tác với Mohammad bin Mushari bin Muammar (Ibn Muammar), một khách hàng Ả Rập của Muhammad Ali, người khao khát tự mình cai trị Najd.[882] Tuy nhiên, khi Mushari bin Saud - anh trai vị Imam cuối cùng - trốn thoát khỏi sự giam cầm của Ai Cập để tái khẳng định sự cai trị của Saudi, Turki bin Abdullah bin Muhammad đã tham gia với ông và được bổ nhiệm làm thống đốc Riyadh.[883] Tuy nhiên, Ibn Muammar đã nhanh chóng đè bẹp cuộc nổi dậy và giam cầm Mushari bin Saud, Turki bin Abdullah bin Muhammad trả thù bằng cách bắt Ibn Muammar và con trai (còn có tên Mushari).[884] Một nỗ lực trao đổi cả hai người cho Mushari bin Saud trước khi người thứ hai bị trả lại quyền nuôi con của Ai Cập đã thất bại, dẫn đến việc xử tử Ibn Muammar và con trai ông này, Turki bin Abdullah bin Muhammad sau đó bị buộc phải trốn trở lại.[885] Đến thời điểm này, nhiều thành viên cấp cao của Nhà Saud đã bị giết, bị lưu đày hoặc bị giam cầm, khiến Turki bin Abdullah bin Muhammad trở thành một trong số ít người trong gia đình sẵn sàng và có thể đảm nhận vai trò lãnh đạo.[886] Năm 1823, Turki bin Abdullah bin Muhammad tái lập để thành lập liên minh với Sawaid, người trị vì Jalajil ở Sudair, và đã sớm thành lập chính mình tại Irqah, sau đó tiếp tục xâm nhập vào Najd, chiếm giữ các khu định cư lớn như Durma và Manfuhah để cô lập Riyadh và đồn trú của Ai Cập.[887] Đến tháng 8 năm 1824, chính Riyadh bị bao vây và thất thủ vài tháng sau đó, Turki bin Abdullah bin Muhammad chỉ định nó là thủ đô mới của Saudi vì Diriyah đã bị tàn phá và phần lớn bị người Ai Cập tước đoạt trong thời gian chiếm đóng, mặc dù thành công trong việc tái lập một chính thể Ả Rập khả thi, nhưng Turki bin Abdullah bin Muhammad vẫn chọn duy trì một chư hầu danh nghĩa của đế quốc Ottoman do những gì đã xảy ra với Abdullah bin Saud.[888]

Năm 1838, Faisal bin Turki bin Abdullah Al Saud buộc phải lưu vong, sự cai trị của ông bị lực lượng Ottoman phản đối, thống đốc Ả Rập Ai Cập là Khurshid Pasha đã ủng hộ một ứng cử viên đối thủ có tên Khalid ibn Saud ibn Abd al Aziz lên làm vua Nejd.[889] Faisal bin Turki bin Abdullah Al Saud chạy trốn khỏi thành phố, ông lánh nạn với các hoàng tử al Khorayef của các bộ lạc Bani Tamim.[890] Năm 1841, Abdallah ibn Thunayan ibn Ibrahim ibn Thunayan ibn Saud tiến hành chính biến lật đổ Khalid ibn Saud ibn Abd al Aziz, Faisal bin Turki bin Abdullah Al Saud đã cố gắng thỏa thuận với Khurshid Pasha, nhưng bị buộc phải đi lưu vong lần thứ hai ở Cairo.[891] Năm 1843, Faisal bin Turki bin Abdullah Al Saud trốn thoát khỏi bị giam cầm một lần nữa và trở về Riyadh, ông dễ dàng đánh bại Abdallah ibn Thunayan ibn Ibrahim ibn Thunayan ibn Saud.[892] Faisal bin Turki bin Abdullah Al Saud phụ thuộc vào một liên minh chặt chẽ với gia đình Hail Al Rashid, Abdullah bin Rashid đóng một vai trò quan trọng trong thành công của ông và hai gia đình đã được kết hôn rộng rãi, đổi lại, Faisal bin Turki bin Abdullah Al Saud bổ nhiệm Abdullah bin Rashid làm người thừa kế của Ha'il.[893]

Abdallah ibn Faisal ibn Turki, với tư cách là con trai lớn nhất của Faisal bin Turki bin Abdullah Al Saud, đã được chỉ định là người thừa kế và chỉ huy quân sự trong khi người em khác mẹ Saud bin Faisal bin Turki được gửi đến al-Kharj ở miền nam Najd với tư cách là thống đốc, một phần để giảm ma sát đang phát triển giữa hai anh em.[894] Abdullah ibn Faisal ibn Turki và người anh em trung thành Muhammad bin Faisal ban đầu tỏ ra quá mạnh mẽ đối với Saud bin Faisal bin Turki, nhưng vào tháng 12 năm 1870, Saud bin Faisal bin Turki được sự trợ giúp của các nhà cai trị Ô-man, Abu DhabiBahrain, đã đánh bại lực lượng của Abdallah ibn Faisal ibn Turki và bắt Muhammad bin Faisal.[895] Abdallah ibn Faisal ibn Turki trốn khỏi Riyadh và Saud bin Faisal bin Turki tự xưng là Imam vào tháng 5 năm 1871, ngay sau đó, một cuộc nổi loạn khác làm rung chuyển vương quốc, Saud bin Faisal bin Turki bị Abdullah ibn Faisal bin Turki buộc phải ra ngoài, ông lấy lại thủ đô, nguyên do cũng bởi Saud bin Faisal bin Turki cũng đã ghẻ lạnh dân chúng bởi sự phụ thuộc vào các bộ lạc từ phía đông.[896] Trong khi đó, Abdullah ibn Faisal ibn Turki đã yêu cầu sự giúp đỡ từ Midhat Pasha, thống đốc Baghdad của đế quốc Ottoman, Midhat Pasha đã tận dụng cơ hội để càn quét vào tỉnh al-Hasa, nơi Muhammad bin Faisal bị giam giữ bởi con trai của Saud bin Faisal bin Turki, Abdul-Aziz. Muhammad bin Faisal được thả ra, và cuối cùng hai anh em Abdullah ibn Faisal ibn Turki và Muhammad bin Faisal đã có thể quay trở lại Riyadh.[897] Tuy nhiên, Saud bin Faisal bin Turki cùng với những người theo Ajman của mình, đã chiếm lại Riyadh vào tháng 1 năm 1873 và Abdallah ibn Faisal ibn Turki và Muhammad bin Faisal đành phải đi lưu vong giữa các bộ lạc MutayrUtaiba.[898] Vào tháng 1 năm 1875, Saud bin Faisal bin Turki chết vì vết thương chiến đấu và bệnh đậu mùa, người em trai út Abdul Rahman bin Faisal lợi dụng thời cơ cướp lấy chính quyền, nhưng chỉ một năm sau Abdallah ibn Faisal ibn Turki đã kịp thời trở lại để lên ngôi lần thứ ba.[899]

Năm 1871, Saud bin Faisal bin Turki trở thành nhân vật cai trị Tiểu vương quốc Nejd sau khi đánh bại anh trai cùng cha khác mẹ Abdallah ibn Faisal ibn Turki, nhưng ngay trong năm đó ông đã bị lật đổ bởi chính anh trai mình.[900] Năm 1873, Saud bin Faisal bin Turki lại nổi dậy đánh đuổi được Abdallah ibn Faisal ibn Turki để cầm quyền lần thứ hai, đến năm 1875 thì ông mất.[901]

Abdul Rahman bin Faisal

Năm 1876, chính quyền non trẻ của Abdul Rahman bin Faisal chưa kịp ổn định đã bị lật đổ bởi anh trai Abdallah ibn Faisal ibn Turki, ông đã từng nổi dậy vào năm 1887 để chiếm lấy và bảo vệ Riyadh, nhưng những nỗ lực mở rộng quyền kiểm soát của ông đã kết thúc trong thảm họa.[902] Đến năm 1889, ông mới chính thức lấy lại chiếc ghế của mình sau một cuộc tấn công tổng lực, trở thành quân chủ cuối cùng của Nhà nước Ả Rập thứ hai, khi con trai ông Abdulaziz ibn Abdul Rahman ibn Faisal ibn Turki ibn Abdullah ibn Muhammad Al Saud xây dựng nên Nhà nước Ả Rập thứ ba, Abdul Rahman bin Faisal được phong là Imam và được coi là lãnh đạo tinh thần của đất nước[903] Năm 1891, Muhammed ibn Abdulah ibn Rashid của Hail, một chư hầu của Saudis, nhân cuộc tranh giành ngôi vị giữa mấy anh em đã nắm lấy cơ hội can thiệp vào cuộc xung đột và gia tăng sức mạnh của chính mình, dần dần Muhammed ibn Abdulah ibn Rashid mở rộng quyền lực đối với hầu hết Nechd, bao gồm cả Riyadh, cuối cùng ông ta đã trục xuất Abdul Rahman bin Faisalkhỏi Nechd sau trận Mulayda.[904]

Dã Môn[sửa | sửa mã nguồn]

