Girls' Generation

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
(đổi hướng từ So Nyuh Shi Dae)
Bước tới: menu, tìm kiếm
Girls' Generation
LG 시네마 3D TV 새 모델 ‘소녀시대’ 영입.jpg
Thông tin nghệ sĩ
Nghệ danh 소녀시대
少女時代
So-nyeo Shi-dae
So-nyuh Shi-dae
SNSD
Soshi
Shao-nu Shi-dai
Shoujo Jidai
Thiếu nữ Thời đại
Nguyên quán Seoul, Hàn Quốc
Thể loại Pop, Dance, K-Pop, J-Pop
Năm 2007 đến nay
Hãng đĩa SM Entertainment
Universal Music
Hợp tác SM Entertainment
Avex Taiwan
NATUYAWAVE Records
Interscope Records
Website Trang chủ tiếng Hàn
Trang chủ tiếng Nhật
Trang chủ tiếng Anh
Thành viên hiện tại
Taeyeon
Jessica
Sunny
Tiffany
Hyoyeon
Yuri
Sooyoung
Yoona
Seohyun
Tên
Hangul 소녀시대
Hanja (Hán tự) 少女時代
Hán-Việt Thiếu nữ Thời đại
McCune-Reischauer Sonyŏ Sidae
Romaja quốc ngữ Sonyeo Sidae

Girls' Generation (Ngạn văn/Romaja quốc ngữ: 소녀시대/So-nyeo Shi-dae/So-nyuh Shi-dae, Hán tự (Hanja & Kanji): 少女时代, Rōmaji: Shōjo Jidai; Hán Việt: Thiếu nữ Thời đại) hay thường được biết đến bới tên viết tắt theo phiên âm tiếng Hàn: SNSD, là một nhóm nhạc nữ Hàn Quốc bao gồm chín thành viên được thành lập bởi tập đoàn giải trí SM Entertainment vào năm 2006, ra mắt chính thức năm 2007. Các thành viên (theo thứ tự độ tuổi): Taeyeon (trưởng nhóm), Jessica, Sunny, Tiffany, Hyoyeon, Yuri, Sooyoung, YoonaSeohyun.

Ngày 5 tháng 8 năm 2007 được xem là ngày ra mắt chính thức của nhóm.

Fan-club chính thức mang tên: S♡NE (cách điệu từ chữ 소원 (So-won) trong tiếng Hàn, đọc là Sô-oăn hoặc Sô-uôn), thường được viết đơn giản là SONE. Trước khi mang tên chính thức là S♡NE, fan-club của Girls' Generation từng được gọi là Honey. Cả 소원Honey đều chỉ tên một ca khúc nằm trong đĩa đơn ra mắt Into the New World của nhóm. Đồng thời, tên này còn có nghĩa là 9 cô gái đồng lòng như một, 9 cô gái đều là số một trong lòng fan.

Màu bóng và đèn cổ vũ: Pastel Rose Pink.

Các thành viên của Girls' Generation đều có các hoạt động đa dạng khác nhau trong ngành giải trí Hàn Quốc, họ tham gia đóng phim truyền hình, nhạc kịch, tham gia các chương trình truyền hình thực tế, dẫn chương trình, phát thanh viên, diễn viên lồng tiếng, người mẫu thời trang và thực hiện các kế hoạch âm nhạc riêng.

