Girls' Generation

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Girls' Generation
LG 시네마 3D TV 새 모델 ‘소녀시대’ 영입.jpg
Thông tin nghệ sĩ
Nghệ danh SNSD, SJJD, SoShi, GG
Nguyên quán Seoul, Hàn Quốc
Thể loại Pop, Dance, K-Pop, J-Pop
Năm 2007 đến nay
Hãng đĩa SM Entertainment
Universal Music
Hợp tác SM Entertainment
Avex Taiwan
NATUYAWAVE Records
Interscope Records
Website Trang chủ tiếng Hàn
Trang chủ tiếng Nhật
Trang chủ tiếng Anh
Thành viên hiện tại
Taeyeon
Jessica
Sunny
Tiffany
Hyoyeon
Yuri
Sooyoung
Yoona
Seohyun
Tên
Hangul 소녀시대
Hanja (Hán tự) 少女時代
Hán-Việt Thiếu nữ Thời đại
Romaja quốc ngữ Sonyeo Sidae
McCune-Reischauer Sonyŏ Sidae

Girls' Generation (Hangul: 소녀 시대; Tiếng Nhật: 少女時代, cũng được biết đến với tên SNSD hay So Nyeo Shi Dae) là một nhóm nhạc nữ Hàn Quốc được thành lập bởi công ty giải trí S.M. Entertainment vào năm 2007.[1] Nhóm có 9 thành viên, bao gồm Taeyeon, Jessica, Sunny, Tiffany, Hyoyeon, Yuri, Sooyoung, YoonaSeohyun.

Nhóm bắt đầu thu hút được sự chú ý ở những bước đầu của sự nghiệp âm nhạc với những ca khúc như "Into the New World" và "Kissing You" nhưng đáng kể là vào năm 2009 khi nhóm nổi tiếng với bản hit "Gee", ca khúc được trang âm nhạc trực tuyến MelOn chọn bài hát phổ biến nhất trong thập kỉ đó tại Hàn Quốc (xếp hạng dựa trên diễn biến của bảng xếp hạng).[2] Nhóm tiếp tục khẳng định vị trí của mình trong nền công nghiệp âm nhạc Hàn Quốc với những đĩa đơn sau đó là "Tell Me Your Wish", "Run Devil Run", và "Oh!" từ cuối năm 2009 đến đầu năm 2010. Vào năm 2011, sau một loạt các hoạt động tại Nhật Bản, nhóm trở lại với thị trường âm nhạc Hàn Quốc với "The Boys", được phát hành dưới 3 phiên bản ngôn ngữ: tiếng Hàn, tiếng Nhật, và lần đầu tiên bằng tiếng Anh. Tính riêng năm 2010, nhóm bán được tổng cộng hơn 11,730,000 albumđĩa đơn kĩ thuật số.[3] Với sự nổi tiếng của mình tại Hàn Quốc, nhóm còn được gọi là "Những nghệ sĩ quốc dân" và "Nhóm nhạc nữ quốc dân".[4] Tạp chí Sisa còn cho rằng nhóm là nghệ sĩ có sức ảnh hưởng nhất trong vòng 2 năm 2011-2012, trở thành nhóm nhạc nữ thần tượng đầu tiên làm được như thế.[5] Họ cũng xếp vị trí đầu tại danh sách những nghệ sĩ nữ 4 năm liên tiếp theo khảo sát của Leespiar tại Hàn Quốc.[6][7] Asia Today xếp nhóm tại vị trí thứ 40 trong danh sách những người dẫn đầu quyền lực nhất vào năm 2011.[8] Nhóm cũng đứng đầu danh sách 40 nghệ sĩ Hàn Quốc quyền lực nhất của Forbes vào năm 2011, 20122014.[9][10]

Nhóm bắt đầu xâm nhập vào thị trường Nhật Bản vào năm 2010 dưới sự quản lí của Nayutawave Records, cùng với sự làm mới lại 2 ca khúc tiếng Hàn năm 2009 là "Tell Me Your Wish" và "Gee". Album tiếng Nhật đầu tay của nhóm là Girls' Generation, phát hành vào tháng 6 năm 2011, hiện tại đang là album của nghệ sĩ Hàn Quốc bán được nhiều bản nhất tại Nhật Bản trong lịch sử của Oricon. Nó đã được chứng nhận "Vàng" bởi Hiệp hộp Công nghiệp Thu âm Nhật Bản, trở thành nghệ sĩ Hàn Quốc thứ 2 đạt được thành thích như thế tại Nhật Bản sau "Best of Soul" của BoA vào năm 2005.[11]

Nhóm đã phát triển vị thế của mình tại thị trường âm nhạc Hàn Quốc thông qua nhóm nhỏ đầu tiên của mình, Girls' Generation-TTS, bao gồm 3 thành viên Taeyeon, TiffanySeohyun. Nhóm nhỏ ra mắt vào năm 2012 với mini-album của họ Twinkle trở thành nghệ sĩ Hàn Quốc đạt được vị trí cao nhất trên Billboard 200 ở vị trí thứ 126 tính đến thời điểm đó.[12]

Tên gọi

Tại Hàn Quốc, nhóm được gọi là So Nyeo Shi Dae (tiếng Triều Tiên: 소녀시대). Họ cũng được gọi là SoShi (소시) hoặc SNSD, hai hình thức viết tắt tên tiếng Hàn của nhóm. Cái tên Girls' Generation có nghĩa là "Thế hệ thống trị của những cô gái đã đến".[13] Nhóm cũng được gọi là Shojo Jidai (Tiếng Nhật; 少女時代) hoặc SJJDNhật Bản.[14]

Quá trình hình thành và phát triển

Trước khi ra mắt

Sau thành công của S.M. Entertainment về ban nhạc Super Junior, công ty đã có kế hoạch ra mắt một nhóm nhạc nữ mới, cuối cùng lấy tên là Girls' Generation, ban đầu có đến 11 thành viên.[15] Trong gần hai năm, các trang web Hàn Quốc suy đoán rằng những nữ học viên của SM Entertainment sẽ được đặt vào nhóm. Các thành viên ứng cử viên đã được đào tạo chuyên nghiệp về ca hát và vũ đạo, trong khi một số cũng đã được lựa chọn để được đào tạo về diễn xuấtngười mẫu. Nhiều người trong số các thành viên ứng cử đã xuất hiện trong ngành công nghiệp giải trí Hàn Quốc thông qua các hoạt động họ trong các quảng cáo tạp chí, quảng cáo truyền hình và xuất hiện trong những bộ phim truyền hình hay phim ảnh nhỏ, thành viên Sooyoung thậm chí còn ra mắt thị trường Nhật Bản vào năm 2002 dưới danh nghĩa là thành viên của nhóm nhạc Route θ, nhưng sau đó tan rã trong một năm.[16][17] Nhóm đã từng trải qua một số sửa đổi, như các thành viên được thêm hoặc lọc bớt, cho đến khi quyết định cho ra mắt chín cô gái như hiện nay. Trước khi thông báo, có tin đồn rằng nhóm sẽ được đặt tên là "Super Girls", dựa theo tên của nhóm nhạc nam - "Super Junior".[15]

Thành viên đầu tiên của nhóm tham gia hệ thống đào tạo của S.M. EntertainmentJessica, gia nhập vào năm 2000, sau khi cô và em gái của mình, Krystal Jung (bây giờ là một thành viên của nhóm nhạc nữ f(x)), đã được bắt gặp tại một trung tâm mua sắm tại Hàn Quốc trong một kỳ nghỉ với gia đình.[18] Cũng trong năm 2000, các thành viên là SooyoungHyoyeon được đưa vào hệ thống đào tạo của S.M. thông qua cuộc thi 2000 SM Open Audition, cuộc thi mà Hyoyeon đã tham gia nhảy trong phần thi[cần dẫn nguồn]. Yuri là thành viên tiếp theo được chấp nhận vào hệ thống đào tạo của S.M. sau khi kết đạt vị trí thứ 2 của cuộc thi 2001 SM Youth Best Dancer năm 2001. Yoona đã được đưa vào trong năm sau đó sau khi thử giọng hát và nhảy theo ca sĩ yêu thích của mình là BoABritney Spears, trong cuộc thi SM Saturday Open Casting Audition năm 2002.[cần dẫn nguồn] Seohyun, thành viên nhỏ tuổi nhất của nhóm, đã được bắt gặp trong tàu điện ngầm bởi một "người tìm kiếm" của SM, sau đó thử giọng vào năm 2003 và hát những bài hát của trẻ em.[19] Nhóm trưởng của nhóm, Taeyeon, được đưa vào trong năm 2004 sau khi được phát hiện tại SM's 8th Annual Best Contest, chiến thắng "Best Singer 1st Place & Grand Award".[20] Trong cùng năm đó, thành viên Tiffany thử giọng tại Starlight Casting System của S.M.Los Angeles, và gia nhập công ty trong tháng 10 năm 2004.[21][22] Thành viên thứ chín cũng như cuối cùng của nhóm được thêm vào là Sunny, người được nhập vào hệ thống vào năm 1998 và được đào tạo trong 5 năm trước khi chuyển sang một công ty khác, Starworld, nơi cô được đào tạo để ra mắt trong bộ đôi "Sugar", mà cuối cùng không bao giờ ra mắt. Sau đó, theo đề nghị của ca sĩ Ayumi, cô lại chuyển trở lại S.M. Entertainment vào năm 2007.[23] Sunny còn là cháu gái của nhà người thành lập S.M. Entertainment, Lee Soo-man.[24]

2007-2008: Ra mắt và album đầu tiên

Vào tháng 7 năm 2007, Girls' Generation đã có màn biểu diễn trên sân khấu không chính thức lần đầu tiên trong chương trình School of Rock của kênh truyền hình Mnet với đĩa đơn đầu tay của họ, "Into the New World" (다시 만난 세계). Một bộ phim tài liệu quay lại những câu chuyện về sự ra mắt của nhóm mang tên Girls' Generation Goes to School đã được thực hiện bởi kênh truyền hình Mnet vào khoảng thời gian đó, xoay quanh sự ra mắt cũng như màn trình diễn trước công chúng không chính thức lần đầu tiên thông qua School of Rock. Phim này có tổng cộng 9 tập, với 7 lần trình diễn, 1 cảnh hậu trường nhìn vào thế giới của các cô gái và cuối cùng kèm theo một tập nhóm biểu diễn tại trường trung học của Sunny.[25]

Girls' Generation biểu diễn tại sân vận động Rajamangala tại Bangkok, Thái Lan vào tháng 2 năm 2008.

Đĩa đơn đầu tay của nhóm được phát hành sau đó không lâu, bao gồm một bản nhạc không lời của ca khúc Into the New World và 2 ca khúc khác là "Beginning" và "Perfect for You." Tựa tiếng Hàn sau đó của ca khúc là "Wish" (소원), về sau trở thành tên fan club chính thức chính của Girls' Generation, S♡NE. Nhóm ra mắt chính thức vào ngày 5 tháng 8 năm 2007, màn trình diễn đầu tiên là trên chương trình SBS Inkigayo, sau đó là trên MBC Show! Music CoreKBS Music Bank. "Into the New World" đã đạt được vị trí số 1 tại chương trình Mnet M! Countdown.[26] Nhóm cũng đã phát hành album đầu tay mang chính tên mình - "Girls' Generation" - vào cuối mùa thu năm 2007 với đĩa đơn chính của album là "Girls' Generation" (소녀시대), một phiên bản làm lại từ ca khúc năm 1989 của Lee Seung-cheol. Chiến dịch quảng bá cho đĩa đơn được bắt đầu vào đầu tháng 11. Album cũng bao gồm 2 bài hát từ đĩa đơn đầu tay của nhóm là "Into the New World" và "Perfect For You" ("Honey") cùng với 8 ca khúc khác. Album đầu tiên của nhóm đã bán được hơn 100,000 bản. Nhóm nhạc nữ đi theo phong cách nhạc pop cuối cùng ở Hàn Quốc làm được điều này là S.E.S.[27]