Nhà nước Zaidi[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 999, Al-Mansur al-Qasim al-Iyyani xuất hiện với sự giúp đỡ của bộ lạc Hamdan, Ad-Da'i Yusuf đã bị trục xuất khỏi Sa'dah.[905] Al-Qasim bin al-Husayn đã được phái đến San'a bởi các Imam mới, và các cộng đồng Zaydiyyah đã gửi cho ông ta, sau một vài năm, Al-Qasim bin al-Husayn đã thay đổi lòng trung thành của mình với Ad-Da'i Yusuf.[906] Sau khi thất bại trong việc khuất phục những người bộ lạc tái chiếm Banu HarithNajran, Al-Mansur al-Qasim al-Iyyani đã vấp phải sự phản đối của Al-Malih Ibrahim và cựu Imam Ad-Da'i Yusuf, thống đốc ở Dhamar, Az-Zaidi đã nổi loạn và bắt giữ con trai của Imam Ja'far.[907] Một sự hòa giải đã diễn ra vào năm 1002, Az-Zaidi đề nghị Al-Mansur al-Qasim al-Iyyani giữ quyền lực đối với Bakil và Wada, Al-Mansur al-Qasim al-Iyyani rút lui khỏi chính trường, ông ta sống một cuộc sống riêng tư ở MadhabIyyan, Ad-Da'i Yusuf lên ngôi lần thứ hai, thời gian cai trị của ông đầy rẫy những cuộc chiến nhỏ nhặt ở San'a.[908]

Năm 1837, Al-Mansur Ali II đã bị quân đội của chính ông phế truất rồi cầm tù vào ngày 9 tháng 2, vì tiền lương của họ bị truy thu, họ đã thay thế ông bằng An-Nasir Abdallah, một học giả nổi tiếng của Zaidi theo đúng nghĩa của ông.[909] Năm 1840, An-Nasir Abdallah chết, Al-Hadi Muhammad lên thay thế đã hạ lệnh phóng thích Al-Mansur Ali II, ông nhận được một khoản trợ cấp nhưng bị cấm can thiệp vào các vấn đề nhà nước.[910] Năm 1844, Al-Mansur Ali một lần nữa được tôn lên làm Imam, gần như không có sự phản đối ông khi Al-Hadi Muhammad từ trần.[911] Nền cai trị của Al-Mansur Ali lại bị gián đoạn bởi một cuộc nổi dậy của người chú al-Qasim và một đợt bùng phát bệnh đậu mùa, cuối cùng một người họ hàng tên là Muhammad bin Yahya đã xuất hiện trước San'a với một đội quân bộ lạc vào năm 1845.[912] Người dân tuyên bố cho người yêu sách, và Al-Mansur Ali một lần nữa bị phế truất, ông được trợ cấp và được phép sống ở một trong những cung điện của thành phố, kẻ chiếm đoạt lấy tên Al-Mutawakkil Muhammad.[913] Năm 1849, người Thổ Nhĩ Kỳ trở lại Tihamah, Al-Mutawakkil Muhammad được triệu tập để đệ trình, Imam đi cùng một đội quân Thổ Nhĩ Kỳ đến San'a.[914] Tuy nhiên, một ngày sau khi đội biệt kích đến thành phố, nó đã bị người dân địa phương tấn công dữ dội, được cho là bị mê hoặc bởi Imam, chỉ huy người Thổ Nhĩ Kỳ Tefvik Pasha bị thương nặng, ngay lập tức phế truất Al-Mutawakkil Muhammad và nâng Al-Mansur Ali lên lần thứ ba.[915] Ngay sau đó, người Thổ rút lui về Hudaydah ở Tihamah, khi người Thổ Nhĩ Kỳ ra đi, các cuộc đấu tranh quyền lực vẫn tiếp tục ở Zaidi.[916] Al-Mansur Ali nhốt al-Mutawakkil Muhammad vào tù và ông ta bị chặt đầu vào tháng 12 năm 1849, nhưng vào tháng 6 năm 1850, ông lại bị phế truất lần thứ ba bởi một người họ hàng xa tên là Al-Mu'ayyad Abbas.[917] Khi Al-Mu'ayyad Abbas bị giam cầm bởi một đối thủ tự xưng Imam, Al-Mansur Ahmad, al-Mansur Ali đã thu thập một lực lượng của bộ lạc HashidBakil, ông tiến hành bao vây San'a và buộc đối thủ phải chạy trốn.[918] Do đó, ông chính thức được bổ nhiệm làm Imam lần thứ tư vào tháng 2 năm 1851, tuy nhiên Al-Mansur Ali không thể thắng thế trước những người yêu sách khác. Cùng năm 1851, khi Al-Mansur Ali đang trong chuyến thám hiểm đến cao nguyên trung tâm, thì con trai của Al-Mutawakkil Muhammad là Al-Hadi Ghalib đã chống lại ông, Al-Hadi Ghalib giành được quyền làm Imam, và ông ta hào phóng từ chối trả thù đầy đủ cho kẻ giết cha mình.[919] Al-Mansur Ali bị trục xuất khỏi tổ quốc, ông tiếp tục sống ở vùng lân cận San'a, nhưng không bao giờ có cơ hội để khôi phục lại địa vị nữa.[920]

Năm 1852, Ghalib ibn al-Mutawakkil Muhammad phải rời San'a, người dân đã chọn một thống đốc mới là Ahmad al-Haymi.[921] Triều đại của ông rất hỗn loạn, kể từ khi giao tranh nổ ra với một đối thủ tên là Abbas, họ từng tổ chức một phần của San'a, theo quan điểm của cuộc xung đột dân sự, nhiều người bị bỏ lại cho các thành phố khác.[922] Tuy nhiên, khi Ghalib ibn al-Mutawakkil Muhammad cố gắng vào San'a vào năm 1857, cánh cổng đã bị đóng lại trước mặt ông, Imam và những người theo ông đã bao vây San'a, nhưng người cai trị Hakim đã ngăn cản tham vọng của ông.[923] Năm sau, Haimi không nổi tiếng của Sanaa bị buộc phải chạy trốn, thành phố sau đó được cai trị bởi một thống đốc khác, Muhsin Mu'ayyad.[924] Ghalib ibn al-Mutawakkil Muhammad quyết định theo Đại lý chính trị Anh R. Để. Playfair được công nhận vào khoảng năm 1858, còn Heimi được coi như một bộ trưởng.[925] Vào đầu những năm 1870, Muhsin Mu'ayyad đã trục xuất Imam Al-Mutawakkil Al-Muhsin hiện tại, qua đó khôi phục lại phẩm giá của Ghalib ibn al-Mutawakkil Muhammad.[926]

Vương quốc Mutawakkilite của Yemen[sửa | sửa mã nguồn]
Al-Mansur Bi'dah Muhammad Al-Badr bin Al-Nasir-li-dinu'llah Ahmad

Năm 1962, quốc vương HM al-Nasir-li-Dinullah Ahmad bin al-Mutawakkil 'Alallah Yahya chết trong giấc ngủ, Al-Mansur Bi'dah Muhammad Al-Badr bin Al-Nasir-li-dinu'llah Ahmad được tuyên bố là Imam và King và lấy tước hiệu là al-Mansur.[927] Nhưng chỉ một tuần sau, phiến quân pháo kích nơi cư trú của ông, Dar al-Bashair ở quận Bir al-Azab của Sana'a, Abdullah as-Sallal, người mà HM al-Nasir-li-Dinullah Ahmad bin al-Mutawakkil 'Alallah Yahya chỉ định là chỉ huy của đội bảo vệ hoàng gia, đã tổ chức đảo chính, và tuyên bố mình là tổng thống của Cộng hòa Ả Rập Yemen.[928] Al-Mansur Bi'dah Muhammad Al-Badr bin Al-Nasir-li-dinu'llah Ahmad đã trốn thoát đến phía bắc Yemen, các bộ lạc tập hợp quanh ông, cam kết với lòng trung thành vô điều kiện của họ là Amir al-Mumineen.[929] Vài ngày sau, Al-Mansur Bi'dah Muhammad Al-Badr bin Al-Nasir-li-dinu'llah Ahmad tổ chức một cuộc họp báo về biên giới ở phía tây nam Ả Rập Saudi, người chú Sayf al-Islam al-Hasan của ông, người đã ở nước ngoài và đã được tuyên bố là Imam trước tin tức về sự sụp đổ của cháu mình, ngay lập tức đưa ra lòng trung thành với ông cùng với tất cả các hoàng tử của gia đình Hamid al-Din.[930] Chẳng bao lâu, toàn bộ liên minh bộ lạc Bakil cùng với hầu hết Hashid đang chiếm giữ vùng cao nguyên miền trung và miền bắc Yemen, người Zaydis trong nhiều thế kỷ đã nhiệt tình tham gia vào sự nghiệp của Imam và các hoàng tử để chống lại chế độ cách mạng, như vậy Al-Mansur Bi'dah Muhammad Al-Badr bin Al-Nasir-li-dinu'llah Ahmad lần thứ hai làm vua nhưng lãnh thổ chỉ còn một nửa so với trước kia.[931] Cuộc chiến kéo dài tám năm, Al-Mansur Bi'dah Muhammad Al-Badr bin Al-Nasir-li-dinu'llah Ahmad nhận được hỗ trợ từ Ả Rập Saudi, trong khi những người cộng hòa nhận được hỗ trợ từ Ai Cập.[932] Năm 1970, mặc dù thực tế là phần lớn lãnh thổ Yemen vẫn nằm dưới sự kiểm soát của Al-Mansur Bi'dah Muhammad Al-Badr bin Al-Nasir-li-dinu'llah Ahmad và gia đình Hamid al-Din, nhưng chính phủ Ả Rập Saudi đã công nhận Cộng hòa Ả Rập Yemen, choáng váng trước sự thừa nhận của Ả Rập Xê-út về chế độ cộng hòa đã được đàm phán mà không có bất kỳ ý kiến ​​nào với ông, Al-Mansur Bi'dah Muhammad Al-Badr bin Al-Nasir-li-dinu'llah Ahmad dời khỏi Ả Rập Saudi để sang Anh lưu vong.[933]