Quá trình hình thành và phát triển

Trước khi ra mắt

Sau thành công của SM Entertainment về ban nhạc Super Junior, công ty đã có kế hoạch ra mắt một nhóm nhạc nữ mới, cuối cùng lấy tên là Girls' Generation, ban đầu có đến 11 thành viên.[1]. Trong gần hai năm, các trang web Hàn Quốc suy đoán rằng những nữ học viên của SM Entertainment sẽ được đặt vào nhóm. Các thành viên ứng cử viên đã được đào tạo chuyên nghiệp về ca hát và vũ đạo, trong khi một số cũng đã được lựa chọn để được đào tạo về diễn xuất và người mẫu. Nhiều người trong số các thành viên ứng cử đã xuất hiện trong ngành công nghiệp giải trí Hàn Quốc thông qua các hoạt động họ trong các quảng cáo tạp chí, quảng cáo truyền hình, và xuất hiện trong những bộ phim truyền hình hay phim ảnh nhỏ, và thành viên Sooyoung thậm chí còn ra mắt thị trường Nhật Bản vào năm 2002 cùng với nhóm nhạc, Route θ, nhưng sau đó tan rã trong một năm.[2][3] Nhóm đã từng trải qua một số sửa đổi, như các thành viên được thêm hoặc cắt, cho đến khi quyết định cho ra mắt chín cô gái như hiện nay.Trước khi thông báo, có tin đồn rằng nhóm sẽ được đặt tên là "Super Girls", dựa theo tên của nhóm nhạc nam - "Super Junior".[1]

Thành viên đầu tiên của nhóm tham gia hệ thống đào tạo của SM EntertainmentJessica vào năm 2000, sau khi cô và em gái của mình, Krystal Jung( bây giờ là một thành viên của nhóm nhạc nữ f(x)), đã được bắt gặp trong một trung tâm mua sắm tại Hàn Quốc trong một kỳ nghỉ với gia đình.[4] Cũng trong năm 2000,các thành viên là SooyoungHyoyeon được đưa vào hệ thống đào tạo của SM thông qua cuộc thi 2000 SM Open Audition, cuộc thi mà Hyoyeon đã tham gia nhảy trong phần thi[cần dẫn nguồn]. Yuri là thành viên tiếp theo được chấp nhận vào hệ thống đào tạo của SM sau khi kết đạt vị trí thứ 2 của cuộc thi 2001 SM Youth Best Dancer năm 2001. Yoona đã được đưa vào trong năm sau đó sau khi thử giọng hát và nhảy theo ca sĩ yêu thích của mình là BoABritney Spears, trong cuộc thi SM Saturday Open Casting Audition năm 2002[cần dẫn nguồn].Seohyun, thành viên nhỏ tuổi nhất của nhóm, đã được bắt gặp trong tàu điện ngầm bởi một "người tìm kiếm" của SM, sau đó thử giọng vào năm 2003 và hát những bài hát của trẻ em.[5] Nhóm trưởng của nhóm, Taeyeon, được đưa vào trong năm 2004 sau khi được phát hiện tại SM's 8th Annual Best Contest, chiến thắng "Best Singer 1st Place & Grand Award".[6] Trong cùng năm đó, thành viên Tiffany thử giọng tại Starlight Casting System của SM tại Los Angeles, và gia nhập công ty trong tháng 10 năm 2004[7][8] Thành viên thứ chín cũng như cuối cùng của nhóm được thêm vào là Sunny, người được nhập vào hệ thống vào năm 1998 và được đào tạo trong 5 năm trước khi chuyển sang một công ty khác, Starworld, nơi cô được đào tạo để ra mắt trong bộ đôi "Sugar", mà cuối cùng không bao giờ ra mắt.Sau đó, theo đề nghị của ca sĩ Ayumi, cô lại chuyển trở lại SM Entertainment vào năm 2007.[9] Sunny is also the niece of S.M. Entertainment's founder, Lee Soo-man.[10]

Tại Hàn Quốc, nhóm được gọi là So Nyeo Shi Dae (tiếng Triều Tiên: 소녀시대).Họ cũng được gọi là SoShi (소시) hoặc SNSD, hai hình thức viết tắt tên tiếng Hàn của nhóm.Cái tên Girls' Generation có nghĩa là "Thế hệ thống trị của những cô gái đã đến".[11] Nhóm cũng được gọi là Shojo Jidai (Tiếng Nhật; 少女時代) hoặc SJJD ở Nhật Bản.[12]

Ra mắt và album đầu tiên

Tháng 7/2007, Girls' Generation xuất hiện lần đầu tiên trên Mnet M! Countdown nhưng không được phát sóng trên truyền hình. Phần trình diễn này đã được người hâm mộ ghi hình lại và đăng tải trên mạng. Bài hát được trình diễn là ca khúc Into the New World. Đây cũng là đĩa đơn đầu tiên của nhóm.