Girls' Generation tại một trận thi đấu bóng chuyền bải biển ở Jamsil

Vào đầu năm 2008, Girls' Generation bắt đầu quảng bá cho đĩa đơn thứ hai từ album, "Kissing You", chính là ca khúc đầu tiên mang lại chiến thắng tuần cho Girls' Generation trên sân khấu KBS Music Bank.[28] Bài hát này đạt được vị trí số 1 trên 3 bảng xếp hạng âm nhạc hàng tuần trên TVSBS Inkigayo, Mnet M! CountdownMusic Bank. Vào tháng 3 năm 2008, album đã được tái bản, đặt tên là Baby Baby và phát hành lại. Girls' Generation phát hành teaser cho đĩa đơn "Baby Baby" vào ngày 15 tháng 3, 2008. Đĩa đơn được phát hành trên các trang âm nhạc trực tuyến vào ngày 17 tháng 3, 2008 để quảng bá cho album.[29] Nhóm cũng biểu diễn ca khúc trong nhiều chương trình âm nhạc chẳng hạn như MBC Show! Music Core, SBS Inkigayo, và Mnet M! Countdown vào tháng 3 và tháng 4. Việc quảng bá cho album được kéo dài cho đến ngày 13 tháng 3 năm 2008 với buổi biểu diễn cuối là ở Inkigayo.[30] Trong suốt thời gian quảng bá của nhóm, các thành viên Jessica, TiffanySeohyun được chọn để góp mặt trong mini-album phát hành bởi Roommate, nhóm nhạc một thành viên của Purple Communication. Mini-album được đặt tên là Roommate: Emotional Band Aid và được phát hành vào ngày 1 tháng 12, 2008. Còn ca khúc được trình bày bởi 3 thành viên của nhóm có tên là "Oppa Nappa" (오빠 나빠; hay Bad Brother), được phát hành kĩ thuật số trước album vào tháng 4, 2008. Ca khúc được trình diễn trực tiếp tại SBS Inkigayo, KBS Music BankMnet M! Countdown.[31][32] Trong cùng năm đó, 3 thành viên phát hành tiếp ca khúc "Mabinogi" (It's Fantastic!) cùng với nhau, ca khúc được sử dụng như nhạc nền trong trò chơi cùng tên của công ty Nexon, với thành viên Tiffany góp mặt trong video âm nhạc.[33] Chương trình truyền hình thực tế của kênh truyền hình Mnet Factory Girl ghi lại khoảng thời gian nhóm làm việc như những thực tập viên cho tờ báo thời trang Elle Girl[34] được bắt đầu phát sóng vào đầu tháng 10.[35] Cuối năm 2008, nhóm cũng đã tham gia chuyến lưu diễn "SMTown Live '08" cùng với các nghệ sĩ của S.M. Entertainment.[36]

2009: Gee, Genie và chuyến lưu diễn đầu tiên

Girls' Generation biểu diễn ca khúc "Genie" ở sự kiện LG Mobile Worldcup.

Một video teaser đã được phát hành vào tháng 1 năm 2009 kèm theo đĩa đơn đầu tiên - "Gee" - nằm trong mini-album cùng tên được ra mắt sau đó không lâu. Đây là mini-album đầu tay của Girls' Generation. "Gee" đã đạt được vị trí số 1 trên bảng xếp hạng âm nhạc hàng giờ của Cyworld trong ngày đầu ra mắt.[37] Bài hát cũng đã leo lên vị trí dẫn đầu tại nhiều bảng xếp hạng âm nhạc kĩ thuật số lớn trong vòng 2 ngày.[38] Nhóm bắt đầu việc quảng bá cho mini-album vào tháng 1, 2009 tại MBC Show! Music Core. Trong chương trình, nhóm đã hát đĩa đơn chủ đề "Gee" cùng với bài hát "Way to Go!", một ca khúc khác nằm trong mini-album. Một tuần sau khi được phát hành, "Gee" đã nắm giữ vị trí số 1 tại chương trình KBS Music Bank.[39] Ca khúc cũng đã leo lên ngôi đầu bảng tại SBS Inkigayo một tuần sau sự trở lại của nhóm. "Gee" sau đó đã trở thành một hiện tượng, phá vỡ kỉ lục ca khúc có số tuần đứng đầu liên tiếp nhiều nhất trong chương trình KBS Music Bank với 9 lần thắng liên tiếp, cùng với 3 lần liên tục tại SBS Inkigayo. Ca khúc đã phá vỡ kỉ lục với vị trí số 1 tại tuần thứ 7,[40] đứng vững 1 tuần sau đó. Bài hát vẫn giữ nguyên thứ hạng[41] rồi phá vỡ kỉ lục trụ hạng #1 lâu nhất trong lịch sử chương trình Music Bank, vượt qua kỉ lục 7 tuần trước đó được lập bởi Jewelry vào năm 2008 với ca khúc "One More Time".[41] "Gee" đạt được thành tích này vào chương trình ngày 13 tháng 3 năm 2009. S.M. Entertainment đã thông báo rằng có hơn 100,000 bản sao của mini-album đã được giao cho các cửa hàng, trong khi đó công ty thống kê số lượng album Hanteo cho biết rằng có hơn 30,000 bản được tiêu thụ trong 10 ngày đầu ra mắt. Ca khúc cũng đã cho thấy sức mạnh của mình tại các bảng xếp hạng khác, đứng đầu tại Mujikon, MelonMnet trong 8 tuần liên tiếp, tại Dosirak với 7 tuần, Muse với 6 tuần và Baksu với 4 tuần.[42][43]

Nhóm tại lễ trao giải Cyworld Digital Music Awards năm 2009

Sau một thời gian nghỉ ngơi không lâu, S.M. Entertainment thông báo nhóm sẽ trở lại với một mini-album hoàn toàn mới thể hiện hình tượng của "Những cô gái thuộc thủy quân lục chiến". Đĩa đơn mới được đặt tên là "Tell Me Your Wish (Genie)", với mini-album sẽ được ra mắt kĩ thuật số vào ngày 22 tháng 6, 2009.[44][45] Girls' Generation bắt đầu những hoạt động quảng bá từ ngày 26 tháng 6, 2009, xuất hiện trên KBS Music Bank.[46] Tiếp theo sau đó là lần lượt những màn biểu diễn tại MBC Show! Music CoreSBS Inkigayo vào ngày 27 và 28 tháng 6, 2009. Việc ra mắt mini-album ở ngoài thị trường thực cho Tell Me Your Wish (Genie) đã bị S.M. Entertainment hoãn lại để làm lại bìa đĩa cho mini-album, và được phát hành sau đó 4 ngày tức 29 tháng 6, 2009.[44] Chiến thắng đầu tiên mà đĩa đơn "Sowoneul Malhaebwa (Genie)" của họ đạt được là trong chương trình ngày 10 tháng 7, 2009 của KBS Music Bank. Chiến thắng tiếp theo là vào ngày 12 tháng 7, 2009, trong chương trình SBS Inkigayo. Chỉ trong vài ngày, ca khúc đã đứng đầu tại 10 bảng xếp hạng âm nhạc kĩ thuật số khác nhau.[47] Ca khúc chứng tỏ sự thành công của mình khi thống trị những trang âm nhạc trực tuyến khác nhau, bao gồm Melon, Dosirak, Mnet, và Bugs, đứng đầu tại các bảng xếp hạng âm nhạc hàng tuần cũng như bảng xếp hạng nhạc chờ SKT trong tuần đầu tiên của tháng 7.[48] Mini-album đã bán được khoảng 50,000+ bản trong tuần đầu đầu tiên sau khi phát hành (gần như gấp đôi doanh thu tuần đầu của Gee), một điều hiếm thấy ở các nhóm nhạc nữ tại Hàn Quốc.[49] Mini-album đã bán được hơn 200,000 bản tính đến năm 2010.[50]

Vào tháng 11 năm 2009, S.M. Entertainment thông báo tổ chức chuyến lưu diễn riêng đầu tiên của nhóm - Into The New World Tour. Vé cho chuyến lưu diễn được bắt đầu bán vào ngày 19 tháng 11,[51] và hết sạch chỉ sau 3 phút.[52] Chuyến lưu diễn ban đầu bao gồm 2 đêm diễn ở Hàn Quốc vào ngày 19 và 20 tháng 12, 2009.[53] Chuyến lưu diễn được bắt đầu tại sân vận động Seoul's Olympic Park Fencing rồi tiếp tục đi đến các thành phốchâu Á khác như Thượng Hải, Đài Bắc.[54][55]

2010: Oh! / Run Devil Run, ra mắt tại Nhật và Hoot

Đầu năm 2010, S.M. Entertainment xác nhận rằng album phòng thu thứ 2 của nhóm mang tên Oh!, sẽ được phát hành vào ngày 28 tháng 1.[56] Đĩa đơn chính từ album, "Oh!", được phát hành kĩ thuật số vào ngày 25 tháng 1 cùng với video âm nhạc được ra mắt sau đó 2 ngày.[57] Vào ngày 30 tháng 1, nhóm bắt đầu chiến dịch quảng bá với màn trình diễn tại chương trình MBC Show! Music Core.[58] Trong khi phát sóng màn biểu diễn này, đã có một sự cố mất tính hiệu xảy ra nên đài MBC đã đăng tải lại đầy đủ video lên mạng sau đó như một lời xin lỗi.[59]

Với "Oh!", nhóm đã giành được 5 chiến thắng liên tiếp tại chương trình âm nhạc hàng tuần KBS Music Bank, cũng như 3 lần đứng đầu tại SBS Inkigayo.[60] "Oh!" cũng giành chiến thắng tại bảng xếp hạng nửa năm của Music Bank, đứng thứ 2 tại bảng xếp hạng doanh số nửa đầu năm của Hanteo,[61] và cũng giành luôn chiến thắng tại bảng xếp hạng cuối năm.[62] Video âm nhạc của nhóm cũng có số lượng lượt xem nhiều nhất trên YouTube tại Hàn Quốc trong năm 2010. Nó cũng đứng đầu bảng xếp hạng tại Hong Kong và lọt vào top 10 ở Đài LoanNhật Bản.[63]

Girls' Generation trong trang phục biểu diễn "Oh!"

Từ ngày 11 tháng 3 năm 2010, những tấm hình của các thành viên lần lượt được phát tán trên mạng, thể hiện một phong cách đen tối lạnh lùng mang tên "Black SoShi".[64] Một video giới thiệu đã được phát hành vào ngày 16 tháng 3 cùng với một đĩa đơn mới có tên Run Devil Run được phát hành kĩ thuật số một ngày sau đó. Vào giữa tháng 6, nhóm thông báo rằng đã kí kết hợp đồng vào tháng 5 và sẽ làm việc với nhãn hiệu thu âm Nayutawave Records thuộc Universal Music Japan cho những hoạt động của mình tại Nhật Bản cùng với những dự đoán rằng đĩa đơn tiếng Nhật đầu tay của nhóm sẽ được phát hành vào tháng 9, 2010.[65][66][67] Sau đó, nhóm bắt đầu những hoạt động tại Nhật Bản vào tháng 8 với "少女時代到来~初来日記念盤~" (Girls' Generation's Arrival ~ First Time in Japan Commemoration Disc ~), một DVD bao gồm 7 video âm nhạc của nhóm cũng như một đoạn phim đặc biệt tặng thêm, được phát hành vào ngày 11 của tháng với phiên bản đặc biệt của DVD còn có thêm một cây gậy phát sáng màu hồng cùng với chiếc vé để đi đến màn biểu diễn đầu tiên của nhóm ở Nhật Bản tại Tokyo Ariake Colliseum vào ngày 25 tháng 8.[68] Trong tuần đầu tiên phát hành, DVD đã bán được 23.000 bản, đứng thứ 4 trên bảng xếp hạng DVD hàng tuần của Oricon và thứ 3 trên bảng tổng sấp DVD âm nhạc,[69], làm nhóm trở thành nhóm nhạc nữ K-pop đầu tiên lọt vào top 5 của bảng xếp hạng Oricon-DVD.[70] Đan xen những hoạt động tại Nhật Bản của mình, nhóm còn tham gia chuyến lưu diễn SMTown Live '10 World Tour cùng với các nghệ sĩ cùng công ty quản lí SM bắt đầu từ ngày 21 tháng 8 tại Sân vận động Olympic.[71] Những buổi diễn sau đó tại Thượng Hải, Los Angeles, ParisTokyo cũng có sự góp mặt của nhóm.[72]

Vào ngày 25 tháng 8, nhóm tổ chức buổi hòa nhạc đầu tiên ở Nhật Bản tại Tokyo Ariake Colliseum.[73] Với sự tham dự của 10.000 người hâm mộ, đây được cho là kế hoạch có quy mô lớn nhất đối với một nghệ sĩ Hàn Quốc khi ra mắt tại Nhật Bản.[68] Tuy nhiên, bởi số lượng người tham dự đông hơn dự tính, ban quản lý đã phải tổ chức buổi diễn 3 lần trong một ngày để đáp ứng đủ nhu cầu của số lượng người hâm mộ.[74] Nhóm đã trình diễn 5 ca khúc tiếng Hàn tại mỗi buổi biểu diễn với tổng số người tham dự trong cả 3 lần được dự tính ít nhất là khoảng 22,000.[75] Trong các buổi hòa này, video âm nhạc tiếng Nhật của "Genie" cũng được tiết lộ lần đầu tiên sau khi video teaser được tung ra trước đó vào ngày 20 tháng 8.[76] Đĩa đơn tiếng Nhật đầu tay của nhóm là "Genie" đã đạt ví trí thứ 5 trong ngày đầu tiên phát hành trên bảng xếp hạng hằng ngày của Oricon rồi sau đó vươn lên vị trí thứ 2 một vài ngày sau đó, đồng thời cũng đạt hạng 4 tại bảng xếp hạng hằng tuần.[77][78][79] Nhóm cũng đã đạt vị trí số 1 tại bảng xếp hạng video âm nhạc của iTunes Nhật Bản cũng như 2 bảng tổng sấp của Rekochoku là video hằng ngày và đoạn phim sắp ra mắt 1 ngày sau đó.[80] Với số lượng đặt hàng là 80.000, đĩa đơn đã bán được khoảng 45.000 bản trong tuần đầu tiên phát hành.[81][82]

Nhóm tham dự lễ giao giải Golden Disk Awards 2010 tại Seoul vào ngày 9 tháng 12, 2010.