Tích Lan[sửa | sửa mã nguồn]

Triều đại Vijaya[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 103 TCN, năm tháng sau khi trở thành vua, một Bà la mônRohana tên là Tissa đã nổi loạn chống lại Vattagamani Abhaya.[934] Cùng lúc đó, một đội quân xâm lược từ Nam Ấn Độ do bảy nhà lãnh đạo Tamils lãnh đạo đã đổ bộ vào Mahatittha, Tissa và bảy nhà lãnh đạo Tamil đều gửi tin cho Vattagamani Abhaya, bảo ông nên trao quyền lực cho họ.[935] Vattagamani Abhaya tương kế tựu kế, ông thông báo cho Tissa rằng vương quốc sẽ là của ông ta nếu ông ta đánh bại quân đội xâm lược, chấp nhận điều này, Tissa đã cố gắng chiến đấu nhưng đã bị quân Tamils ​​đánh bại.[936] Sau đó, bảy nhà lãnh đạo Tamils đã tiến hành chiến tranh chống lại Vattagamani Abhaya, kết quả họ đánh bại ông trong trận chiến tại Kolambalaka.[937] Năm người Dravidian là Pulahatta (103 TCN-100 TCN), Bahiya (100 TCN-98 TCN), Panya Mara (98 TCN-91 TCN), Pilaya Mara (91 TCN-90 TCN) và Dathika (90 TCN-88 TCN) đã lần lượt cai trị Anuradhapura trong suốt 14 năm mặc dù họ đã rơi ra với nhau trong số năm người đang cầm quyền bị giết bởi người kế vị.[938] Về phần Valagamba Abhaya, ông trốn đến Malayarata để đảm bảo an toàn, một nhà sư tên Kuppikkala Mahatissa đã giúp đỡ ông trong công cuộc khôi phục, nhà vua đã tổ chức một đội quân lớn để tấn công Anuradhapura và đánh bại quân đội xâm lược, nhưng một sự rạn nứt giữa Vattagamani Abhaya và thuộc hạ đã khiến họ rời bỏ ông và do đó làm suy yếu quân đội.[939] Tuy nhiên, Tăng đoàn đã mang lại một sự hòa giải và Valagamba Abhaya lại tiếp tục sự chuẩn bị của mình để tấn công Anuradhapura, vào năm 88 TCN, ông đã giành lại ngai vàng sau khi đánh bại Dathika, người cuối cùng trong số các nhà lãnh đạo xâm lược ở Tamils.[940]

Triều đại Moriya[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 632, nhà vua Aggabodhi III mới đăng cơ đã sớm bị thách thức bởi con trai của vị vua trước đó Sangha Tissa II, hoàng tử Jettathissa III.[941] Tuy cũng gây một số tổn thất không nhỏ cho quân nổi dậy, nhưng lực lượng chính của hoàng tử Jettsthissa III thì rất khó bị đánh bại, nhà vua Aggabodhi III thất thế sau một cuộc giao tranh ác liệt, ông tìm nơi ẩn náu ở Ấn Độ, Jettha Tissa III lên ngôi.[942] Năm 633, Aggabodhi III sớm trở lại đứng đầu một đội quân lính đánh thuê lớn của Ấn Độ, quân đội của vua Jettathissa III đã tan rã, Aggabodhi III đã lên ngôi một lần nữa đưa đất nước hòa bình trở lại.[943] Năm 643, Đại tướng Datopatissa của vua Jettha tissa đã lãnh đạo một cuộc nổi loạn và đánh bại vua Aggabodh III, nhà vua lại phải tìm nơi ẩn náu một lần nữa ở Ấn Độ chỉ bằng chiếc vòng cổ, tướng Datasive được đưa lên ngôi với tên giả danh giả là Dathopa Tissa I.[944] Rất nhanh, vua Aggabodhi III ở Ấn Độ đã trở lại lần thứ hai ngay trong năm đó và giành lấy ngai vàng từ Dathopa tissa I, tuy nhiên cũng ngay trong năm đó ông lại bị lật đổ bởi Dathopa Tissa I.[945]

Năm 643, Dathopa Tissa I vừa lên ngôi đã bị lật đổ bởi sự trở lại chóng vánh của vua cũ Aggabodhi III, nhưng ông cũng nhanh chóng giành lại được ngai vàng ngay trong năm đó.[946]

Vương quốc Polonnaruwa[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 1200. nữ vương Lilavati bị cướp ngôi, người thực hiện vụ việc này là Sahass Malla, một hoàng tử của người Okkaka.[947] Năm 1202, Sahass Malla bị tướng Ayasmantha phế truất để ủng lập Kalyanavati.[948] Năm 1208, Dharmasoka làm vua khi còn là đứa trẻ sơ sinh mới ba tháng tuổi, sự kiện trên cũng do một tay tướng Ayasmantha đạo diễn.[949] Đến năm 1209, quân đội Chola xâm lược Anikanga Mahadipada đã khiến cả Ayasmanta và Dhammasoka đều bị giết chết, cha Dhammasoka là Anikanga kế vị trong mười bẩy ngày, sau đó thì cựu nữ vương Lilavati trở lại ngôi báu khi Anikanga bị tướng Vikkantacamunakka ám sát.[950] Một cuộc xâm lược khác từ Nam Ấn Độ được tiến hành từ một đội quân Damila vĩ đại bên bờ biển đối diện đã truất phế Lilavati năm 1210, lãnh đạo của nó là Lokissara, đưa toàn bộ Lanka dưới quyền của mình và trị vì, cư ngụ ở Pulatthinagara trong chín tháng.[951] Năm 1211, Lokissara bị Parakrama phế truất, người giỏi nhất trong số những người đàn ông quyết định, có sức mạnh và lòng can đảm lớn, người khánh thành ngôi vị lần thứ ba của Lilavati trên ngai vàng.[952] Nhưng sự kéo dài quyền lực cuối cùng này đối với nữ vương cũng chỉ diễn ra trong bảy tháng trước khi bà bị Parakrama xứ Pandya phế trừ ngôi vị vào năm 1212, Parakrama tự xưng là vua ở Rajarata, như vậy Lilavati đến đây mới chính thức biến mất khỏi hồ sơ lịch sử.[953]

Vương quốc Gampola[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 1391, Vijayabahu VI bị lật đổ bởi Vira Bahu II, ông trở lại nắm quyền với sự giúp đỡ của lính đánh thuê nước ngoài vào năm 1399.[954] Vijayabahu VI cai trị cho đến năm 1411, sau đó ông đối đầu với Đô đốc nhà Minh Trịnh Hòa, kết thúc cuộc Chiến tranh Minh-Kotte, ông bị bắt đến Trung Quốc, và được thả về nước một năm sau đó nhưng chỉ còn là phế vương vì người Minh đã lập Parakramabahu Epa lên ngôi.[955]

Vương quốc Jaffna[sửa | sửa mã nguồn]

Triều đại Aliya Buchanah Roval:

Năm 1450, Kangasuriya Singai Aryan bị phế truất bởi Sapumal Kumaraya, một thủ lĩnh quân sự do Parakramabâhu VI gửi từ Vương quốc Kotte đối địch ở miền nam.[956] Kanakasooriya Singai Aryan đã trốn thoát đến MaduraiNam Ấn cùng với hai con trai của mình, Sapumal Kumaraya cai trị Vương quốc Jaffna với tư cách là một vị vua phụ và thậm chí còn đúc tiền theo truyền thống của đồng tiền Setu, đồng tiền bản địa của Vương quốc Jaffna.[957] Sau cái chết của Parakramabahu VI vào năm 1467, Sapumal Kumaraya rời Nallur, thủ đô mà ông ta đã xây dựng cho Kotte để tham gia vào một cuộc đấu tranh để kế thừa ngai vàng ở Kotte.[958] Mặc dù Sapumal Kumaraya đã chiến thắng và cai trị Kotte với vương hiệu Bhuvanaikabahu VI, nhưng không thể ngăn chặn Kangasuriya Singai Aryan và hai con trai của ông trở về từ Madurai phục vị, đi kèm với lính đánh thuê ngoại quốc để tái chiếm Vương quốc Jaffna.[959]

Vương quốc JaffnaVương quốc Kotte[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 1467, sau 17 năm thống trị Vương quốc Jaffna, Bhuvanaikabahu VI rời khỏi xứ này để trở về Vương quốc Kotte của mình nhằm đấu tranh quyền lực sau cái chết của vua Parâkramabâhu VI, cựu vương của Jaffna là Kanakasooriya Cinkaiariyan nhân cơ hội đem quân về khôi phục đất nước.[960] Còn về phần Bhuvanaikabahu VI, ông phải tham gia và cuộc chiến cam go khốc liệt chống lại vị vua đương nhiệm của vương quốc Kotte là Vira Parakramabahu, kết quả ông giành chiến thắng quyết định vào năm 1472 và đoạt lấy ngai vàng.[961]