Trong suốt thời gian ra mắt, có nhiều phim tài liệu hậu trường khác nhau về Girls' Generation ra đời. Trong đó, Girls’ Generation Goes to School bắt đầu lên sóng ngày 27/7/2007 trên mnet. Phim này có tổng cộng 9 tập, với 7 lần trình diễn, 1 cảnh hậu trường nhìn vào thế giới của các cô gái và cuối cùng kèm theo một tập nhóm biểu diễn tại trường trung học của Sunny. Một chương trình khác tên MTV Girls' Generation, phát trên MTV Hàn Quốc, cũng nói về những suy nghĩ, cảm xúc của các thành viên trước và sau khi gia nhập Girls' Generation cũng như cuộc sống thường ngày của từng thành viên trong nhóm.

Trong tháng 8/2007, đĩa đơn Into the New World được phát hành, gồm cả hai ca khúc kèm theo là BeginningPerfect for You (sau được đổi tên thành Honey), kèm theo một bản nhạc không lời của Into the New World. Girls' Generation bắt đầu thúc đẩy các hoạt động quảng bá cho đĩa đơn sau khi phát hành và biểu diễn trên mnet M! Countdown, SBS Music Trend, MBC Show! Music Core, và KBS Music Bank. Để tiếp tục cho thành công của Into the New World sau khi chiến thắng lần đầu tiên tại mnet M! Countdown, một bản phối lại của ca khúc cũng được phát hành và được Girls' Generation trình diễn trong những chương trình ca nhạc sau đó.

Sau một kì nghỉ, các cô gái đã phát hành album đầu tay gồm 11 ca khúc vào cuối mùa thu năm 2007, với ca khúc chủ đề mang chính tên nhóm Girls' Generation là một ca khúc sản xuất lại từ ca khúc cùng tên của ca sĩ tiền bối Lee Seung-cheol. Kế hoạch quảng bá cho album bắt đầu vào đầu vào tháng 11/2007.

Đầu năm 2008, Girls' Generation tiếp tục quảng bá cho ca khúc thứ hai trong album mang tên Kissing You. Phần M/V có sự tham gia của Donghae của nhóm Super Junior. Kissing You chính là ca khúc đầu tiên mang lại chiến thắng tuần cho Girls' Generation trên sân khấu KBS Music Bank.

Trong tháng 3 năm 2008, album đầu tay đã được tái bản với tiêu đề mới Baby Baby. Bài hát Baby Baby được chọn sử dụng để quảng bá cho phiên bản này.

Góp mặt trong album tổng hợp Roommate, ba thành viên Jessica, TiffanySeohyun trình diễn ca khúc LOVE HATE (hay còn được gọi với tên phiên âm Oppa Nappa) được phát hành vào tháng 4/2008.

Girls' Generation cùng với các nghệ sỹ cùng công ty như BoA, TVXQ!, Super Junior, The Grace, Zhang Liyin, SHINee góp mặt trong tour lưu diễn SMTOWN Live '08 trong năm này.

Ngoài ra, cũng vào thời điểm đó, các cô gái ký hợp đồng với nhiều nhãn hàng, tham gia nhiều chương trình quảng cáo trên truyền hình, mà tiêu biểu là trò chơi trực tuyến Maple StoryMabinogi của hãng Nexon. Với đợt quảng bá cho Mabinogi, một lần nữa, ba thành viên Jessica, TiffanySeohyun lại kết hợp với nhau cho ra đời ca khúc It's Fantastic!. Phần M/V của ca khúc có sự tham gia diễn xuất của chính Tiffany.