Vào ngày 20 tháng 10, 2010, nhóm đã phát hành đĩa đơn tiếng Nhật thứ 2 của mình, "Gee".[83][84] Một tuần sau khi phát hành đĩa đơn, nhóm lại tiếp tục cho ra mắt mini-album thứ 3, Hoot vào ngày 27 tháng 10, 2010, bao gồm 5 bài hát.[85] Video âm nhạc của đĩa đơn chính, "Hoot", ca khúc mà ban đầu được viết bằng tiếng Anh với tên "Bulletproof", được phát hành 1 ngày sau đó.[86][87] Girls' Generation đã khởi đầu những hoạt động quảng bá bằng một màn trở lại tại chương trình KBS Music Bank vào ngày 29.[88] "Hoot" nhanh chóng vươn lên vị trí dẫn đầu tại nhiều bảng xếp hạng dành được nhiều chiến thắng tại các chương trình âm nhạc, cho thấy một thành công khác nữa của nhóm.[89][90][91][92] Nhóm đã thực hiện quảng bá cho "Hoot" và "Gee" trong cùng một thời điểm, đồng thời cũng tham gia các chương trình phát sóng của Nhật Bản về âm nhạc ví dụ như FNS Music Festival, nơi mà họ trình diễn 2 đĩa đơn là "Gee" và "Genie" vào ngày 4 tháng 12. Vào ngày 22 tháng 12, 2010, "Hoot" đã được tái bản cùng các ca khúc được thêm vào từ những album trước đó để phát hành ở Nhật Bản. Mini-album đã đạt được vị trí thứ 2 trên bảng xếp hạng của Oricon và bán được 21.000 bản trong ngày đầu tiên, đáng ngạc nhiên khi tất cả các bài hát được thu hoàn toàn bằng tiếng Hàn.[93]

Vào ngày 9 tháng 12, 2010, nhóm tham dự lễ giao giải Golden Disk Awards và nhận được 3 giải thưởng trong đó có giải Disk Daesang (Album của năm) cho album thứ 2, Oh!. Nhóm cũng trở thành nhóm nhóm nhạc nữ đầu tiên có cả 2 giải Disk Daesang (2010) và Digital Daesang (2009). Vào ngày 15 tháng 12, 2010, nhóm tham dự MelOn Music Awards, chiến thắng giải Nghệ sĩ mặc đồ đẹp nhấtCa khúc tạo thành xu hướng với "Hoot", cũng như giải thưởng Nghệ sĩ của năm. Đây là giải thưởng Nghệ sĩ của năm lần thứ 2 liên tiếp của nhóm. Nhóm cũng đứng đầu bảng xếp hạng Giải thưởng dành cho nghệ sĩ của Hanteo vào năm 2010.[94] Girls' Generation đã được bình chọn trong danh sách 50 người dẫn đầu quyền lực nhất tại Hàn Quốc năm 2010 của Asia Today với vị trí thứ 40, cũng là nhóm nhạc thần tượng duy nhất trong danh sách.[8] Nhóm cũng được chọn là "Nghệ sĩ của năm" bởi Dosirak, Soribada, Korea Gallup, Hanteo, Sport Korea và chiến thắng Bài hát của năm với "Oh!" bởi Monkey 3.[95][96]

2011: Girls' Generation, The Boys và mở rộng thị trường

Girls' Generation gặp gỡ cựu Đệ nhất Phu nhân Hàn Quốc, bà Kim Yoon-ok vào ngày 19 tháng 8, 2011.

Vào khoảng cuối tháng 1, nhóm được tiết lộ sẽ quay trở lại thị trường Nhật Bản thông qua phiên bản tiếng Nhật của "Run Devil Run" dưới dạng kĩ thuật số, được phát hành vào ngày 25 tháng 1, 2011.[97] Vào ngày 20 tháng 1, 2011, tại lễ trao giải Seoul Music Awards lần thứ 20, nhóm đã nhận được các giải thưởng "Nghệ sĩ của năm", "Nghệ sĩ nổi tiếng", "Bonsang" và giải "Làn sóng Hàn Quốc. Nhờ đó, Girls' Generation đã trở thành một trong 4 nghệ sĩ trong lịch sử âm nhạc Hàn Quốc (cùng với Seo Taiji, Jo Sungmo và H.O.T.) được nhận giải 'Nghệ sĩ của năm' trong 2 năm liền. Nhóm cũng trở thành nhóm nhạc nữ duy nhất trong lịch sử nhận được giải thưởng này của Seoul Music AwardsMelOn Music Awards trong 2 năm liền. Họ còn nhận được 2 giải Daesang tại Golden Disk Ceremony, một giải về phát hành kĩ thuật số (2009) và một về số lượng album bán ra (2010).[98] Vào ngày 8 tháng 3, SM Japan thông báo trên website chính thức của họ thông tin về việc phát hành đĩa đơn tiếng Nhật thứ 3 của Girls' Generation và chuyến lưu diễn vòng quanh Nhật Bản đầu tiên. Thông báo nói rằng vào ngày 27 tháng 4, nhóm sẽ phát hành đĩa đơn tiếng Nhật mới, "Mr. Taxi / Run Devil Run", bao gồm ca khúc tiếng Nhật nguyên gốc đầu tay của nhóm "Mr. Taxi"[99] và một phiên bản làm lại từ tiếng Hàn của "Run Devil Run". Tại lễ trao giải MTV Video Music Aid Japan 2011, Girls' Generation được đề cử cho 3 hạng mục là "Video của nhóm nhạc xuất sắc nhất", "Video xuất nhất năm", và "Ca khúc Karaokee xuất sắc nhất".[100] Vào ngày 2 tháng 7, nhóm được thông báo đã vượt lên dẫn đầu tại 2 hạng mục, chiến thắng giải "Video của nhóm nhạc xuất sắc nhất" và "Ca khúc Karaokee xuất sắc nhất" cho phiên bản tiếng Nhật của "Genie".[101] Vào ngày 1 tháng 6, 2011, nhóm cho phát hành album phòng thu tiếng Nhật đầu tay, Girls' Generation.[102] Nhóm đã quảng bá cho album của mình thông qua chuyến lưu diễn Nhật Bản đầu tiên, The 1st Japan Arena Tour, bắt đầu từ Osaka vào ngày 31 tháng 5, 2011. Tổng cộng 14 đêm diễn tại 6 thành phố đã được tổ chức từ cuối tháng 5 cho tới đầu tháng 7.

Album Girls' Generation đã được chứng nhận Bạch kim (250.000) bởi Hiệp hội Công nghiệp Thu âm Nhật Bản vào ngày 14 tháng 6, 2011, làm cho nhóm trở thành nghệ sĩ Hàn Quốc thứ 5, sau S.E.S, BoA, TVXQKARA, nhận được chứng nhận này. Girls' Generation sau đó lại được chứng nhận 2× Bạch kim (500.000) vào ngày 8 tháng 7, 2011, trở thành album đầu tiên của một nhóm nhạc nữ Hàn Quốc làm được như thế.[103][104] Nhóm cũng đã lập kỉ lục có số lượng album bán ra cao nhất trong số các nghệ sĩ nước ngoài tại Nhật Bản với album đầu tay. Girls' Generation còn là nghệ sĩ Hàn Quốc thứ 4 đạt được ví trí số 1 tại bảng xếp hạng doanh số album hàng tuần sau BoA, TVXQBig Bang,[105] và là nghệ sĩ thứ 3 vượt qua số doanh số album 500.000 sau BoATVXQ. Nhờ độ nổi tiếng của mình, Girls' Generation đã trở thành nghệ sĩ nước ngoài kiếm được nhiều doanh thu nhất tại Nhật Bản trong nửa đầu năm 2011.[106] Tính đến cuối năm 2011, album đã bán được hơn 728.000 bản.[107][108] Album sau đó được tái bản và đặt tên là "The Boys" (phiên bản tiếng Nhật) vào ngày 28 tháng 12, 2011. Girls' Generation được coi là album thành công nhất của nhóm cho đến hiện tại, nó được chứng nhận một triệu bản bởi Hiệp hội Công nghiệp Thu âm Nhật Bản và làm cho nhóm trở thành nghệ sĩ Hàn Quốc thứ 2 đạt được thành tích này tại Nhật Bản sau tiền bối cùng công tyBoA với album "Best of Soul" vào năm 2005 cũng như nhóm nhạc nữ đầu tiên làm được điều này.[11] Đây còn là album bán chạy thứ 5 tại Nhật Bản vào năm 2011[109] và dành được danh hiệu Album của năm tại 2012 MTV Video Music Awards Japan. Đĩa đơn chính, "Mr. Taxi", cũng bán được hơn 100.000 bản trong tuần đầu, vượt qua các đĩa đơn trước đó là "Gee" và "Genie".[110] Đĩa đơn đã nắm giữ vị trí sô 1 tại bảng xếp hạng Billboard Japan Hot 100 trong 2 tuần liền và được đề cử cho giải thưởng "Video của năm" tại 2012 MTV Video Music Awards Japan.[111][112]

Girls' Generation trình diễn ca khúc "Genie" tại Madison Square Garden vào tháng 10, 2011.

Chuyến lưu diễn vòng quanh châu Á thứ 2 của nhóm được công bố bởi S.M. Entertainment vào tháng 6, 2011. Vé được bắt đầu bán vào ngày 7 tháng 6, 2011 trên GMarket. Vào ngày 24 tháng 7,[113] Girls' Generation đã được SISA Press chọn là "Nghệ sĩ có sức ảnh hưởng nhất Hàn Quốc" trong năm 2011, sau khi đứng tại ví trí thứ 6 vào năm trước.[5] Với hy vọng mở rộng ra các thị trường nước ngoài, Girls' Generation đã kí hợp đồng với Universal Music Group vào năm 2011 để phát hành những sản phẩm âm nhạc dưới nhãn hiệu Interscope Records.[114] Album The Boys ban đầu được dự tính phát hành thông qua iTunes và trên các trang mạng âm nhạc trực tuyến ở châu Á, bao gồm cả Hàn Quốc vào ngày 5 tháng 10, 2011. Nhưng vào ngày 30 tháng 9, album đã bị hoãn lại với mong muốn được phát hành trên toàn thế giới.[115] Vào ngày 10 tháng 10, album được xác nhận sẽ chính thức phát hành vào ngày 19 tháng 10, 2011 cùng với màn trở lại trên KBS Music Bank vào ngày 21 tháng 10, 2011.