Triều đại Kandy Nayakar[sửa | sửa mã nguồn]
Sri Vikrama Rajasimha

Ngay từ khi lên ngôi, Sri Vikrama Rajasinha đã phải đối mặt với nhiều âm mưu lật đổ, ông là vị vua trị vì qua một trong những thời kỳ hỗn loạn nhất lịch sử Sri Lanka.[962] Bấy giờ, người Anh đã thành công khi đàm phán với người Hà Lan ở các tỉnh hàng hải đã không can thiệp vào chính trị của Kandy, nhưng Pilimirthauwa, Adigar đầu tiên của nhà vua, bắt đầu các hoạt động bí mật với người Anh để kích động nhà vua thực hiện các hành động xâm lược, điều này sẽ cho người Anh một cái cớ để chiếm lấy Vương quốc.[963] Adigar đã thao túng nhà vua để bắt đầu một cuộc xung đột quân sự với người Anh, người đã giành được vị trí vững chắc ở các tỉnh ven biển, chiến tranh được tuyên bố và vào ngày 22 tháng 3 năm 1803, người Anh tiến vào Kandy mà không gặp phải sự kháng cự nào, Sri Vikrama Rajasinha phải bỏ trốn.[964] Không lâu sau, lực lượng trung thành với Sri Vikrama Rajasimha đã đánh tan quân đồn trú của Anh ở Kandy vào tháng 6 và khôi phục nhà vua lên ngôi, nhưng Pilimitalava lại âm mưu lật đổ nhà vua và tự mình giành lấy vương miện, âm mưu của ông này đã bị phát hiện, bị bắt đem ra xử tử.[965] Cháu trai Pilimitalava là Ehelepola Nilame quật khởi để trả thù nhưng bị thất bại, ông này chạy trốn đến lãnh thổ do Anh kiểm soát, thuyết phục người Anh rằng chế độ chuyên chế của Sri Vikrama Rajasinha xứng đáng được can thiệp quân sự.[966] Cái cớ được cung cấp bởi sự bắt giữ của một số thương nhân người Anh, những người đã bị giam giữ vì nghi ngờ làm gián điệp và bị tra tấn, giết chết một số trong số họ.[967] Một cuộc xâm lược quy mô lớn đã được gắn kết và tiến tới Kandy mà không gặp phải sự kháng cự nào, đến thành phố vào ngày 10 tháng 2 năm 1815, vào ngày 2 tháng 3, vương quốc đã được nhượng lại cho người Anh theo một hiệp ước gọi là Công ước Kandyan.[968]

Mạnh Gia Lạp[sửa | sửa mã nguồn]

Triều đại Khilji dưới Vương quốc Mamluk[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 1210, Ali Mardan Khalji đã truất ngôi Ghiyasuddin Iwaj Shah và tự phong mình là vị vua độc lập của Bengal.[969] Nhưng hai năm sau, sự độc ác và tàn bạo của Ali Mardan Khalji đã khiến các triều thần phẫn nộ, kết quả năm 1212 họ đã nổi loạn ám sát ông ta, Ghiyasuddin Iwaj Shah được đưa trở lại ngai vàng.[970]

Thống đốc Bengal dưới Vương quốc Hồi giáo Mamluk Delhi[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 1246, vua Narasimhadeva I của Orissa hưng binh xâm chiếm miền nam Bengal, Tughral Tu Afghanistan Khan đã đẩy lùi quân đội Orissa và chiếm được pháo đài Katasin ở Orissa.[971] Nhưng khi quân đội của Tughral Tu Afghanistan Khan đang ăn mừng chiến thắng, những người lính Orissa bất ngờ phản công và đánh bại họ, tiếp đó truy đuổi những người lính của ông đến tận Lakhnauti, thủ đô của Bengal và bao vây thành phố, tất cả những người Hồi giáo ở Lakhnauti đều bị giết.[972] Tughral Tu Afghanistan Khan tìm kiếm sự hỗ trợ từ sultan Delhi là Alauddin Masud Shah, Alauddin Masud Shah đã phối hợp cùng Karakash Khan của KaraTughlaq Tamar Khan của Oudh để giúp Tu Afghanistan Khan, nghe thấy cách tiếp cận của quân đội Delhi, quân đội Orissa đã rút về, nhưng chính Tughlaq Tamar Khan lại lợi dụng tình huống đó để trục xuất Tu Afghanistan Khan buộc ông phải chạy trốn đến Delhi.[973] Từ năm 1246 đến 1272, lần lượt những nhân vật chính trị sau làm chủ Vương quốc Hồi giáo Mamluk Delhi: Tughlaq Tamar Khan (12461247), Jalaluddin Masud Jani (12471251), Malik Ikhtiyaruddin Iuzbak (12511257), Ijjauddin Balban Iuzbaki (12571259), Tatar Khan (12591268), Sher Khan (12681272) và Amin Khan (1272).[974] Còn Tu Afghanistan Khan sau đó được bổ nhiệm làm thống đốc Oudh bởi Quốc vương Alauddin Masud Shah, cho đến năm 1272 ông được bổ nhiệm lại Bengal nhưng chỉ là phó thống đốc dưới quyền Amin Khan, nhiệm vụ lần này là tái chiếm và bình định xứ này, phần lớn nằm dưới sự kiểm soát của vương triều Đông Ganga kể từ sau cái chết của Ikhtiyaruddin Iuzbak năm 1257.[975] Tuy nhiên, Tughral Tu Afghanistan Khan đã phế truất Amin Khan với sự giúp đỡ của những người trung thành cũ của mình, đồng thời tuyên bố mình là Quốc vương của Bengal, ông lấy tên mới là Mughisuddin Tughral.[976]

Nhà Raja Ganesha[sửa | sửa mã nguồn]
Raja Ganesha

Năm 1414, Shihabuddin Bayazid Shah băng hà, Raja Ganesha lên ngôi vua của vương quốc Bengal sau một cuộc đảo chính lật đổ vương triều Ilyas Shahi, ông tiêu diệt thế lực chống đối tự xưng của Alauddin Firuz Shah I.[977] Năm 1415, Raja Ganesha chuyển giao quyền lực cho con trai mình là Jalaluddin Muhammad Sha, duyên cớ cuộc thay bậc đổi ngôi này phải kể từ ngay sau khi ông nắm quyền lực ở Pandua, ông đã đàn áp người Hồi giáo ở Bengal và xoay một số người trong số họ.[978] Sau đó, một người Hồi giáo Chishti là Shaikh Nur Qutb-ul-Alam đã viết một lá thư cho Quốc vương Jaunpur, Ibrahim Shah Sharqi với lời kêu gọi xâm chiếm Bengal và lật đổ Raja Ganesha.[979] Nhưng khi Ibrahim Shah Sharqi đem quân đội tiến đánh, Raja Ganesha đã yêu cầu Shaikh Nur Qutb-ul-Alam xin ân xá và bảo vệ, các shaikh đồng ý với điều kiện đưa Jadu, con trai mười hai tuổi của Raja Ganesha lên làm vua, chuyển đổi sang đạo Hồi và đổi tên thành Jalaluddin Muhammad Shah.[980] Năm 1416, Shaikh Nur Qutb-ul-Alam chết, Raja Ganesha đã ép Jalaluddin Muhammad Sha phải trả ngôi vị cho mình, nhưng chỉ hai năm sau ông cũng chết.[981]

Năm 1415, đối mặt với một mối đe dọa sắp xảy ra của cuộc xâm lược theo lệnh của một vị thánh Hồi giáo mạnh mẽ tên là Shaikh Nur Qutb-ul-Alam, Raja Ganesha đã kêu gọi vị thánh này chấm dứt mối đe dọa của mình.[982] Vị thánh đồng ý với điều kiện con trai của Raja Ganesha là Jalaluddin Muhammad Sha sẽ chuyển sang đạo Hồi và cai trị ở vị trí của mình, do đó Jalaluddin Muhammad Sha bắt đầu cai trị Bengal với tư cách là Jalal al-Din.[983] Shaikh Nur Qutb-ul-Alam qua đời vào năm 1416 và Raja Ganesha được khuyến khích để hạ bệ con trai mình để lên ngôi lần thứ hai với hiệu là Danujamarddana Deva, Jalaluddin Muhammad Sha đã được nghi thức chuyển đổi sang Ấn Độ giáo theo nghi lễ Golden Cow.[984] Sau cái chết của cha mình năm 1418, một lần nữa ông chuyển sang đạo Hồi, bắt đầu cai trị giai đoạn thứ hai ở Bengal.[985]

Suba Bengal[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 1647, Prince Shah Shuja từ bỏ ngôi vị ở Bengal vì nhiều vấn đề nan giản khó hiểu, đến năm 1652 ông tuyên bố phục vị.[986] Đến năm 1657, cha của ông là hoàng đế Shah Jahan lâm trọng bệnh, Prince Shah Shuja tự lập làm vua, cùng ba người anh em khác là: Dara Shikoh, AurangzebMurad Baksh gây ra cuộc nội chiến tranh giành ngai vàng đẫm máu.[987] Kết cục, Aurangzeb giành thắng lợi cuối cùng, Prince Shah Shuja phải lưu vong sang Arakan, ông xung đột với quốc vương Sanda Thudhamma xứ này nhưng thất bại mà bị giết chết.[988]