Hello Baby cũng là một trong những chương trình thực tế thành công vang dội của nhóm, đó là một chương trình thực tế khi các cô gái phải vào vai các bà mẹ chăm sóc cho một bé trai 9 tháng tuổi tên Kyeong-san.

Vào khoảng tháng 10/2008, một hình ảnh hé lộ một cảnh trong ca khúc mới của Girls' Generation được tiết lộ. Tuy nhiên, sau đó, không xuất hiện bất kỳ thông tin gì khác cho đến cuối năm này, những hé lộ về một ca khúc khác lại xuất hiện, đó là Gee. Ca khúc bí ẩn ấy chính là Dancing Queen được phát hành chính thức vào ngày 21/12/2012 như đĩa đơn mở đầu cho album tiếng Hàn thứ tư của nhóm - I Got a Boy.

Gee và cột mốc 2009

Vào tháng 1/2009, Gee, mini-album đầu tiên của nhóm được phát hành với 5 ca khúc.

Girls' Generation bắt đầu xúc tiến việc quảng bá album của mình lần đầu tiên trên sân khấu chương trình MBC Show! Music Core. Hai ca khúc chủ đạo trong đợt quảng bá là GeeWay-to-Go! (một ca khúc được viết lại lời dựa trên ca khúc quảng cáo Haptic MotionGirls' Generation thể hiện thời gian trước đó).

Gee đã đưa danh tiếng và thành công của Girls' Generation lên đến đỉnh cao với lần đầu tiên xác lập kỷ lục chuỗi thắng 9 tuần liên tiếp tại sân khấu KBS Music Bank.

Girls' Generation tiếp tục trở lại vào tháng 6/2009 với mini-album tiếp theo Tell Me Your Wish (Genie) cũng gây tiếng vang không kém cạnh, đưa phong cách album này trở thành biểu tượng cho Girls' Generation, ca khúc Tell Me Your Wish (Genie) trở thành ca khúc được hát phổ biến tại các bữa tiệc sinh nhật thời gian đó.

Tháng 11/2009, nhóm thông báo sẽ tổ chức tour diễn độc lập đầu tiên trong sự nghiệp mang tên Girls' Generation The 1st Asia Tour - Into the New World[13] Nhóm đã lập được kỷ lục với hơn 12.000 vé đã được bán hết chỉ trong vòng ba phút[14].

Sau thành công của chuyến lưu diễn đầu tiên, Girls' Generation xác nhận rằng nhóm sẽ tổ chức một buổi hòa nhạc vào ngày 27 và ngày 28/2/2010.[15]

2010 - Năm của Girls' Generation

Đầu năm 2010, Girls' Generation được chọn thể hiện ca khúc chủ đề mới của kênh SBS - Look at Tomorrow.[16]

Ngày 25/1/2010, album thứ hai - Oh! được phát hành, M/V của ca khúc này được phát hành 2 ngày sau đó.[17] Ngay sau khi phát hành, ca khúc nhanh chóng chiếm ngôi vị quán quân trên nhiều bảng xếp hạng.[18] Ngày 30/1, Girls' Generation bắt đầu các hoạt động quảng bá của mình với màn trình diễn trong chương trình âm nhạc MBC Show! Music Core.[19] Cuối M/V của Oh! là sự hé lộ về phong cách mới cho ca khúc tiếp theo. Bắt đầu từ ngày 11/3/2010, những hình ảnh về các thành viên trong hình tượng Black Soshi lần lượt được tung ra và đã gây sốt với sự thay đổi phong cách chóng mặt và hấp dẫn. Ca khúc chủ đạo trong phiên bản tái phát hành mang tên Run Devil Run cũng trở thành một hit lớn.