Ca khúc chủ đề của album, "The Boys", được đồng sáng tác bởi thành viên Tiffany và sản xuất bởi Teddy Riley, nhà sản xuất nổi tiếng đã từng làm việc với Michael Jackson, được phát hành ở cả 2 phiên bản là tiếng Hàntiếng Nhật rồi sau đó có cả tiếng Nhật.[116] Chỉ trong một vài phút sau khi "The Boys" được phát hành, Girls' Generation đã nhanh chóng đứng đầu mọi bảng xếp hạng trực và ngoại tuyến nổi tiếng tại Hàn Quốc. Mặc dù không xếp hạng tại Billboard Hot 100, ca khúc đã lọt vào top 30 tại bảng xếp hạng của iTunes tại Hoa Kỳ, bán được hơn 21.000 bản và trở thành một trong những ca khúc K-pop bán chạy nhất tại thời điểm đó ở Hoa Kỳ.[117] Album còn bán được 227.994 bản trong vòng 12 ngày tại Hàn Quốc, trở thành album bán chạy nhất vào tháng 10 và bán chạy thứ 3 trong năm 2011. Vào cuối tháng 9, "The Boys" đã bán được hơn 150.000 bản, tổng cộng là 385,348 bản.[118] Nhóm bắt đầu những hoạt động quảng bá tại KBS Music Bank với phần trình diễn 2 ca khúc "The Boys" và "Mr. Taxi". Vào ngày 23 tháng 10, 2011, các thành viên của nhóm đã tiết lộ tại đêm diễn "SMTown World Tour II" ở New York rằng đĩa đơn phối nhạc của "The Boys" sẽ được phát hành quốc tế vào ngày 19 tháng 11, 2011, tuy nhiên sau đó lại bị dời lại vào ngày 8 tháng 12, 2011.

Girls' Generation tại buổi hòa nhạc Visual Dream World Premiere

Chỉ với 2 tháng cuối năm, "The Boys" trở thành ca khúc kĩ thuật số bán chạy thứ 10 tại Hàn Quốc vào năm 2011, bán được 3.032.658 bản kể từ khi phát hành vào tháng 10. Cho đến tháng 4, 2012, album cùng tên đã bán được hơn 410.000 bản tại Hàn Quốc, trở thành album bán chạy nhất trong lịch sử bảng xếp hạng Gaon nếu không tính những album được tái bán lại.

Vào ngày 11 tháng 11, 2011, nhóm tiết lộ rằng sẽ phát hành quyển sách ảnh tiếng Nhật đầu tay mang tên "Holiday". "Holiday", đạt vị trí số một tại bảng xếp hạng doanh số sách bán ra dưới thể loại tập sách ảnh với 17.000 được tiêu thụ trong tuần đầu tiên sau khi được phát hành vào ngày 30 tháng 11. Nó xếp hạng thứ 18 trên bảng tổng sấp doanh số sách tiêu thụ. "The 1st Japan Arena Tour" cũng được phát hành dưới phiên bản Blu-rayDVD sau đó vào ngày 14 tháng 12, 2011.

Vào ngày 7 tháng 12, 2011, nhóm tiết lộ rằng sẽ phát hành một tái bản cho album đầu tay tiếng Nhật "Girls' Generation", bao gồm một phiên bản tiếng Nhật của ca khúc "The Boys", và các phiên bản phối nhạc của "The Great Escape", "Bad Girl", và "Mr. Taxi". Nó cũng bao gồm một bài hát mới mang tên "Time Machine". Album được phát hành vào ngày 28 tháng 12, 2011, cùng với album nguyên bản, "Girls' Generation" đã vượt qua con số 800.000 bản bán ra cùng với số lượng đặt hàng lên đến 1 triệu.[119]

Album đứng thứ 5 tại bảng xếp hạng CD Album hàng tuần của Oricon trong tuần thứ 2 của tháng 1, 2012 [120]Oricon đã thông báo rằng đây là lần đầu tiên trong lịch sử album của một nghệ sĩ Hàn Quốc lại đứng trong top 10 tận 17 tuần. Trước đó, kỉ lục được lập bởi nhạc phim gốc của một bộ phim Hàn Quốc mang tên "Winter Sonata", với 16 tuần trong top 10.[121] Nhờ những sản phẩm âm nhạc tại Nhật Bản, nhóm đứng thứ 5 trong danh sách các nghệ sĩ tại Nhật về khoản kiếm được nhiều lợi nhuận nhất với hơn 4.5 tỉ Yên (57 triệu USD) kiếm được trong năm 2011.[122]

2012: Quảng bá quốc tế, TaeTiSeo và Girls & Peace

Vào ngày 12 tháng 1, 2012, nhóm tham dự Golden Disk Awards được tổ chức ở Osaka, mang về cho mình 2 giải thưởng là "Bonsang Kĩ thuật số" và quan trọng hơn là "Daesang Kĩ thuật số". Một tuần sau đó, tức vào ngày 19, nhóm tham dự Seoul Music Awards và nhận được 2 giải "Bonsang" và "Độ nổi tiếng". Nhóm còn giành được 2 giải thưởng nữa từ Gaon Chart K-Pop Awards, chiến thắng album của quý 4 và giải "Nghệ sĩ Hallyu" Oricon.

Girls' Generation trình diễn "The Boys" tại lễ hội LG Cinema 3D World vào ngày 1 tháng 4, 2012.

Sự xuất hiện của nhóm trên Late Show with David LettermanLive! with Kelly, nơi họ trình diễn bản phối nhạc tiếng Anh của ca khúc "The Boys" vào ngày 31 tháng 1, 2012 và 1 tháng 2, 2012, đã đánh dấu lần đầu tiên một nghệ sĩ âm nhạc Hàn Quốc được biểu diễn ở mỗi chương trình.[123]

Nhóm cũng biểu diễn tại một chương trình của Pháp mang tên Le Grand Journal, vào ngày 9 tháng 2, 2012, sau đó nhóm còn tiết lộ sẽ cho phát hành "The Boys" tại Pháp thông qua nhãn hiệu Polydor Records của Universal Music Group vào ngày 13 tháng 2. Trong cùng tháng đó, Girls' Generation một lần nữa đứng đầu danh sách 40 người nổi tiếng quyền lực nhất Hàn Quốc của Forbes năm 2012.[124] Doanh thu của nhóm trong năm 2011 đã được tiết lộ vào tháng 3, 2012. Nhóm đứng đầu so với các nghệ sĩ trong cùng công ty, kiếm được hơn 100 tỉ won, tức khoảng 88,56 triệu USD.[125] Tương tự, với những sản phẩm âm nhạc tại Nhật Bản vào năm 2012, nhóm cũng đứng 7 trong số các nghệ sĩ Nhật và đứng đầu so với các nghệ sĩ Hàn Quốc về doanh thu tại Nhật Bản sau khi kiếm được hơn 4,3 tỉ Yen (51 triệu USD) vào năm 2012.[126]

Vào tháng 4, Girls' Generation-TTS, hay đơn giản là "TaeTiSeo", một nhóm nhỏ bao gồm các thành viên Taeyeon, Tiffany, và Seohyun đã được thành lập và cho ra mắt mini-album đầu tay, Twinkle, vào ngày 2 tháng 5, 2012.[127] "Twinkle" ra mắt tại vị trí thứ 126 trên Billboard 200, bán được hơn 3.000 bản và trở thành album K-pop có vị trí cao nhất trên bảng xếp hạng này tính đến thời điểm đó.[128] Vào ngày 20 tháng 5, 2012, nhóm đã cùng với các nghệ sĩ trong công ty biểu diễn tại Honda Center ở Anaheim trong ngày đầu của SMTown Live World Tour III. Chuyến lưu diễn sau đó còn đi qua Nhật Bản, Hàn Quốc, Singapore, Thái LanIndonesia.[129]

"Paparazzi" được phát hành vào ngày 27 tháng 6, 2012 như một đĩa đơn chính từ album tiếng Nhật thứ 2 của nhóm.[130] Việc phát hành "Paparazzi" đã giúp cho nhóm đạt được tổng số các đĩa đơn được bán ra ở Nhật Bản là hơn 647.000, theo SoundScan Japan.[131][132] Cùng tháng đó, nhóm giành chiến thắng giải "Album xuất sắc nhất năm" cho album tiếng Nhật đầu tay tại 2012 VMAJs.[133] Vào ngày 3 tháng 7, 2012, nhóm tiết lộ sẽ phát hành bộ tem chính thức vào tháng 8 để để kỉ niệm 5 năm ngày thành lập nhóm. Có tổng cộng 14 con tem được sản xuất, in hình bìa đĩa của các album cùng với chữ kí của các thành viên. Đây là lần đầu tiên một nghệ sĩ phối hợp với Bưu điện Hàn Quốc đến sản xuất tem.[134] Trong một giờ phát hành, hơn một nửa số tem có sẵn đã được bán hết.[135] Vào ngày 10 tháng 8, 2012, nhóm tiết lộ sẽ phát hành Blu-ray/DVD mang tên "Girls' Generation Complete Video Collection".[136]

"Oh! / All My Love Is For You", đĩa đơn mặt A nhân đôi thứ 2 của nhóm đã được phát hành vào ngày 26 tháng 9, 2012.[137] Đĩa đơn đã đứng vị trí số 1 tại bảng xếp hạng đĩa đơn hằng tuần của Oricon, bán được 66,000 bản trong tuần đầu phát hành.[138] Album tiếng Nhật thứ 2 của nhóm, Girls' Generation II: Girls & Peace, được phát hành vào ngày 28 tháng 11, 2012.[139] Album được ra mắt sau khi đĩa đơn nằm trong album, "Flower Power" được phát hành trước đó 1 tuần.[140] "Flower Power" bán được 29,000 bản trong tuần đầu tiên, đạt vị trí thứ 5 tại bảng xếp hạng của Oricon. Trong khi đó, "Girls' Generation II: Girls & Peace" bán được 116,963 bản trong tuần đầu tiên phát hành, đứng thứ 3 tại bảng xếp hạng album hằng tuần của Oricon. "Girls & Peace" đã được chứng nhận Bạch kim bởi Hiệp hội Công nghiệp Thu âm Nhật Bản (RIAJ).[141] Nhóm cũng phát hành 2011 Girls' Generation Tour DVD vào ngày 30 tháng 11, 2012, bao gồm những đoạn phim hậu trường từ chuyến lưu diễn năm 2011 cùng tên và những bài phỏng vấn với các thành viên của nhóm.[142]

Nhóm cũng đã phát hành ca khúc "Dancing Queen", một phiên bản làm lại từ bài hát Mercy của Duffy, vào ngày 21 tháng 12, 2012.[143]

2013: I Got a Boy, chuyến lưu diễn thế giới và Love & Peace

Girls' Generation gặp gỡ tổng thống Hàn Quốc Park Geun-hye tại lễ hội âm nhạc Hàn-Trung vào ngày 28 tháng 6, 2013.

Vào ngày 1 tháng 1 năm 2013, Girls' Generation phát hành album tiếng Hàn thứ tư của nhóm, I Got a Boy.[144] Album bán được hơn 265.000 bản trong tháng 1, ra mắt tại vị trí số 1 trên bảng xếp hạng album của Gaon Chart.[145] Sau đó, album lại đạt được vị trí số một trên bảng xếp hạng album thế giới của Billboard.[146] Nhóm cũng bắt đầu quảng bá cho album của mình trên chương trình M! Countdown của Mnet và tiếp tục cho đến đầu tháng 2.[147][148] Nhóm còn thực hiện màn trở lại đặc biệt trên đài MBC với riêng một chương trình của mình mang tên Girls' Generation's Romantic Fantasy vào ngày 1 tháng 1, 2013.[149] Nhóm đồng thời cũng biểu diễn tại Hope Concert của KBS. Đặt biệt hơn, Girls' Generation đã tổ chức buổi diễn ảo kéo dài 1 giờ phát sóng trực tiếp thông qua Naver Music vào ngày 05 tháng 1, "nhóm" đã biểu diễn "I Got a Boy" và "Dancing Queen".[150]

Girls' Generation đã bắt đầu chuyến lưu diễn vòng quanh Nhật Bản thứ 2 của mình - Girls & Peace Japan 2nd TourKobe vào ngày 9 tháng 2, 2013 và tiếp tục với tổng số 20 buổi diễn qua 7 thành phố. Tour diễn đã diễn ra thành công với sự tham dự của hơn 200.000 người [151][152] Nhóm đã phát hành album phối nhạc tiếng Nhật đầu tiên mang tên Best Selection Non Stop Mix vào ngày 20 tháng 3 năm 2013.[153] Album đứng thứ 6 trên bảng xếp hạng album hàng tuần của Oricon.[154]

Vào ngày 11 tháng 4, 2013, nhóm phát hành 1 album trực tiếp mang tên 2011 Girls' Generation Tour. Album quay lại 2 đêm diễn của nhóm ở Seoul tại sân vận động Olympic Gymnastics vào ngày 23 và 24 tháng 7, trong chuyến lưu diễn 2011 Girls' Generation Tour của mình.[155] Vào ngày 26 tháng 4 năm 2013, Girls' Generation thông báo rằng chuyến lưu diễn vòng quanh thế giới đầu tiên của nhóm, Girls' Generation World Tour Girls & Peace, sẽ diễn ra với 2 đêm diễn đầu tiên ở Seoul vào ngày 8 và 9 tháng 6 năm 2013 tại sân vận động Olympic Gymnastics.[156] Trong năm 2013, các cô gái đã đi qua 5 thành phố - Seoul, Đài Bắc, Jakarta, SingaporeHong Kong - cùng với 8 đêm diễn và kéo dài sang cả năm 2014.