Nawabs của BengalMurshidabad[sửa | sửa mã nguồn]

Triều đại Nasiri:

Sarfaraz Khan

Năm 1727, Murshid Quli Khan của Bengal qua đời, trước lúc lâm chung đã đề cử cháu ngoại Sarfaraz Khan là người tiếp nhiệm vì không có người thừa kế trực tiếp, Sarfaraz Khan lên ngôi lần thứ nhất theo cách như vậy.[989] Nhưng cha của Sarfaraz Khan, Shuja-ud-Din Muhammad Khan, lúc đó đang là Subahdar của Orissa, đã kéo quân về kinh đô đòi hỏi quyền lực.[990] Để tránh mâu thuẫn trong gia đình, người hạ cấp Begum của Nawab đã yêu cầu Sarfaraz Khan thoái vị ủng hộ cha mình, như vậy Shuja-ud-Din Muhammad Khan trở thành vua ở Bengal và Murshidabad.[991] Năm 1739, Shuja-ud-Din Muhammad Khan lìa đời, Sarfaraz Khan chính thức nối ngôi với danh hiệu Ala-ud-Din Haidar Jang.[992] Triều đại thứ hai của Sarfaraz Khan chỉ tồn tại 13 tháng, ông bị Alivardi Khan đánh bại trong một cuộc xung đột trực tiếp, trận chiến ngắn nhưng đẫm máu và dữ dội với "tiêu chuẩn trung thành" thời bấy giờ, kết cục đã được quyết định sớm bởi Sarfaraz Khan rơi xuống chết ngay tại chỗ bởi một viên đạn bắn thẳng vào tim.[993]

Mir Jafar Ali Khan Bahadur (trái) và con trai cả của ông Mir Miran (phải)

Năm 1760, Công ty Đông Ấn Anh buộc Mir Jafar Ali Khan Bahadur phải thoái vị để ủng hộ Mir Qasim, con rể của ông.[994] Nguyên do cuộc thiện nhượng này là vì Mir Qasim đóng vai trò quyết định trong trận chiến Plassey đánh bại các đồng minh Pháp năm 1757, Mir Jafar Ali Khan Bahadur nhận được sự hỗ trợ quân sự từ Công ty Đông Ấn Anh, nhưng không thể đáp ứng các yêu cầu khác nhau của Anh.[995] Năm 1758, Robert Clive (Tổng tư lệnh Anh Ấn Độ) phát hiện ra Mir Jafar Ali Khan Bahadur đã thực hiện một hiệp ước với người Hà Lan tại Chinsurah thông qua người đại diện Khoja Wajid, các tàu chiến của Hà Lan cũng được nhìn thấy ở sông Hooghly, hoàn cảnh dẫn đến trận chiến Chinsurah.[996] Henry Vansittart, quan chức của công ty Đông Ấn Anh cho rằng Mir Jafar Ali Khan Bahadur không thể đương đầu với những khó khăn, trong khi Mir Qasim, con rể của ông nên đóng vai trò Phó Subahdar.[997] Sau khi lên ngôi, Mir Qasim trả ơn người Anh bằng những món quà xa hoa để làm hài lòng họ, ông ta đã cướp của cải trong dân chúng, tịch thu đất đai làm cho cạn kiệt ngân khố.[998] Tuy nhiên, Mir Qasim đã sớm mệt mỏi với sự can thiệp của Anh, ông ta khao khát thoát khỏi ảnh hưởng của công ty Đông Ấn.[999] Mir Qasim đã chuyển thủ đô của mình từ Murshidabad sang MungerBihar ngày nay, nơi ông ta đã xây dựng quân đội độc lập, tài trợ cho họ bằng cách hợp lý hóa việc thu thuế.[1.000] Tuy nhiên, tinh thần độc lập của Mir Qasim và kế hoạch thoát khỏi sự thống trị của công ty Đông Ấn đã dẫn đến sự lật đổ của ông ta, và Mir Jafar Ali Khan Bahadur được khôi phục thành Nawab vào năm 1763 với sự hỗ trợ của công ty Đông Ấn.[1.001]

Ấn Độ[sửa | sửa mã nguồn]

Tây Kshatrapas[sửa | sửa mã nguồn]

Triều đại Bhadramukhas:

Năm 175, Jivadaman bị cướp chính quyền khi mới lên ngôi chưa ngồi nóng chỗ, người chiến thắng là Rudrasimha I.[1.002] Từ năm 188-191, Isvaradatta là người đoạt được quyền lực, xen giữa hai thời kỳ ngự trị của Rudrasimha I.[1.003] Năm 197, Rudrasimha I qua đời, Jivadaman lên làm vua lần thứ hai.[1.004]

Năm 188, Isvaradatta lên ngôi vua, Rudrasimha I bị lật đổ phải lưu vong nơi đất khách quê người.[1.005] Năm 191, Isvaradatta bị giết chết, Rudrasimha I hồi hương phục tịch.[1.006]

Vương triều Chalukya[sửa | sửa mã nguồn]

Chalukya xứ Kalyani:

Năm 1068, ngôi vị của Vijay Aditya VI bị gián đoạn bởi nhiều nguyên nhân lý do khác nhau, có cả khách quan lẫn chủ quan.[1.007] Năm 1072, ông lấy lại được giang sơn xã tắc của mình.[1.008]

Đế quốc Vijayanagara[sửa | sửa mã nguồn]

Nhà Sangama:

Năm 1469, Rajasekhara bị thay thế bởi Virupaksha I, sau đó đến lượt Praudha Deva Raya.[1.009] Ông khôi phục lại địa vị vào năm 1479, nhưng chỉ non một năm thì mất quyền lực bởi Virupaksha II.[1.010] Năm 1486, lần thứ ba Rajasekhara giành lại ngôi báu, nhưng rốt cuộc cũng không giữ nổi, triều đại của ông kết thúc năm 1487, vua Narasimha nhà Saluva lên ngôi chấm dứt sự tồn tại của nhà Sangama.[1.011]

Đế quốc Mogul[sửa | sửa mã nguồn]
Nasiruddin Humayun

Năm 1539, Nasiruddin Humayun do quá đắm mình vào những trò vui thanh sắc nên đã mất vương quốc về tay một nhà quý tộc Afghanistan, Sher Shah Sur (tức Sher Khan).[1.012] Sher Shah đã thiết lập nhà Sur trên lãnh thổ cũ của Nasiruddin Humayun, còn Nasiruddin Humayun lại lặp lại số phận của vua cha Ẓahīr-ud-Dīn Muhammad, trở thành một kẻ lang thang không nhà cửa trên miền Tây Nam Á.[1.013] Sher Shah Sur mất năm 1545, nhà Sur phát sinh nội loạn, liên tiếp có những cuộc thanh trừng sát phạt đẫm máu, lần lượt các vua: Islam Shah (1545-1553), Muhammad V(1553-1554), Firuz (1554), Ibrahim III (1554-1555) và Sikander Shah (1555) thay nhau cướp chính quyền về tay mình.[1.014] Nasiruddin Humayun lúc đó đang lưu vong ở Ba Tư, ông đã mượn binh nước này mở cuộc tiến công quy mô lớn vào Delhi, giành lại được đất nước, đuổi thế lực của nhà Sur trở về Afghanistan năm 1555.[1.015] Sau nhiều năm bôn ba mệt mỏi, cảm thấy mình không thể sống được lâu nữa, Nasiruddin Humayun đã quyết định chọn người con trai Akbar làm Hoàng thái tử và cử quan tể tướng Bairam Khan làm nhiếp chính, ông qua đời năm 1556.[1.016]

Muhammad Shah

Ngày 15 tháng 10 năm 1720, Abul Fath Zahir-ul-din Muhammad Ibrahim khỏi nhà tù và được đặt lên ngai vàng của đế quốc Mogul, Muhammad Shah bị lật đổ.[1.017] Abul Fath Zahir-ul-din Muhammad Ibrahim được anh em nhà Sayyid (thuật ngữ dùng để nhắc đến Syed Hussain KhanSyed Hassan Ali Khan Barha, những người có quyền lực thực tế trong đế quốc Mughal thời bấy giờ) chỉ định làm người kế vị anh trai mình.[1.018] Tuy nhiên, ông này đã bị Muhammad Shah đánh bại trong trận chiến Hasanpur, và bị phế truất vào ngày 13 tháng 11 năm 1720, bị đưa trở lại nhà tù trong tòa thành Shahjahanabad.[1.019] Một tứ tấu được trích dẫn bởi Khush-hal Chand nói, ngày quyền lực của Abul Fath Zahir-ul-din Muhammad Ibrahim ngắn ngủi, "giống như một giọt sương trên một ngọn cỏ".[1.020] Muhammad Shah để giành lại sự cai trị của mình, đã sắp xếp cho anh em bị giết với sự giúp đỡ của Nizam-ul-Mulk Asaf Jah, Syed Hussain Ali Khan đã bị sát hại tại Fatehpur Sikri vào năm 1720, và Syed Hassan Ali Khan Barha bị đầu độc vào năm 1722.[1.021]

Nhà nước Assam[sửa | sửa mã nguồn]

Triều đại Induvamsha (Ahom):