Ngày 7/6/2010, Girls' Generation phát hành bộ sách ảnh đầu tiên mang tên Girls in Tokyo và nhận được nhiều phản ứng tích cực. Đây cũng là một bước đệm cho sự tiến công của các cô gái sang thị trường Nhật Bản.[20]

Ngày 11/6/2010, SM Entertainment thông báo Girls' Generation chính thức ra mắt lần đầu tiên tại Nhật Bản với sự cộng tác cùng hãng thu âm NAYUTAWAVE Records (thuộc Universal Music Japan). Khởi đầu, Girls' Generation phát hành đĩa DVD tổng hợp 7 M/V K-Pop tại Nhật vào ngày 11/8/2010, tổ chức hòa nhạc ra mắt tại Nhật vào ngày 25/8/2010 tại Ariake Colosseum. Đĩa đơn ra mắt đầu tiên tại Nhật của nhóm là phiên bản tiếng Nhật của ca khúc Tell Me Your Wish (Genie) được đặt tên là GENIE được phát hành vào ngày 8/9/2010.[21][22]

Girls' Generation cũng tham gia vào SMTOWN Live'10 Tour cùng các ca sĩ, nhóm nhạc, diễn viên trực thuộc SM Entertainment. Tour diễn được tổ chức ở Seoul (Hàn Quốc), Thượng Hải (Trung Quốc) và Los Angeles (Mỹ).[23][24]

P/V của phiên bản tiếng Nhật của ca khúc GENIE xuất hiện vào ngày 23/8/2010, trước đó teaser của PV đã được công bố vào ngày 20/8/2010. Trong P/V có sự góp mặt của Park Chan Yeol - 1 thực tập sinh của SM Entertainment - sau này, anh là thành viên của nhóm nhạc EXO.[25] Ngay ngày đầu ra mắt, GENIE đứng ở vị trí thứ năm trên bảng xếp hạng Oricon và leo lên vị trí thứ hai vài ngày sau đó, giúp nhóm đứng ở vị trí thứ tư trên bảng xếp hạng tuần đầu tiên của Oricon.[26][27][28] Girls' Generation cũng đạt được vị trí số 1 trên bảng xếp hạng P/V của iTunes Nhật Bản, bảng xếp hạng video clip hàng ngày Rekochoku 1 ngày sau đó. Với 80,000 bản đặt trước, đĩa đơn tiêu thụ được 45,000 bản trong tuần đầu tiên ra mắt, một con số rất lớn đối với một nhóm nhạc mới ra mắt tại Nhật Bản.[29][30] GENIE cũng đạt được vị trí cao trên bảng xếp hạng Billboard Nhật Bản - đạt vị trí thứ tư trên bảng xếp hạng Hot 100, thứ năm trên Hot Single Sales Chart và thứ nhất trên Hot Top Airplay chart.[26]

Ngày 20/10/2010, nhóm ra mắt đĩa đơn thứ hai tại Nhật mang tên Gee.[31] P/V của ca khúc cũng được công bố ngay sau đó. Giống như bản gốc tiếng Hàn, P/V có sự góp mặt của Minho nhóm SHINee. Gee đạt được thành công lớn khi xếp thứ 2 tại Oricon ngay trong ngày đầu ra mắt. Ngày 26/10/2010, đĩa đơn này leo lên vị trí số 1 trên bảng xếp hạng Oricon Daily, giúp Girls' Generation trở thành nhóm nhạc nữ đầu tiên ở châu Á xếp thứ 1 tại bảng xếp hạng này.[31][32]

Trước đó, tại Hàn Quốc, ngày 18/10/2010, nhóm bất ngờ công bố teaser của ca khúc Hoot trên website chính thức, đây cũng là tên của mini-album thứ ba của Girls' Generation. Mini-album được phát hành ngày 27/10/2010. Trong lần trở lại này, hình tượng của các cô gái được retro hóa thành Bond-Girls, những cô nàng điệp viên nóng bỏng. Hoot được phát hành ngày 25/10/2010 và ngay lập tức chiếm vị trí dẫn đầu các bảng xếp hạng âm nhạc trực tuyến tại Hàn như Monkey3, Dosirak, MelOn, Soridaba, Cyworld, BugsDaum.[33] M/V của ca khúc có sự tham gia của Siwon nhóm Super Junior, và được công bố ngày 28/10/2010.