Nhóm phát hành đĩa đơn tiếng Nhật thứ bảy, "Love & Girls" vào ngày 19 tháng 6 năm 2013.[157] Theo bảng xếp hạng Oricon hàng ngày, "Love & Girls" đã leo từ vị trí số 6 lên đến số 4 sau ngày ra mắt trên bảng xếp hạng đĩa đơn.[158] Đĩa đơn đã bán được 42,796 bản ngay trong tuần đầu phát hành và đạt được vị trí số 4 trong bảng xếp hạng Oricon hàng tuần.[159]

Girls' Generation sau đó cũng đã phát hành đĩa đơn tiếng Nhật thứ tám, Galaxy Supernova vào ngày 18 tháng 9 năm 2013 cùng với DVDBlu-ray Girls' Generation -Girls & Peace- Japan 2nd Tour. Theo bảng xếp hạng đĩa đơn hàng ngày của Oricon, đĩa đơn đã đạt được vị trí số 1 vào ngày đầu tiên phát hành[160] trong khi Girls' Generation -Girls & Peace- Japan 2nd Tour cũng đã đạt được vị trí số 1 trên bảng xếp hạng Oricon-DVD.[161] Sau một tuần phát hành, Galaxy Supernova bán được 50,793 bản sao trong khi đĩa DVDBlu-ray bán được tổng cộng 53,256 bản.[162][163]

Vào ngày 4 tháng 11, 2013, Girls' Generation đã tạo nên một bất ngờ lớn tại giải thưởng âm nhạc lần đầu tiên của YouTube, YouTube Music Awards, khi thắng giải Music Video of the Year, vượt qua các đối thủ đáng gờm khác như Miley Cyrus, PSY, Lady GagaJustin Bieber,.. trở thành nghệ sĩ châu Á đầu tiên chiến thắng giải thưởng này.[164] Nhóm đã phát hành đĩa đơn tiếng Nhật thứ chín mang tên "My Oh My" vào ngày 5 tháng 11, 2013.[165]

Nhóm đã phát hành album phòng thu thứ 7 của mình, "Love & Peace" vào ngày 11 tháng 12 năm 2013 sau khi phát hành các đĩa đơn nằm trong album là "Love & Girls", "Galaxy Supernova" và "My Oh My" trước đó.[166] Album đã ra mắt tại vị trí số một trên bảng xếp hạng album hàng ngày của Oricon sau khi bán được hơn 37.386 bản sao.[167] Sau tuần đầu tiên, với doanh thu lên tới 129.000 đĩa bán ra, album lại ra mắt tại vị trí số 1 trên bảng xếp hạng album hàng tuần của Oricon.[168] Album tiếng Nhật đầu tay cùa nhóm, "Girls' Generation", phát hành vào tháng 6 năm 2011 cũng đã đạt được thành tích tương tự trước đó, làm cho Girls' Generation trở thành nhóm nhạc nữ Hàn Quốc đầu tiên có hai album dành được vị trí số một trên bảng xếp hạng album hàng tuần của Oricon, vượt qua nhóm nhạc đồng hương - Kara.[169]

Girls' Generation đã biểu diễn tại lễ hội âm nhạc của S.M. Entertainment - "SM Town Week" vào ngày 22 tháng 12, 2013. Các cô gái đã có một đêm biểu diễn riêng mang tên "SMTOWN WEEK GIRLS’ GENERATION – Märchen Fantasy". Buổi hòa nhạc là một câu chuyện cổ tích với nhiều giai đoạn khác nhau cùng hiệu ứng hình ảnh sặc sỡ.[170] Đã có những màn biểu diễn lại các ca khúc nổi tiếng của những nghệ sĩ khác như thành viên Jessica biểu diễn lại bài hát Miss Korea của Lee Hyori, hay Sunny trình diễn Bloom của GaIn,... Đồng thời, các cô gái còn cho những người hâm mộ xem một số hình ảnh trong lần trở lại vào đầu năm 2014.[171][172]

2014: Mr.Mr.The Best

Girls' Generation tại M! Countdown ngày 6 tháng 3, 2014

Vào ngày 10 tháng 2 năm 2014, S.M. Entertainment công bố tên, ngày phát hành cũng như teaser của video âm nhạc trên trang tài khoảng YouTube chính thức của công ty cho mini-album thứ 4 của nhóm Mr.Mr. và nói rằng ca khúc sẽ được ra mắt vào ngày 19 tháng 2, 2014 tại nhiều trang âm nhạc trực tuyến, trong khi đó mini-album sẽ bán ra thị trường vào ngày 24 tháng 2.[173][174]

Theo một thông tin độc quyền từ trang báo OSEN, trong quá trình cuối của việc chuẩn bị phát hành video âm nhạc của ca khúc chủ đề "Mr.Mr.", vào ngày 13 tháng 2, S.M. Entertainment thông báo họ gặp phải sai lầm không đáng có và dẫn đến mất đi một phần trong video.[175][176] Công ty này cũng cho biết họ sẽ cố gắng khôi phục lại dữ liệu. Tuy nhiên, để có thời gian sửa chữa tốt nhất, kế hoạch ban đầu của Girls' Generation sẽ bị hủy bỏ và đẩy lùi khoảng 2 tuần. Nhiều nguồn dư luận cho rằng lí do này được S.M. Entertainment đưa ra chỉ là lí do để họ hợp lí hóa ý định đẩy lùi ngày trở lại của Girls' Generation đáp trả lại mong muốn của công ty đối thủ của họ, YG Entertainment, về một trận chiến của 2 nhóm nhạc nữ sẽ xảy ra giữa Girls' Generation và 2NE1 được đăng tải trên trang mạng xã hội Twitter chính thức của YG Entertainment.[175][177][178] Cuối cùng, Girls' Generation phát hành Mr.Mr. vào ngày 24 tháng 2 trên nhiều website âm nhạc Hàn Quốc và quốc tế, bao gồm iTunes Store.[179] Mini-album sau đó được bán ra thị trường vào ngày 27 tháng 2, 2014. Nhóm đã biểu diễn tại chương trình M! Countdown của kênh Mnet vào ngày 6 tháng 3, 2014.[180][181][182] Nhóm sau đó tiếp tục thực hiện các buổi biểu diễn tại tuần đầu tiên để quảng bá cho mini-album tại chương trình Music Bank của đài KBS, Show! Music Core của đài MBCThe Music Trend của đài SBS vào ngày 7,8 và 9.[183] Vào ngày 2 tháng 6 năm 2014, Tạp chí Time tiết lộ rằng "Mr.Mr." là một trong 25 bài hát hay nhất trong nửa đầu năm 2014 theo tạp chí này.[184]

Vào ngày 26 tháng 4 năm 2014, Girls' Generation đã bắt đầu chuyến lưu diễn vòng quanh Nhật Bản lần thứ 3 của họ, mang tên GIRLS’ GENERATION ~LOVE&PEACE~ Japan 3rd Tour, với 2 đêm diễn đầu tiên ở Fukuoka. Chuyến lưu diễn đi qua 7 thành phố với tổng cộng 17 đêm diễn và kết thúc ở Tokyo vào ngày 13 tháng 7, 2014.[185][186] Xuyên suốt 3 chuyến lưu diễn vòng quanh Nhật Bản từ năm 2011 của nhóm, đã có tổng cộng khoảng 550,000 khán giả đến xem, lập nên một kỉ lục mới giữa các nhóm nhạc nữ Hàn Quốc.[187]

Nhóm cũng phát hành album tuyển tập tiếng Nhật đầu tay mang tên The Best tại Nhật Bản vào ngày 23 tháng 7, 2014. Album sẽ bao gồm những đĩa đơn tiếng Nhật trước đây của nhóm và 1 bài hát mới cũng như những cảnh quay hậu trường của nhóm từ khi ra mắt tại Nhật Bản năm 2010 cho đến nay.[188][189] Sau 1 tuần phát hành, album bán được hơn 75,000 bản, đứng đầu bảng xếp hạng album hằng tuần của Oricon. Nhờ đó, Girls' Generation lập nên một kỉ lục mới khi trở thành nhóm nhạc nữ nước ngoài (trừ Nhật Bản) đầu tiên tại châu Á có 3 album (cùng với Girls' GenerationLove & Peace) đứng hạng 1 tại bảng xếp hạng này.[190][191]

Girls' Generation tiết lộ rằng sẽ biểu diễn tại lễ hội âm nhạc KCON 2014 ở Los Angeles. KCON sẽ diễn ra vào 2 ngày, 9 và 10 tháng 8, với các nghệ sĩ sẽ thay phiên nhau biểu diễn trong 2 ngày.[192]

Thành viên

Nghệ danh Tên thật Ngày sinh[1]
Latin hóa Hangul Latin hóa Hangul
Taeyeon 태연 Kim Tae-yeon 김태연 9 tháng 3, 1989 (25 tuổi)
Jessica 제시카 Jessica Jung, Jung Soo-yeon 제시카 정, 정수연 18 tháng 4, 1989 (25 tuổi)
Sunny 써니 Lee Soon-kyu 이순규 15 tháng 5, 1989 (25 tuổi)
Tiffany 티파니 Stephanie Hwang, Hwang Mi-young 스테파니 황, 황미영 1 tháng 8, 1989 (25 tuổi)
Hyoyeon 효연 Kim Hyo-yeon 김효연 22 tháng 9, 1989 (24 tuổi)
Yuri 유리 Kwon Yu-ri 권유리 5 tháng 12, 1989 (24 tuổi)
Sooyoung 수영 Choi Soo-young 최수영 10 tháng 2, 1990 (24 tuổi)
Yoona 윤아 Im Yoon-ah 임윤아 30 tháng 5, 1990 (24 tuổi)
Seohyun 서현 Seo Joo-hyun 서주현 28 tháng 6, 1991 (23 tuổi)

Nhóm nhỏ

Bài chi tiết: Girls' Generation-TTS

Vào ngày 19 tháng 4, 2012, S.M. Entertainment chính thức thông báo về sự thành lập nhóm nhỏ của Girls' Generation, Girls’ Generation–TaeTiSeo, bao gồm 3 thành viên Taeyeon, Tiffany, và Seohyun. Mini-album đầu tay của nhóm mang tên Twinkle được phát hành vào ngày 29 tháng 4, 2012. S.M. Entertainment còn phát biểu rằng "Nhóm nhỏ này được dự kiến sẽ gây sự chú ý cho những người hâm mộ về tất cả mọi mặt từ phong cách âm nhạc, trình diễn và cả thời trang."[193][194]