Năm 1792, Baratha Singh Mahamari giành quyền kiểm soát nhà nước Assam từ tay Suhitpangpha Gaurinathasimha.[1.022] Trong những năm 1793-1796, người thống trị xứ này là Sarvananda Singh, Baratha Singh Mahamari bị hạ bệ cho đến năm 1796 mới lấy lại địa vị.[1.023] Nhưng Suhitpangpha Gaurinathasimha đã trở lại, điều đó khiến cuộc phục tích của Baratha Singh Mahamari chỉ như áng phù vân, vừa mới tụ lại đã bị gió thổi tan biến.[1.024]

Năm 1793, ngôi báu Baratha Singh Mahamari mới đoạt được một năm đã bị cướp mất, người thực hiện cuộc chính biến này là Sarvananda Singh.[1.025] Năm 1796, Baratha Singh Mahamari cố gắng cướp chính quyền lần thứ hai nhưng không ăn thua, bởi Suhitpangpha Gaurinathasimha đã quay về dẹp tan cả Baratha Singh Mahamari lẫn Sarvananda Singh đang trong thế giằng co để đăng cơ lần thứ nhì.[1.026]

Năm 1818, Purendrasimha Narendra nhảy lên nắm quyền sau khi đánh bại Sudinpha Chandrakantasimha Narendra, nhưng âm mưu của cung điện Ahom và sự hỗn loạn chính trị do cuộc nổi loạn Moamoria, đó là cái cớ để người Miến Điện tấn công Assam và đưa Sudinpha Chandrakantasimha Narendra trở lại ngôi vị vào năm 1819.[1.027] Năm 1821, việc Sudinpha Chandrakantasimha Narendra chuyển lòng trung thành của mình sang phía người Anh, đã dẫn dắt người Miến Điện đem quân xâm chiếm Assam, Yogeshvarasimha được người Miến Điện đưa lên ngai vàng.[1.028] Sudinpha Chandrakantasimha Narendra phải bỏ chạy, nhưng đến năm 1822 ông đem quân trở lại, lật đổ được Yogeshvarasimha để phục tịch, Yogeshvarasimha chạy theo quân Miến Điện.[1.029] Ít lâu sau, viện binh Miến Điện kéo sang, biến xứ này thành một tỉnh của Miến Điện dưới quyền một tổng đốc quân sự vào năm 1822, Sudinpha Chandrakantasimha Narendra thất bại toàn diện, Yogeshvarasimha tuy lên ngôi lần hai nhưng thực tế chỉ là bù nhìn mà thôi.[1.030]

Năm 1819, Purendrasimha Narendra mất ngôi, người tiền nhiệm Sudinpha Chandrakantasimha Narendra quay lại đoạt vị bởi được quân Miến Điện hỗ trợ.[1.031] Cuộc chiến tranh Anh-Miến Điện xảy ra vào năm 1824, kết thúc theo Hiệp ước Yandabo năm 1826, với việc Công ty nắm quyền kiểm soát Hạ Assam và đưa Purendrasimha Narendra lên làm vua của Thượng Assam 1833.[1.032] Sự sắp xếp kéo dài đến năm 1838 và sau đó người Anh dần sáp nhập toàn bộ khu vực, từ đó nhà nước Assam bị bãi bỏ, chính thức sát nhập vào thuộc địa Ấn Độ nằm trong đế quốc Anh.[1.033]

Năm 1822, Yogeshvarasimha được người Miến Điện ủng lập khi họ đánh đuổi Sudinpha Chandrakantasimha Narendra, nhưng ông bị thất bại ngay trong năm đó bởi Sudinpha Chandrakantasimha Narendra.[1.034] Tuy nhiên, chỉ ít lâu sau người Miến Điện đưa lực lượng trở lại, Yogeshvarasimha danh nghĩa làm vua nhưng quyền lực bị chi phối bởi một tổng đốc quân sự người Miến Điện, địa vị của ông chấm dứt sau cuộc chiến tranh Anh-Miến lần thứ nhất năm 1826.[1.035]

Nhà nước Ajaigarh[sửa | sửa mã nguồn]

Triều đại Bundela:

Năm 1793, Bakht Singh đánh mất ngôi. Sau đó lần lượt trải qua các đời vua: Ali Bahadur (1793-1802), Shamsher Bahadur Rajas(1802-1804), Lakshman Dawa (1804- 1807) cho đến khi Bakht Singh khôi phục quyền lực của mình. [1.036]

Nhà nước Baghal[sửa | sửa mã nguồn]

Triều đại Baghalia:

Năm 1805, nhà nước Baghal bị vương quốc Nepal chiếm đóng suốt mười năm ròng rã, vua Jagat Singh trở thành tù nhân, được đem đi lưu đày ở Nalagarh.[1.037] Năm 1815, Jagat Singh nhờ sự can thiệp của đại Anh Quốc nên được trả tự do, ông quay về cố hương phục tịch.[1.038]

Nhà nước Vadodara[sửa | sửa mã nguồn]

Triều đại Gaekwads:

Năm 1771, Govindrao I bị buộc phải thoái nhiệm, nguyên do Fateh Singh I đến Poona và nhận được từ Peshwa việc xem xét lại quyết định của mình, Sayaji Rao I được công nhận là Sena Khas Khel và Fateh Singh đóng vai trò nhiếp chính.[1.039] Đến năm 1774, Fateh Singh I đảo ngược quyết định ủng hộ Sayaji Rao I và công nhận đồng minh Govind Rao I cũ của ông ta là Sena Khas Khel, nhưng chẳng bao lâu sau Fateh Singh I cũng bị trục xuất khỏi Poona.[1.040] Năm 1778, cán cân quyền lực ở Vadodara lại có sự xáo trộn, Fateh Singh một lần nữa nhận được sự bổ nhiệm làm nhiếp chính và Sayaji Rao I quay trở lại làm Sena Khas Khel.[1.041] Govind Rao I mất ngôi lần thứ hai, đến năm 1792, Sayaji Rao I qua đời, Manaji Rao Gaikwar (người đang giữ quyền nhiếp chính sau khi quật đổ được Fateh Singh I năm 1789) tuyên bố lên làm Sena Khas Khel.[1.042] Bất chấp yêu sách của Govind Rao I, người nắm quyền lực Manaji Rao Gaikwar đã trả một số tiền lớn cho Peshwa Maratha de Poona để được xác nhận.[1.043] Trong khi đó, Sindhia lại ủng hộ Govind Rao I và sự cạnh tranh giữa ông và Manaji Rao Gaikwar vẫn tồn tại cho đến khi cái chết sau đó của Manaji Rao Gaikwar ở Baroda vào ngày 27 tháng 7 năm 1793, Manaji Rao Gaikwar lại sống độc thân và không có con.[1.044] Sau đó, Govind Rao I, với một khoản thanh toán mạnh mẽ, cuối cùng đã có thể tiếp cận quyền lực vào tháng 8 năm 1793, ông nhận được danh hiệu Sena Khas Khel lần thứ ba.[1.045]

Năm 1774, Sayaji Rao I mất ngôi bởi sự trở lại của người anh em Govind Rao I.[1.046] Năm 1778, Sayaji Rao I phục vị và trị vì cho đến khi qua đời.[1.047]

Năm 1774, quyền nhiếp chính của Fateh Singh I không còn duy trì được bởi Govind Rao I phục bích.[1.048] Năm 1778, Fateh Singh I trở lại, ông nắm giữ cương vị cho đến khi bị Manaji Rao Gaikwar lật nhào năm 1789.[1.049]

Nhà nước Barwani[sửa | sửa mã nguồn]

Triều đại Shishodhya:

Năm 1861, Jashwant Singh bị buộc phải thoái vị, ngai vàng của Barwani bị bỏ trống bởi sự quản trị trực tiếp của đế quốc Anh. Jashwant Singh [1.050] Năm 1873, chính quyền Anh quyết định khôi phục nhà nước Barwani với phương châm dùng người bản xứ trị người bản xứ, Jashwant Singh được đưa trở lại ngôi vị.[1.051]

Nhà nước Bashahr[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 1887, Raghunath Singh giành quyền kiểm soát tại Bashahr sau cuộc chính biến đẫm máu, Shamsher Singh đánh mất ngôi vị phải bỏ chạy.[1.052] Năm 1898, nhà nước Bushahr bị chính quyền Anh tiếp quản, Raghunath Singh bị lật đổ, Shamsher Singh được đưa trở về vị trí ban đầu.[1.053]

Nhà nước Bhajji[sửa | sửa mã nguồn]

Triều đại Pal:

Năm 1803, Rudrapal cùng với Purana Chandra của nhà nước Jubbal đều trở thành "vong quốc chi quân" khi giang sơn xã tắc của họ đều bị vương quốc Nepal chiếm đóng.[1.054] Năm 1815, Rudrapal đã lãnh đạo quần chúng nổi dậy đánh đuổi quân xâm lược, giành lại độc lập tự do cho tổ quốc, như vậy lần thứ hai ông bước lên ngôi báu.[1.055]

Nhà nước Bharatpur[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 1825, Balwant Singh lên ngôi lúc 5 tuổi, ông được nhiếp chính dưới quyền của mẹ mình và giám thị của Đại lý chính trị, nhưng Balwant Singh chưa kịp ngồi vững trên ngai vàng thì bị người chú Maharaja Durjan Sal thách thức bằng việc lật đổ rồi bỏ tù.[1.056] Charles Metcalf, thống đốc mới của Anh ở Delhi, đã can thiệp vào cuộc tranh chấp và phái quân đội của công ty Đông Ấn tấn công pháo đài Bharatpu, họ tập trung nhân lực vào ngày 10 tháng 12 năm 1825.[1.057] Năm 1826, các lực lượng viễn chinh Anh đã kéo đến bao vây Bharatpur trong ba tuần và vào ngày 18 tháng 1, pháo đài mà trước đây được coi là bất khả xâm phạm, đã bị quân đội dưới quyền của tử tước Lord Comber phá hủy, Maharaja Durjan Sal sau đó bị đem đi giam cầm tại Allahabad, Balwant Singh quay trở lại cầm quyền.[1.058]

Nhà nước Bundi[sửa | sửa mã nguồn]

Triều đại Hara Chauhan:

Năm 1770, Ajit Singh lên ngôi, lần trị vì đầu tiên của Umaid Singh chấm dứt.[1.059] Năm 1773, Ajit Singh qua đời, lần trị vì thứ nhì của Umaid Singh bắt đầu.[1.060]

Ram Singh
Nhà nước Dhar[sửa | sửa mã nguồn]

Triều đại Ponwar:

Năm 1858, nhà nước Dhar bị bãi bỏ, Anand Rao III Puar mất ngôi.[1.061] Nguyên nhân vì Anand Rao III Puar đã hỗ trợ chính quyền bang trong cuộc nổi dậy của người Sipais, thời kỳ này quân đội Anh chiếm đóng trực tiếp quản lý Dhar.[1.050] Ngày 21 tháng 11 năm 1864, người Anh khôi phục nhà nước Dhar, Anand Rao III Puar trở lại ngai vàng, ngoại trừ quận Bairasia, được cấp cho Sekandar Begum của Bhopal.[1.062]

Vijay Singh
Nhà nước Marwar[sửa | sửa mã nguồn]

Triều đại Rathor:

Ram Singh bị đánh bại trong trận chiến bởi chú Bakht Singh tại Luniawas ngày 27 tháng 11 năm 1750 và bị trục xuất khỏi Jodhpur vào năm 1751, ông tìm nơi ẩn náu ở Jaipur.[1.063] Năm 1752, quyền lực còn chưa kịp củng cố thì Bakht Singh đột ngột qua đời, con trai là Vijay Singh thay thế.[1.064] Năm 1753, Ram Singh tiến hành chính biến, lật đổ được người anh em họ Vijay Singh, qua đó giành quyền cai trị lần thứ hai cho đến lúc chết.[1.065]

Bhim Singh

Ngày 31 tháng 1 năm 1753, Vijay Singh bị người anh em họ Maharaja Ram Singh phế truất, ông đã trở lại gadi lần thứ hai sau cái chết của Maharaja Ram Singh vào năm 1772.[1.066]

Ngỳ 20/03/1793, sau ngót một năm chiếm giữ Mehrangarh và tự xưng là người cai trị thay cho ông của mình từ ngày 13 tháng 4 năm 1792, Bhim Singh đầu hàng và rút lui cho jagir cá nhân của mình tại Sawana.[1.067] Gần bốn tháng sau, Bhim Singh một lần nữa chiếm giữ pháo đài, bắt giam Man Singh (người kế vị của Vijay Singh) và tuyên bố mình là người cai trị lần thứ hai vào ngày 17 tháng 7 năm 1793, ông đã dành toàn bộ triều đại của mình để tranh giành sự kế vị với các chú và anh em họ của mình.[1.068]

Nhà nước Jubbal[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 1803, nhà nước Jubbal bị Đế chế Gorkhali chiếm đóng, vua Purana Chandra phải bỏ chạy.[1.069] Năm 1815, Purana Chandra phục bích, đánh đuổi được giặc ngoại xâm ra khỏi bờ cõi. Năm 1832, đế quốc Anh công chiếm Jubbal, vua Purana Chandra không chống cự nổi đành chịu mất ngôi lần thứ hai. Năm 1840, ông khôi phục lại địa vị lần thứ ba, nhưng đáng tiếc ông lại qua đời khi còn chưa kịp ổn định tình hình đất nước ngay trong năm đó.[1.070]

Nhà nước Junagadh[sửa | sửa mã nguồn]

Triều đại Babi:

Năm 1760, triều đại vua Shri Diwan Nawab Muhammad Mahabat Khanji I Bahadurkhanji gián đoạn bởi sự tiếm quyền của Shri Diwan Nawab Muzaffar Khanji Ja'afarkhanji.[1.071] Năm 1762, Shri Diwan Nawab Muzaffar Khanji Ja'afarkhanji bị đánh bại và phế truất khi Shri Diwan Nawab Muhammad Mahabat Khanji I Bahadurkhanji trốn thoát khỏi nơi giam giữ và tổ chức binh biến để khôi phục địa vị.[1.072]

Bhonsle Maharaja xứ Thanjavur[sửa | sửa mã nguồn]
Serfoji II

Vương quốc Thanjavur Maratha:

Năm 1793, sau thời gian nhiếp chính, Amar Singh đã quyết định chiếm lấy ngai vàng sau khi hạ bệ vua Serfoji II (cũng là cháu nuôi của ông này) và cai trị với tư cách là người cai trị tuyệt đối của Thanjavur từ đó đến năm 1798.[1.073] Amar Singh chống lại những nỗ lực của đế quốc Anh để chiếm lấy vương quốc cho đến thời điểm ông ta ký gửi có lợi cho cháu trai nuôi của mình, Serfoji II vào năm 1798.[1.074] Trong khi đó, người Anh đã ra mặt đưa Serfoji II lên ngôi vua lần thứ hai tại Thanjavur. Để đổi lấy sự giúp đỡ của họ, Serfoji II đã buộc phải nhượng lại chính quyền vương quốc cho người Anh và đổi lại, được cấp một khoản trợ cấp hàng năm chùa 100.000 sao và một phần năm doanh thu đất của nhà nước.[1.075] Chủ quyền của Serfoji II bị giới hạn ở Pháo đài Thanjavur và các khu vực lân cận, do đó ông được nhớ đến trong lịch sử trong vai trò là người cai trị có chủ quyền cuối cùng của Thanjavur.[1.076]

A Mạn[sửa | sửa mã nguồn]

Triều đại Yaruba:

Năm 1718, Saif bin Sultan II thừa hưởng sự lãnh đạo của đất nước khi còn nhỏ, nhưng ông đã bị đẩy sang một bên do nhưng phe cánh ủng hộ anh trai Muhanna bin Sultan của ông vào năm sau.[1.077] Năm 1720, Muhanna bin Sultan bị phế truất, và Saif bin Sultan II lần thứ hai được tuyên bố là Imam, mặc dù quyền lực được nắm giữ bởi một nhiếp chính Ya'arab bin Bel'arab, người sau đó tự xưng là Imam vào năm 1722.[1.078] Năm 1723, quyền lực của Ya'arab bin Bel'arab bị phế trừ, Saif bin Sultan II được tuyên bố là Imam một lần nữa, và sau một cuộc nội chiến lại bị phế truất vào năm 1724.[1.079] Chiến đấu tiếp tục, và năm 1728 Saif bin Sultan II trở thành Imam lần thứ tư, tuy nhiên ông buộc phải chia sẻ quyền lực với một đối thủ Imam là Bal'arab bin Himyar, người điều khiển nội chính.[1.080] Một cuộc nội chiến xảy ra trong đó đất nước bị chia rẽ, Saif bin Sultan II hai lần kêu gọi sự giúp đỡ từ đế quốc Ba Tư, ông lật đổ được nhân vật đồng cai trị Bal'arab bin Himyar để độc tôn quyền lực vào năm 1737.[1.081]

Năm 1737, Bal'arab bin Himyar bị mất ngôi bởi người đồng cai trị Saif bin Sultan II dưới sự hậu thuẫn từ đế quốc Ba Tư.[1.082] Năm 1742, Saif bin Sultan II bị Sultan bin Murshid đảo chính và phế truất.[1.083] Năm 1743, Bal'arab bin Himyar đánh bại Sultan bin Murshid để giành chính quyền về tay mình lần thứ hai.[1.084]

Bất Đan[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 1799, Druk Namgyal nổi dậy, quyền lực của Chooseyel Sonam Gyaltshen bị gián đoạn trong 4 năm.[1.085] Năm 1803, Chooseyel Sonam Gyaltshen trở về ngôi vị, nhưng chỉ hai năm sau thì mất, Sangye Tendzin kế tục ngai vàng.[1.086]

Năm 1831, Namjial Dorji giành được ngai vàng vương quốc Bhutan, đến năm 1832 ngai vàng đó được chuyển giao cho Adap Thrinley.[1.087] Năm 1835, Chhoki Gyaltshen chiếm lại địa vị, tuy nhiên chỉ được ba năm thì địa vị này cũng bị Dorji Norbu cướp mất.[1.088]

Năm 1864, Tithewang Sithub bị Tsulthrim Yonten cướp mất ngôi ngôi vị, nhưng cũng trong năm đó Tsulthrim Yonten phải đào vong do Kagyud Wangchuk tiến hành chính biến.[1.089] Năm 1865, ông khôi phục được ngai vàng, nhưng hai năm sau thì ngai vàng đó cũng tuột khỏi tay bởi Tsondru Pekar.[1.090]