Nghệ thuật

Phong cách âm nhạc

Hình tượng

Ảnh hưởng và kế thừa

Quảng cáo

Từ thiện

Đĩa nhạc

Đĩa nhạc tiếng Hàn

Đĩa nhạc tiếng Nhật

Chuyến lưu diễn

Chuyến lưu diễn riêng

Chuyến lưu diễn chính

Chuyến lưu diễn Nhật Bản

Chuyến lưu diễn tham gia

Điện ảnh

Tham khảo

  1. ^ a ă “Girls' Generation Profile”. SM Entertainment. Truy cập ngày 30 tháng 1 năm 2013. 
  2. ^ “2000년대 음악의 흐름” (bằng Korean). 2011. Bản gốc lưu trữ ngày 3 tháng 5 năm 2011. Truy cập ngày 18 tháng 1 năm 2014. 
  3. ^ Son Yong (24 tháng 2 năm 2011). “Korea Power Celebrity 40” (bằng Korean). magazine.joinsmsn.com/forbes. Truy cập ngày 25 tháng 11 năm 2012. 
  4. ^ “2010년 올해의 10대 가수와 가요” (bằng Korea). Gallup Korea. 17 tháng 11 năm 2010. Truy cập ngày 25 tháng 11 năm 2012. 
  5. ^ a ă “Girls’ Generation Is The Most Influential Celebrity in Korea”. soshified. 16 tháng 8 năm 2012. Truy cập ngày 29 tháng 6 năm 2014. 
  6. ^ “장동건 김태희, 하반기 가장 인기있는 남녀 배우”. Metro Seoul. 23 tháng 10 năm 2014. Truy cập ngày 22 tháng 1 năm 2013. 
  7. ^ “2012 하반기 인기도, 아이유 제친 女가수 1위는?”. Sports Khan. 24 tháng 10 năm 2013. Truy cập ngày 22 tháng 1 năm 2013. 
  8. ^ a ă (tiếng Triều Tiên) 아시아투데이 선정...한국의 파워리더 50인 Asia Today. December 31, 2010.
  9. ^ <“Girls' Generation, Big Bang, Suzy, and more make top 40 list for '2014 Forbes Korea Celebrities'” (bằng English). allkpop. 4 tháng 3 năm 2014. Truy cập ngày 29 tháng 6 năm 2014. 
  10. ^ Jeff Benjamin (4 tháng 3 năm 2014). “Girls' Generation & BIGBANG Top, PSY Tumbles Down Forbes Korea's Celebrity List” (bằng English). allkpop. Truy cập ngày 29 tháng 6 năm 2014. 
  11. ^ a ă 朝日新聞デジタル:朝日新聞社のニュースサイト
  12. ^ “Girls' Generation Splinter Group Enters Billboard 200”. Billboard. Truy cập ngày 16 tháng 2 năm 2014. 
  13. ^ “(Korean) 걸그룹 이름 뜻, 숨겨진 의미에 ‘그렇구나’”. Nate. 15 tháng 4 năm 2012. Truy cập ngày 23 tháng 2 năm 2013. 
  14. ^ Mark Schreiber (2 tháng 9 năm 2012). “Will the Takeshima dispute break the Korean wave?”. japantimes.co.jp. Truy cập ngày 1 tháng 4 năm 2013. 
  15. ^ a ă The Making of So Nyuh Shi Dae « SNSD Korean
  16. ^ Route – official website – profile
  17. ^ Sooyoung – Choi Sooyoung | Music Asia | Singer – Asia Music Portal
  18. ^ (tiếng Triều Tiên) Chosun.com: 제시카, "관객 앞에서의 제 목소리에 감동했어요", February 18, 2009
  19. ^ “Seohyun, Sulli, Krystal and Taemin’s audition clips revealed”. allkpop.com. 1 tháng 8 năm 2010. Truy cập ngày 18 tháng 9 năm 2012. 
  20. ^ (tiếng Triều Tiên) 소녀, 자유를 꿈꾸다, <태양의 노래>의 김태연 (No.80), The Musical. May 11, 2010. Retrieved May 15, 2010
  21. ^ (tiếng Triều Tiên) Newsen.com: 소녀시대 티파니 "LA 축제서 캐스팅", August 1, 2007
  22. ^ (tiếng Triều Tiên) Chosun.com: 홀로 숙소 지키는 티파니 "이제서야 외로움이 몰려와요". February 13, 2009
  23. ^ (tiếng Triều Tiên) 소녀시대 써니 SM 이수만 친조카 ‘슈가 후속 그룹 멤버 될 뻔’. asiae.co.kr. November 30, 2007. Retrieved June 15, 2010.
  24. ^ '소녀시대' 써니는 이수만의 조카...아버지도 가수 출신 – 오마이뉴스
  25. ^ “[Program] Girls, go to School”. CJ E&M Corp. Truy cập ngày 4 tháng 7 năm 2014. 
  26. ^ “Cảm động lần đầu thắng Music Show của nhóm nữ Kpop”. iOne. 3 tháng 3 năm 2013. Truy cập ngày 4 tháng 7 năm 2014. 
  27. ^ “^ (Korean)'걸 댄스그룹', SES 이후 6년만에 '10만장 시대'”. StarNews. 15 tháng 4 năm 2012. Truy cập ngày 25 tháng 12 năm 2012. 
  28. ^ (tiếng Triều Tiên) 소녀시대, '대성통곡'은 통사고 때문? (Girls' Generation in a Car Accident Before Music Bank)
  29. ^ (tiếng Triều Tiên) 소녀시대, 13일 리패키지 앨범 'Baby Baby' 출시 (Girls' Generation Release Repackaged Album Baby Baby on the 13th). The Chosun Ilbo. March 12, 2008. Retrieved May 16, 2010.
  30. ^ (tiếng Triều Tiên) 소녀시대 1집 활동 공식 마무리 "팬들 아쉬워~ (Girls completed a formal House action "disappointed fans~) Newsen. Retrieved May 24, 2010.
  31. ^ (tiếng Triều Tiên) [포토엔]3人3色, 소녀시대 서현-티파니-제시카 (Girls' Generation Jessica Tiffany Seohyun
  32. ^ (tiếng Triều Tiên) 소녀시대 제티현 ‘오빠나빠' 신고식 여인의 향기 물씬 (Girls' Generation JeTiHyun "Oppa Nappa")
  33. ^ (tiếng Triều Tiên) 소녀시대, 마비노기 상큼 주제곡 ‘공개' (Mabinogi Theme Song by Girls' Generation Released)
  34. ^ (tiếng Triều Tiên) Factory Girl – official website
  35. ^ (tiếng Triều Tiên) 소녀시대, 이제는 패션 에디터로 변신 (Girls' Generation, Now Becoming Fashion Editors). MyDaily. September 30, 2008. Retrieved October 3, 2008.
  36. ^ “SM Entertainment to launch world tour”. Korea Times. 7 tháng 2 năm 2010. Truy cập ngày 30 tháng 5 năm 2012. 
  37. ^ (tiếng Triều Tiên) Lee, Soo-hyeon. 소녀시대 신곡 '지', 공개 동시 싸이월드 실시간 1위 (Girls' Generation's New Song "Gee" Tops Cyworld's Hourly Chart After Release). MoneyToday. January 5, 2009. Retrieved January 5, 2009.
  38. ^ (tiếng Triều Tiên) Park, Young-woong. 소녀시대, 'Gee' 공개 2일 만에 음원 차트 '올킬' (Girls' Generation's "Gee" Does Chart "All-Kill" 2 Days After Release). MyDaily. January 7, 2009. Retrieved January 7, 2009.
  39. ^ Lee, Jeong-hyeok. '소녀시대', KBS와 갈등?...2주 연속 출연 안해 (Girls' Generation, KBS Conflict?...Two Weeks of No-Shows). Sports Chosun. January 16, 2009. Retrieved January 16, 2009.
  40. ^ Lee Soo-oon. (뮤직클럽)카라, 단숨에 2위 소녀시대 'Gee' 누를까 ((Music Club) Kara, Second in Moments; Can They Overcome Girls' Generation's "Gee"). ETNews. February 25, 2009. Retrieved February 24, 2009.
  41. ^ a ă Yang, Seung-joon. 소녀시대, '뮤뱅' 7주 연속 1위...쥬얼리와 최장 기록 '타이' (Girls' Generation, 'Music Bank' 7-Week Continuous #1...'Ties' Jewelry's Record). EDaily. February 27, 2009. Retrieved March 3, 2009.
  42. ^ (tiếng Triều Tiên) 나비의 여행:: 소녀시대 – Gee (트레일러, 뮤직비디오) / 1위 기록 정리
  43. ^ (tiếng Triều Tiên) 소녀시대, 9주 연속 1위 차지 ‘음반•음원 모두 두각' (Girls' Generation 9 Consecutive No.1 Wins.)
  44. ^ a ă (tiếng Triều Tiên) 소녀시대 제로센 논란에 음반 발매일 29일로 연기 ‘문제 부분 삭제', Newsen.com. June 23, 2009. Retrieved May 20, 2010.
  45. ^ (tiếng Triều Tiên) Jang, Hwi-jae. 소녀시대, 타이틀 곡 ‘소원을 말해봐'로 활동 재개 (Girls' Generation, Title Song "Tell Me Your Wish" for Comeback). TodayKorea. June 17, 2009. Retrieved June 17, 2009.
  46. ^ (tiếng Triều Tiên) 소녀시대, 25일 두 번째 싱글 '소원을 말해봐' 공개 (Girls' Generation, Second mini-album Tell Me Your Wish (Genie) Released on 22nd). Korea Precious News.com. October 16, 2009. Retrieved October 16, 2009.
  47. ^ (tiếng Triều Tiên) 소녀시대, 전 음원 차트 1위 석권. 또 ‘올 킬’…. (Girls' Generation' Tops All Digital Charts, "All Kill" Again...). SportsKhan. July 1, 2009. Retrieved July 16, 2009.
  48. ^ (tiếng Triều Tiên) 소녀시대 뮤뱅 1위 ‘음원 음반 벨 방송횟수 이어 가요차트 올킬' ('SNSD Music Bank No.1 "Online, offline, ringtone, broadcast numbers and music charts all-kill")
  49. ^ (tiếng Triều Tiên) 소녀시대 가요계 올킬 ‘음반 음원 벨 방송횟수 모두 1위 싹쓸이' ('SNSD Commits an Industry All-Kill: Music Sales, Online Sales, Ringtones, Broadcast')
  50. ^ “소녀시대 가요계 올킬 ‘음반 음원 벨 방송횟수 모두 1위 싹쓸이”. 
  51. ^ Lynn, Kim (11 tháng 11 năm 2009). “Girls' Generation to embark on Asia tour next month”. Asia Economy. Truy cập ngày 29 tháng 11 năm 2009. 
  52. ^ “Girls' Generation Gig Sells Out in 3 Minutes”. Chosun Ilbo. 24 tháng 11 năm 2009. Truy cập ngày 29 tháng 11 năm 2009. 
  53. ^ Han Sang, Hee (11 tháng 11 năm 2009). “Girls’ Generation to Hold Asian Tour”. The Korea Times. Truy cập ngày 29 tháng 11 năm 2009. 
  54. ^ Girls' Generation to embark on Asia tour next month – 아시아경제
  55. ^ Hong, Lucia (18 tháng 10 năm 2010). “Girls' Generation holds sold-out concerts in Taiwan”. 10 Asia. Truy cập ngày 29 tháng 6 năm 2012. 
  56. ^ (tiếng Triều Tiên)“Girls Generation to release 2nd album”. Korea Herald. 21 tháng 1 năm 2010. Truy cập ngày 21 tháng 1 năm 2010. 
  57. ^ (tiếng Triều Tiên)치어리더로 변신한 소녀시대, ‘Oh!' 뮤직비디오 27일 공개! (Girls' Generation's "Oh!" M/V Released on January 27!). Released, No.1 on Chart within 10 Minutes. JK News. January 25, 2010. Retrieved January 24, 2010.
  58. ^ (tiếng Triều Tiên) 소녀시대 '쇼! 음악중심'으로 첫 컴백 무대 (Girls' Generation's 1st "Oh!" performance on "Show! Music Core").SSTV. February 3, 2010. Retrieved January 30, 2010.
  59. ^ (tiếng Triều Tiên) '음악중심' 소녀시대 'Oh!' 클린버전 무료서비스 실시 ("Show! Music Core" starts to provide Girls' Generation's 1st "Oh!" complete performance).SSTV. February 3, 2010. Retrieved January 30, 2010.
  60. ^ (tiếng Triều Tiên) '뮤직뱅크' 소녀시대, '상반기 결산 K차트 1위 – 티브이데일리 ("Music Bank" Girls' Generation, '1st place on Looking Back on the First Half (of the year) K Chart'..'Dominated the Music Industry)
  61. ^ (tiếng Triều Tiên) 소시 '오!', 상반기 음원판매도 1위 '트리플크라운' (Soshi 'Oh!', 'Triple Crown' 1st place in First Half Music Sales.)