Năm 1873, Jigme Namgyel bị đánh bại bởi Kitsep Dorji Namgyel, đến năm 1877 ông đã hạ bệ được đối thủ để khôi phục chính quyền.[1.091] Năm 1878, Kitsep Dorji Namgyel lại lật đổ Jigme Namgyel một lần nữa, nhưng chỉ một năm sau ông ta bị Chogyal Zangpo thay thế.[1.092] Năm 1780, Jigme Namgyel tiêu diệt Chogyal Zangpo, qua đó lên ngôi Dri Druk cai trị Vương quốc Bhutan lần thứ ba.[1.093]

Năm 1877, Jigme Namgyel quật ngã được Kitsep Dorji Namgyel phục bích, nhưng chỉ một năm sau Kitsep Dorji Namgyel nhanh chóng chiếm lại ngôi vị.[1.094] Năm 1879, Chogyal Zangpo nổi lên, Kitsep Dorji Namgyel yếu thế đành chấp nhận mất ngôi lần thứ hai.[1.095]

Ba Lâm[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 1842, Abdullah bin Ahmad Al Khalifa đã thành công trong cuộc bãi bỏ nền cai trị đồng nhiệm của Muhammad ibn Khalifah Al Khalifah để một mình quản lý quốc sự tại Bahrain, điều này đã chấm dứt các cuộc chiến tranh nội bộ trong việc phân chia của Khalifa cộng trị cho hai chi nhánh: Al Abdullah và Salman kéo dài suốt từ năm 1796.[1.096] Năm 1843, Muhammad ibn Khalifah Al Khalifah lên ngôi lần thứ hai khi Abdullah bin Ahmad Al Khalifa tạ thế, ông trị vì đến năm 1868 thì lại bị em trai mình Ali bin Khalifa bin Salman cướp chính quyền khi rời Bahrain đến Kuwait.[1.097] Người cai trị Kuwait là Abdullah al-Sabah đã can thiệp để hòa giải hai anh em, bằng viết thư cho Ali yêu cầu Ali bin Khalifa bin Salman trả lại anh trai cho quyền lực, tuy nhiên Ali bin Khalifa bin Salman không chấp nhận.[1.098] Muhammad ibn Khalifah Al Khalifah đã mượn quân của Kuwait trở về tấn công Ali bin Khalifa bin Salman vào năm 1869, nhưng khi vừa giành được ngai vàng lần thứ ba thì các con trai của Abdullah bin Ahmad Al Khalifa đã quay lưng lại phản bội ông, họ tổ chức bắt giữ rồi giam cầm Muhammad ibn Khalifah Al Khalifah trong pháo đài của Abu Maher ở Bahrain cho đến chết.[1.099]

Ô Tư Biệt Khắc Tư Thản - Thổ Khố Mạn Tư Thản[sửa | sửa mã nguồn]

Hãn quốc Khiva[sửa | sửa mã nguồn]

Triều đại Arabshahid

Năm 1771, Abd Allah Khan II Aqim bị Abd al-Aziz Khan cướp ngôi, nhưng đầu năm sau Artuq Ghazi Khan đã lật đổ Abd al-Aziz Khan để chiếm lấy chính quyền, cho đến cuối năm 1772 thì Abd Allah Khan II Aqim đã đoạt lại ngôi vị.[1.100]

Năm 1775, Abu al-Fa´id Khan lật đổ Yadigar Khan II, bốn năm sau Yadigar Khan II mới trở lại lần thứ hai.[1.101] Năm 1781, Pulad Khan tiến hành đảo chính khiến Yadigar Khan II phải lưu vong, nhưng lần này chỉ hai năm Yadigar Khan II đã quay về để lên ngôi lần thứ ba.[1.102]

Năm 1806, Muhammad Iltazar Khan đánh đổ ngai vàng của Abu al-Ghazi Khan V, tuy Abu al-Ghazi Khan V đã phục hồi được ngay trong năm đó, nhưng chỉ được mấy tháng ông lại bị Muhammad Rahim Bahadur Khan I phế truất.[1.103]

Cáp Tát Khắc Tư Thản - Cát Nhĩ Cát Tư Tư Thản - Tháp Cát Khắc Tư Thản[sửa | sửa mã nguồn]

Hãn quốc Kokand[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 1752, Bobobek chiếm giữ ngai vàng Kokand từ tay người em trai Erdonabiy trong mười tháng, đến đầu năm 1753 thì Erdonabiy giành lại ngôi vị.[1.104]

Muhammad Khudayar Khan

Năm 1852, Abdulla Beg đoạt được quyền bính từ tay Muhammad Khudayar Khan sau một cuộc tạo phản chớp nhoáng chống lại người Kipchaks, nhưng Muhammad Khudayar Khan đã kịp thời hồi phục vào năm sau, ông tự mình cai trị và nắm giữ vị trí chống Kipchaks và ủng hộ người Uzbekistan.[1.105] Năm 1858, các tỉnh phía bắc nổi dậy, Muhammad Khudayar Khan cử anh trai Muhammad Malla Beg Khan của mình đến Tashkent để trấn áp cuộc phiến loạn.[1.106] Thay vào việc đánh dẹp, Muhammad Malla Beg Khan lại gia nhập nghịch tặc, rồi lãnh đạo bọn chúng chinh phục Kokand và tự xưng là Khan.[1.107] Muhammad Malla Beg Khan được sự hỗ trợ của Alimqul, một lãnh chúa mạnh mẽ của người Kipchaks, Muhammad Khudayar Khan thua to phải chạy trốn.[1.108] Năm 1862, Muhammad Malla Beg Khan bị ám sát và cháu trai của ông ta, Shah Murad Khan lên ngôi, trở thành khan mới.[1.109] Bấy giờ, người cai trị của Tashkent, Kanaat, liên minh với Muhammad Khudayar Khan tiến đánh Shah Murad khan, bao vây Tashkent.[1.110] Đồng thời, Muzaffar của Tiểu vương quốc Bukhara cũng kéo quân đến Kokand, kết quả là Shah Murad Khan thất thế phải đầu hàng, cuộc bao vây của thành phố Tashkent được dỡ bỏ và Muhammad Khudayar Khan chuyển đến Kokand và tuyên bố lên ngôi lần thứ ba.[1.111] Năm 1863, Alimqul nổi dậy, tuyên bố Muhammad Sultan Khan, con trai của Muhammad Malla Beg Khan là Khan của Kokand, bản thân ông ta giữa vai trò nhiếp chính, vì Muhammad Sultan Khan mới mười ba tuổi.[1.112] Sau đó, Alimqul phát động một cuộc tấn công vào lực lượng của Muhammad Khudayar Khan khiến ông phải bỏ chạy lần nữa, lúc đó Muzaffar phải quay trở lại Bukhara để trấn áp một cuộc nổi loạn bắt đầu ở Shahrisabz cho nên không thể hỗ trợ được Muhammad Khudayar Khan.[1.113] Alimqul đã xoay sở để đồng ý với Tiểu vương quốc Bukhara, tiến hành các cuộc tấn công đồng thời vào Kokand và Tashkent, và cuối cùng ông ta đã kiểm soát chúng.[1.114] Năm 1865, quân đội Nga đã xâm nhập Tashkent, Alimqul chống lại họ đã bị giết trong một trận chiến.[1.115] Tại Kokand, người Kipchaks tuyên bố lập Bil Bahchi Khan lên ngôi, nhưng chỉ hai tuần sau, Muhammad Sultan Khan đã giành lại địa vị nhờ những người trung thành.[1.116] Năm 1866, Muhammad Khudayar Khan theo gót quân Nga tiến vào Kokand lên ngôi lần thứ tư mà không gặp phải sự kháng cự nào, Muhammad Sultan Khan bị buộc phải thoái vị, Hãn quốc Kokand trở thành phên dậu của đế quốc Nga năm 1868.[1.117]

Nasruddin Khan

Năm 1865, Alimqul tử chiến, điều này đồng nghĩa với việc Muhammad Sultan Khan mất ngôi, Bil Bahchi Khan được người Kipchaks lập lên thay thế.[1.118] Tuy nhiên, Muhammad Sultan Khan nhanh chóng khôi phục địa vị khi những người trung thành của ông đánh đuổi Bil Bahchi Khan, cuộc phục bích kéo dài không quá một năm nhưng cũng đủ để sử sách lưu danh muôn thuở.[1.119]

Năm 1875, sau cuộc nổi dậy ở thung lũng Ferghana vào ngày 22 tháng 7, Muhammad Khudayar Khan trốn đến Tashkent, con trai là Nasruddin Khan lên cầm quyền.[1.120] Thế nhưng lực lượng phiến quân do Iskhak Khasan-ulu lãnh đạo đã đánh chiếm Kokand khiến Nasruddin Khan phải bỏ chạy, ít lâu sau đế quốc Nga phái binh hùng tướng mạnh đến đàn áp bắt sống Iskhak Khasan-ulu, Nasruddin Khan nhờ đó trở lại Kokand đăng cơ lần hai.[1.121] Năm 1876, Iskhak Khasan-ulu bị tuyên án treo cổ, Nasruddin Khan cũng phải từ nhiệm, Hãn quốc Kokand bị bãi bỏ vào ngày 19 tháng 2 và khu vực này sáp nhập vào Ferghana Oblast, chính thức nằm trong bản đồ đế quốc Nga.[1.122]

Mahmud Shah Durrani