  62. ^ “KBS Music Bank 12.17.10: Year End Speical”. Soompi. 17 tháng 12 năm 2010. Truy cập ngày 8 tháng 7 năm 2014. 
  63. ^ (tiếng Triều Tiên) 소녀시대 '오' 뮤비, 유튜브 많이 본 동영상 1위 차지 Nate. December 16, 2010. Retrieved December 16, 2010.
  64. ^ (tiếng Triều Tiên) 블랙소시 태연-서현, 도도-시크 매력 물씬 (Black SNSD Taeyeon-Seohyun "Glamorous and Elegant" look). Osen. March 12, 2010. Retrieved March 11, 2010.
  65. ^ (tiếng Nhật) "韓"動美脚9人娘、8月に日本デビュー (1/2ページ) (Korea's 9 "beautiful-legged" ladies, August Japan Debut), sanspo.com. June 11, 2010. Retrieved June 11, 2010.
  66. ^ (tiếng Nhật) "Beautiful-legged" Girls' Generation make their Japanese Advancement. oricon.co.jp. June 11, 2010.
  67. ^ “SNSD to release their debut single in Japan this September”. allkpop. 11 tháng 6 năm 2010. Truy cập ngày 10 tháng 7 năm 2014. 
  68. ^ a ă (tiếng Triều Tiên) 소녀시대, 8월 초대형 쇼케이스로 日 진출 선언 (Girls' Generation, Announcing their Advancement with a Mega Showcase in August). Nate. June 11, 2010.
  69. ^ (tiếng Nhật) 少女時代日DVDがオリコン4位 "新人"では異例の4万枚出荷 (Girls' Generation ranks 4th on ORICON & ships out 40,000 copies as rookies)
  70. ^ (tiếng Nhật) "美脚"グループ・少女時代、韓国女性グル―プ初のDVD総合TOP5入り(SNSD is First Korean Female Group to place in the Top 5 for ORICON's total DVD ranking)
  71. ^ SM Entertainment to launch world tour The Korea Times. July 2, 2010. Retrieved July 5, 2010.
  72. ^ Jonathan Hicap: SM Entertainment artists including Super Junior to hold world tour. Manila Bulletin. July 3, 2010. Retrieved July 4, 2010
  73. ^ (tiếng Nhật)韓国の人気9人組・少女時代が日本上陸 (Finally the veil is lifted! 22,000 people cheer for Shoujo Jidai!)
  74. ^ (tiếng Triều Tiên) 소녀시대 日 쇼케이스 1회 1만명→3회 2만명 공연 추가 ‘관심폭발' (Girls' Generation's Showcase Increases from 1 Show to 3 Shows)
  75. ^ (tiếng Nhật) 美脚がウリです 「少女時代」ついに日本で"解禁" (Matching Beautiful Legs "Girls' Generation" Opens in Japan)
  76. ^ (tiếng Triều Tiên) 소녀시대 日데뷔 싱글 ‘지니' 티저 공개, 한국서도 관심폭발 (Sonyeo Sidae Releases their Japanese Single 'GENIE' Teaser Video, Also Attracts Attention from the South Koreans) Newsen. Retrieved September 4, 2010
  77. ^ (tiếng Nhật) 少女時代、日本の音楽チャートを席巻 (Shoujo Jidai, Conquering Japan's Music Charts)
  78. ^ Girls' Generation debuts successfully in Japan The Korea Herald, 9. September 2010.
  79. ^ (tiếng Triều Tiên) 소시 티파니, 일본에서도 '살인 눈웃음'으로 男心 녹여 (Soshi Tiffany, 'Eye Smile' Melted Male Hearts Even in Japan)
  80. ^ (tiếng Nhật) "美脚&美ヒップ"韓国のガールズグループがレコチョク動画ランキング席巻 (Korean Girl Groups Dominate Rekochoku Video Rankings)
  81. ^ (tiếng Nhật) K-POPガールズ本命・少女時代、日本デビュー作が歴代最高記録 (Shoujo Jidai Breaks 2 Records on Oricon and Sells 45000 Copies of GENIE)
  82. ^ (tiếng Triều Tiên) `아시아 NO1 걸그룹` 소녀시대, 日 데뷔 싱글 `GENIE` 1위! (Asia's No.1 Girl Group Sonyeo Sidae Takes 1st Place With Debut Single!)
  83. ^ (tiếng Nhật)(Shoujo Jidai's (SNSD) ‘Gee' album cover revealed (UPDATE: MV Teaser!) SM Town Japan. September 30, 2010. Retrieved October 1, 2010.
  84. ^ “RIAJ Digital Track Chart: Chart issue October 26, 2010” (bằng Japanese). Recording Industry Association of Japan. Truy cập ngày 29 tháng 10 năm 2010. 
  85. ^ (tiếng Triều Tiên) "소시 3집 미니 앨범 훗 티저 이미지 • 음원 전격 공개... 드디어 컴백" My Daily. Retrieved October 21, 2010.
  86. ^ “Q&A on K-pop with Lars Halvor Jensen”. HitQuarters. 24 tháng 10 năm 2011. Truy cập ngày 27 tháng 10 năm 2011. 
  87. ^ "Hoot" Music Video trên YouTube
  88. ^ Sunny Kim. “Super Junior’s Siwon To Make A Special Appearance In Girls Generation’s "Hoot" MV! | MTV K – K-Pop, Korean entertainment, music videos, interviews, music”. MTV K. Truy cập ngày 9 tháng 10 năm 2011. 
  89. ^ (tiếng Triều Tiên) Gaon Chart Gaon Chart. Retrieved November 5, 2010.
  90. ^ (tiếng Triều Tiên) "소녀시대, "(티)파니야 또 1위 했어" 3주 연속 공중파 석권" (Sonyeo Sidae, "(Ti)Fany! We got no.1 again!" Conquered First Place Three Consecutive Weeks)
  91. ^ (tiếng Triều Tiên) 올해의 벅스뮤직 어워드 '소녀시대'
  92. ^ (tiếng Triều Tiên) 소녀시대 `훗`, 각종 음원차트-지상파 방송 올킬 (Girls Generation "Hoot" Chart All-Kill)
  93. ^ (tiếng Triều Tiên) 소녀시대, '훗' 발매 당일 2만장••日오리콘 2위 '이례적' (Sonyeo Sidae "Hoot" Ranks Second On Oricon Daily Chart)
  94. ^ (tiếng Triều Tiên) [1] Hanteo. Retrieved December 27, 2010.
  95. ^ (tiếng Triều Tiên) 소녀시대, 2010년 최고의 아티스트 등극 Nate. Retrieved December 20, 2010.
  96. ^ (tiếng Triều Tiên) 소녀시대, 2년 연속 국민이 뽑은 '올해의 가수'로 선정 Nate. December 21, 2010. Retrieved December 21, 2010.
  97. ^ (tiếng Triều Tiên) 소녀시대, '런 데빌 런' 블랙소시로 日 또 강타 Nate. January 18, 2011. Retrieved January 18, 2011.
  98. ^ (tiếng Triều Tiên) 소녀시대, 서울가요대상 '대상'... 4관왕 '영예' Star News. January 20, 2011. Retrieved January 21, 2011.
  99. ^ Mr Taxi music video YeinJee Asian Journal. April 26, 2011.
  100. ^ “2011 VMAJ Nominee List”. Official MTV VIDEO MUSIC AID JAPAN Website. Truy cập ngày 13 tháng 7 năm 2011. 
  101. ^ “ANNOUNCING THE WINNERS OF THIS YEAR'S MTV VMAJs”. Official MTV VIDEO MUSIC AID JAPAN Website. Truy cập ngày 13 tháng 7 năm 2011. 
  102. ^ [2] Retrieved May 16, 2011.
  103. ^ (tiếng Nhật)“RIAJ June 2011Award List”. Recording Industry Association of Japan (RIAJ). Truy cập ngày 13 tháng 7 năm 2011. 
  104. ^ Lucia Hong; Jessica Kim. “Girls' Generation 1st Japan album goes double platinum”. 10Asia. 10Asia. Truy cập ngày 13 tháng 7 năm 2011. 
  105. ^ “Girls’ Generation’s 1st Japanese Full Album to be Sold Over 500.000 Copies!” (bằng Korean). Official SMTOWN Facebook. Truy cập ngày 13 tháng 7 năm 2011. 
  106. ^ “【オリコン上半期】少女時代、海外歌手1位の26億円 K-POP勢が大躍進” (bằng Japanese). Oricon. Truy cập ngày 23 tháng 6 năm 2011. 
  107. ^ (tiếng Nhật) “2011年12月26日~2012年01月01日のCDアルバム週間ランキング” (bằng Japanese). Oricon. 7 tháng 1 năm 2011. Truy cập ngày 7 tháng 1 năm 2011. 
  108. ^ “Girls' Generation (album)”. Generasia. 7 tháng 1 năm 2011. Truy cập ngày 7 tháng 1 năm 2011. 
  109. ^ Oricon announces full list for "2011 Yearly Album Ranking"
  110. ^ “チャン・グンソク、海外歌手史上初のデビュー作初登場首位” (bằng Japanese). Oricon. Truy cập ngày 16 tháng 6 năm 2011. 
  111. ^ “少女時代 話題の新曲が首位獲得!” (bằng Japanese). Billboard Japan. Truy cập ngày 16 tháng 6 năm 2011. 
  112. ^ “少女時代の「MR.TAXI」が、2週連続1位を記録!” (bằng Japanese). Billboard Japan. Truy cập ngày 16 tháng 6 năm 2011. 
  113. ^ Girls’ Generation ― it’s the girls’ time!
  114. ^ “Girls' Generation brings "The Boys" out”. Asia Pacific Arts. 18 tháng 10 năm 2011. 
  115. ^ (tiếng Triều Tiên)“소시, 3집 韓발매연기 공식발표 "美앨범발매때문"”. Star News. 21 tháng 1 năm 2010. Truy cập ngày 2 tháng 10 năm 2011. 
  116. ^ “The Third Album Title Song, ‘The Boys,’ will be Released Worldwide at the Same Time on October 4th!”. Facebook.com. 26 tháng 9 năm 2011. Truy cập ngày 9 tháng 10 năm 2011. 
  117. ^ “Girls' Generation Makes Big U.S. Debut on 'Letterman': Watch”. billboard.com. 1 tháng 2 năm 2012. Truy cập ngày 8 tháng 7 năm 2012. 
  118. ^ “Girls' Generation's "The Boys" album sales figure”. 7 tháng 1 năm 2012. Bản gốc lưu trữ ngày 26 tháng 2 năm 2013. Truy cập ngày 26 tháng 2 năm 2013. 
  119. ^ “「少女時代」、日本の初アルバムがミリオンセラー秒読み” (bằng Japanese). 
  120. ^ “Weekly rankings CD album January 15, 2012 Jan 09, 2012” (bằng Japanese). Oricon. Truy cập ngày 26 tháng 1 năm 2012. 
  121. ^ “Oricon Music News” (bằng Japanese). Oricon. Truy cập ngày 26 tháng 1 năm 2012. 
  122. ^ “[CDU ESL 연예뉴스 잉글리시 스캔들] 소녀시대·카라, 일본 활동 수익 공개” (bằng korean). 2 tháng 1 năm 2012. Truy cập ngày 8 tháng 7 năm 2012. 
  123. ^ Samantha Edussuriya (31 tháng 1 năm 2012). “SNSD Hits US Media Bullseye with "Letterman" and "Live With Kelly" Appearances”. mtviggy.com. Truy cập ngày 15 tháng 11 năm 2012. 
  124. ^ 韓유명인 40명에 재계인사'0'…1위는 소녀시대:: 네이버 뉴스
  125. ^ “소녀시대, 지난해만 200억 3년 매출 700억 훌쩍” (bằng korean). star.mk.co.kr. 17 tháng 3 năm 2012. Truy cập ngày 29 tháng 7 năm 2012. 
  126. ^ “소녀시대, 日 오리콘 연간매출 '550억' 종합 7위•한국가수 1위” (bằng Korean). enews24.interest.me. 20 tháng 12 năm 2012. Truy cập ngày 21 tháng 12 năm 2012. 
  127. ^ 스포츠조선:: 소녀시대 첫번째 유닛 '소녀시대-태티서' 탄생. 멤버 구성은?
  128. ^ Ho, Stewart (4 tháng 5 năm 2012). “Taetiseo Debuts on Billboard 200 Chart and Achieves Highest Showing of a Korean Album”. News World. Truy cập ngày 8 tháng 3 năm 2013. 
  129. ^ “SM Entertainment artists to hold concert in Los Angeles on May 20”. Asiae (asiae.co.kr). 3 tháng 4 năm 2012. Truy cập ngày 25 tháng 4 năm 2012. 
  130. ^ Girls' Generation releases details + track list for "Paparazzi"
  131. ^ Jeff Benjamin (12 tháng 7 năm 2012). “Girls' Generation Push Japanese Domination With 'Paparazzi,' 1 Million Albums Sold Read more at http://www.billboard.com/articles/news/481799/girls-generation-push-japanese-domination-with-paparazzi-1-million-albums-sold”. billboard.com. Truy cập ngày 29 tháng 7 năm 2012. 
  132. ^ Girls' Generation Push Japanese Domination With 'Paparazzi,' 1 Million Albums Sold | Billboard
  133. ^ Syahida Kamarudin (26 tháng 6 năm 2012). “2NE1, 2PM and SNSD won MTV VMA Japan”. my.entertainment.yahoo.com. Truy cập ngày 22 tháng 7 năm 2012. 
  134. ^ Stewart Ho (3 tháng 7 năm 2012). “[K-pop] SNSD Becomes First Korean Celebrity on Official Stamps”. global.mnet.com. Truy cập ngày 27 tháng 8 năm 2012. 
  135. ^ Stewart Ho (9 tháng 8 năm 2012). “[Issue] Half of Available SNSD Stamps Sell Out in First Hour of Release”. global.mnet.com. Truy cập ngày 27 tháng 8 năm 2012. 
  136. ^ “(Japanese) 少女時代 ニューシングル&映像作品集 9/26同時発売決定!”. Universal Music. Truy cập ngày 8 tháng 3 năm 2013. 
  137. ^ “"Oh!" — Single by Girls' Generation”. iTunes JP (bằng Japanese). Apple. Truy cập ngày 5 tháng 11 năm 2013. 
  138. ^ “【オリコン】少女時代、女性初の同時3冠 日本デビュー2年でシングル初首位(Japanese)”. Oricon. Truy cập ngày 29 tháng 11 năm 2013. 
  139. ^ “タイトル未定(豪華初回限定盤)(DVD付) [CD+DVD]” (bằng Japanese). amazon.co.jp. 2 tháng 10 năm 2012. Truy cập ngày 2 tháng 10 năm 2012. 
  140. ^ “FLOWER POWER [Maxi]”. amazon.co.jp. 2 tháng 10 năm 2012. Truy cập ngày 2 tháng 10 năm 2012. 
  141. ^ “一般社団法人 日本レコード協会|各種統計” (bằng Japanese). RIAJ. 9 tháng 12 năm 2012. Truy cập ngày 9 tháng 12 năm 2012. 
  142. ^ Girls’ Generation to Release ’Girls’ Generation Tour DVD’
  143. ^ “소시, 컴백 신곡은 英가수 더피 'Mercy' 리메이크” (bằng Korean). star.mt.co.kr. 21 tháng 12 năm 2012. Truy cập ngày 21 tháng 12 năm 2012. 
  144. ^ “소녀시대 – 정규 4집 I Got a Boy [10종 중 랜덤]” (bằng Korean). music.aladin.co.kr. 1 tháng 1 năm 2013. Truy cập ngày 21 tháng 12 năm 2012. 
  145. ^ “Girls' Generation's "The Boys" album sales figure” (bằng Korean). 7 tháng 1 năm 2012. Bản gốc lưu trữ ngày 26 tháng 2 năm 2013. Truy cập ngày 26 tháng 2 năm 2013. “select '월간' to find the monthly chart” 
  146. ^ “Billboard World Albums Chart”. Billboard. Truy cập ngày 19 tháng 9 năm 2013. 
  147. ^ “‘뱀띠 스타’ 소녀시대 효연·유리, ‘엠카’ 스페셜 MC 나선다” (bằng Korean). bntnews.com. 2 tháng 1 năm 2013. Truy cập ngày 3 tháng 1 năm 2013. 
  148. ^ “MBC 소녀시대 컴백쇼, 80분 파격편성 '대특집'” (bằng Korean). osen.mt.co.kr. 24 tháng 12 năm 2012. Truy cập ngày 24 tháng 12 năm 2012. 
  149. ^ “MBC airs Girls Generation comeback special program 'Romantic Fantasy'”. Yahoo. 2 tháng 1 năm 2013. Truy cập ngày 29 tháng 11 năm 2013. 
  150. ^ “[T포토 l 소녀시대] '국민 걸그룹의 인기'(V 콘서트)” (bằng Korean). news.nate.com. 5 tháng 1 năm 2013. Truy cập ngày 6 tháng 1 năm 2013. 
  151. ^ “少女時代「Oh!」日本版ビジュアル公開&アリーナツアー” (bằng Japanese). natalie.mu. 15 tháng 9 năm 2012. Truy cập ngày 3 tháng 12 năm 2012. 
  152. ^ 소시, 두번째 日투어 20만 동원..韓걸그룹 최다 - 스타뉴스
  153. ^ “少女時代 初のオフィシャルMIX CD発売決定!! – 少女時代 – GIRLS GENERATION – UNIVERSAL MUSIC JAPAN” (bằng Japanese). Universal Music Japan. Truy cập ngày 13 tháng 2 năm 2013. 
  154. ^ “CD Chart (April 2013)”. Oricon. Truy cập ngày 13 tháng 9 năm 2013. 
  155. ^ “소녀시대, 콘서트 실황 담은 라이브 앨범 발매” (bằng Korean). joynews.com. 5 tháng 4 năm 2013. Truy cập ngày 4 tháng 4 năm 2013. 
  156. ^ “소녀시대, 드디어 월드투어 나선다. 6월 8, 9일에는 서울서 2년 만에 단독 콘서 트” (bằng Korean). sports.chosun.com. 26 tháng 4 năm 2013. Truy cập ngày 26 tháng 4 năm 2013. 
  157. ^ “シングル「LOVE&GIRLS」初回限定盤に「LOVE&GIRLS」のMUSIC VIDEOが収録決定!” (bằng Japanese). SONE Japan. 14 tháng 5 năm 2013. Truy cập ngày 16 tháng 5 năm 2013. 
  158. ^ “SNSD′s ′Love & Girls′ Rises Two Ranks to Arrive at No. 4 on Oricon”. Mwave. 21 tháng 6 năm 2013. Truy cập ngày 14 tháng 8 năm 2013. 
  159. ^ “のCDシングル週間ランキング”. Oricon. Truy cập ngày 20 tháng 9 năm 2013. 
  160. ^ “Oricon Daily Single Chart (18 September)”. Oricon. Truy cập ngày 19 tháng 9 năm 2013. 
  161. ^ “DVD, Blu-ray Chart”. Oricon. Truy cập ngày 19 tháng 9 năm 2013. 
  162. ^ “Oricon Weekly, 9/16-9/22”. 
  163. ^ “【オリコン】少女時代、3作目のDVD総合首位 海外女性歴代1位タイ”. Oricon. Truy cập ngày 25 tháng 9 năm 2013. 
  164. ^ “Girls Generation Comes Up Big at the YouTube Music Awards”. Nihongogo. 4 tháng 11 năm 2013. Truy cập ngày 6 tháng 11 năm 2013. 
  165. ^ “Girls' Generation reveals catchy Japanese single 'My Oh My'”. allkpop. 4 tháng 11 năm 2013. Truy cập ngày 5 tháng 11 năm 2013. 
  166. ^ “少女時代 待望の3rdアルバムのタイトル・トラックリストが遂に解禁!”. Universal Music Japan (bằng Japanese). Universal Music. 21 tháng 11 năm 2013. 
  167. ^ “CDアルバムデイリーランキング” [CD Album Daily Ranking]. Oricon. 10 tháng 12 năm 2013. Bản gốc lưu trữ ngày 11 tháng 12 năm 2013. Truy cập ngày 12 tháng 12 năm 2013. 
  168. ^ “"CDアルバム週間ランキング" [CD Album weekly ranking] (in Japanese)”. Oricon. Truy cập ngày 19 tháng 12 năm 2013. 
  169. ^ “【オリコン】少女時代、2年半ぶりにアルバム首位 韓国女性グループ最多2作目”. Oricon. 17 tháng 12 năm 2013. Truy cập ngày 19 tháng 12 năm 2013. 
  170. ^ “"SM 위크 특별 공연"…소녀시대, 12월 단독 콘서트(Korean)”. Dispatch. 22 tháng 11 năm 2013. Truy cập ngày 29 tháng 11 năm 2013. 
  171. ^ “Girls' Generation Holds Successful 'SMTOWN WEEK GIRLS' GENERATION-Marchen Fantasy' Concert”. KpopStarz.com. 23 tháng 12 năm 2013. Truy cập ngày 21 tháng 1 năm 2014. 
  172. ^ “Girls' Generation reveals surprise teaser for impending comeback during 'SMTOWN WEEK' concert”. allkpop. 22 tháng 12 năm 2013. Truy cập ngày 21 tháng 1 năm 2014. 
  173. ^ “Girls' Generation 소녀시대_'Mr.Mr.'_Image Teaser”. SMTOWN. YouTube. 10 tháng 2 năm 2014. Truy cập ngày 12 tháng 2 năm 2014. 
  174. ^ “SMTOWN NOW”. SMTOWN. S. M. Entertainment. 11 tháng 2 năm 2014. Truy cập ngày 12 tháng 2 năm 2014. 
  175. ^ a ă “[단독] 소녀시대, 뮤비 데이터 파손 사고 발생..'컴백 비상'”. Osen. Truy cập ngày 14 tháng 2 năm 2014. 
  176. ^ “Girls' Generation confirms comeback date with 1st teaser for 'Mr.Mr'!”. allkpop. 10 tháng 2 năm 2014. Truy cập ngày 10 tháng 2 năm 2014. 
  177. ^ “Girls' Generation's upcoming music video runs into a mishap, may possibly cause delays”. allkpop. 14 tháng 2 năm 2014. 
  178. ^ allkpop (12 tháng 2 năm 2014). “Insiders say 2NE1 may be going up against Girls' Generation this month with album release”. 
  179. ^ iTunes (23 tháng 2 năm 2014). “Girls' Generation 4th Mini Album 'Mr. Mr.' - EP”. 
  180. ^ Yahoo Philippines (23 tháng 2 năm 2014). “SNSD to Unveil ‘Mr.Mr’ Today (2/24) at 5PM”. 
  181. ^ Global Post (24 tháng 2 năm 2014). “Girls' Generation unveils new album on iTunes”. 
  182. ^ “소녀시대, 오늘 기습 컴백.."오후 5시 'Mr.Mr.' 발표"”. Osen. 24 tháng 2 năm 2014. Truy cập ngày 24 tháng 2 năm 2014. 
  183. ^ “SNSD's Mr.Mr comeback schedule”. popsegye. 5 tháng 3 năm 2014. Truy cập ngày 28 tháng 6 năm 2014. 
  184. ^ “Here Are the 25 Best Songs of 2014 (So Far)”. Time. 2 tháng 6 năm 2014. Truy cập ngày 21 tháng 6 năm 2014. 
  185. ^ “少女時代 ニューアルバム「Love & Peace」 アルバムビジュアル&アリーナツアー解禁”. Universal Music Japan. Universal Music. 29 tháng 11 năm 2013. Truy cập ngày 29 tháng 11 năm 2013. 
  186. ^ “GGIRLS’ GENERATION~LOVE&PEACE~Japan 3rd Tour 追加公演のお知らせ”. UNIVERSAL MUSIC LLC. 6 tháng 2 năm 2014. Truy cập ngày 7 tháng 2 năm 2014. 
  187. ^ “SNSD Sets New Record by Successfully Wrapping Up 3rd Japanese Tour”. CJ E&M Corp. 14 tháng 7 năm 2014. Truy cập ngày 18 tháng 7 năm 2014. 
  188. ^ “Update: Girls’ Generation to Release ‘The Best’ Album in Japan”. soshified. 5 tháng 6 năm 2014. Truy cập ngày 21 tháng 6 năm 2014. 
  189. ^ “140605 GIRLS’ GENERATION ‘The BEST’ Album Information Translation”. G9vn. 5 tháng 6 năm 2014. Truy cập ngày 21 tháng 6 năm 2014. 
  190. ^ Girls' Generation surpasses 12 Girl Band to set a new record - 3 albums at 1st place (in Japanese) Originally from Oricon. Archived on July 28, 2014. Retrieved on July 28, 2014.
  191. ^ ‘The Best’ Album Tops Oricon Weekly Chart and Ranks First on Daily Chart for Six Consecutive Days Soshified.com (July 29, 2014). Retrieved on July 29, 2014.
  192. ^ “Girls’ Generation to Perform at ‘KCON 2014′ in Los Angeles”. soshified. 23 tháng 5 năm 2014. Truy cập ngày 28 tháng 6 năm 2014. 
  193. ^ “소시' 태연-티파니-서현, 유닛 '태티서' 결성..5월 컴백”. Daum. 19 tháng 4 năm 2012. Truy cập ngày 22 tháng 7 năm 2014. 
  194. ^ “Girls' Generation sub-unit Taetiseo releases debut album jacket cover for 'Twinkle'”. allkpop. 23 tháng 4 năm 2012. Truy cập ngày 27 tháng 7 năm 2014. 

Liên kết ngoài