Sau khi Hoot được phát hành và đạt được hiệu ứng tuyệt vời, một thời gian dài, Girls' Generation thực hiện các hoạt động quảng bá tại Nhật Bản. Các cô gái cho ra mắt đĩa đơn tiếng Nhật thứ ba MR.TAXI/Run Devil Run, album tiếng Nhật đầu tiên GIRLS' GENERATION gặt hái được nhiều thành công lớn, album đạt được chứng nhận Bạch Kim và là một trong những album bán chạy nhất năm. Họ tổ chức thành công tour diễn vòng quanh Nhật Bản, tham dự các chương trình giải trí lớn tại Nhật, ký nhiều hợp đồng quảng cáo và trở thành một trong những nghệ sỹ Hàn Quốc thành công nhất tại Nhật Bản.

Album thứ 3 mở ra một thời kỳ phát triển mạnh mẽ tại Mỹchâu Âu

Girls' Generation biểu diễn "The Boys" tại "Madison Square Garden".

Đáp lại sự mong đợi từ người hâm mộ tại Hàn Quốc sau một thời gian dài, tháng 10/2011, Girls' Generation phát hành album phòng thu tiếng Hàn thứ ba mang tên The Boys. Ca khúc chủ đề được sản xuất bởi nhà sản xuất nhạc nổi tiếng người Mỹ Teddy Riley - người từng cộng tác với nhiều nghệ sỹ lớn trên thế giới, trong đó có ông hoàng nhạc pop Michael Jackson - mang phong cách hoàn toàn khác biệt với những ca khúc trước đây của họ. M/V của ca khúc được đầu tư kỹ lưỡng, phát hành dưới hai phiên bản tiếng Hàntiếng Anh. Lần đầu tiên, Girls' Generation thể hiện ước muốn vươn tới thị trường toàn cầu của mình.

SM Entertainment đã sắp xếp cho hoạt động quảng bá lớn nhất trong lịch sử K-Pop cho Girls' GenerationThe Boys. The Boys nổi tiếng không chỉ ở thị trường châu Á, châu Âu, mà còn vươn sang Mỹ, nâng mức danh tiếng của Girls' Generation lên cao. Lần đầu tiên, một nghệ sỹ châu Á được xuất hiện tại những chương trình nói chuyện hàng đầu nước Mỹ và các hoạt động của các cô gái được các hãng truyền thông săn đón mọi lúc mọi nơi.

Với sự bành trướng của The Boys, SM Entertainment phát hành maxi-single bao gồm các bản phối bởi các DJ, nhà sản xuất nhạc hàng đầu nước Mỹ và lần đầu tiên cho phát sóng The Boys trên các kênh radio tại nước này. The Boys còn được sử dụng trong vòng chung kết cuộc thi Nhóm nhảy xuất sắc nhất Hoa Kỳ (ABDC).

Kết hợp với việc tham gia chương trình âm nhạc KBS Music Bank World Tour in Paris, Girls' Generation cũng thực hiện quảng bá The Boys tại Pháp cũng như châu Âu và nhận được nhiều sự chú ý.

2012 - Năm của các đĩa đơn

Năm 2012 là năm Girls' Generation đẩy mạnh các hoạt động tại Nhật Bản bằng viêc phát hành liên tục các đĩa đơn và album phòng thu thứ hai mang tên GIRLS' GENERATION II ~Girls & Peace~ và nhận được các phản hồi vô cùng tích cực bằng doanh số bán và các vị trí cao trên các bảng xếp hạng tại Nhật. Album này nhận được đánh giá rất cao từ giới thẩm định và chưa đầy 2 tuần đã nhận được chứng nhận Bạch Kim.

Ngày 21/12/2012, Girls' Generation phát hành ca khúc bị quên lãng Dancing Queen tại Hàn Quốc để khởi động chương trình quảng bá cho album tiếng Hàn thứ tư của nhóm phát hành vào 1/1/2013 mang tên I Got a Boy.

Nhóm nhỏ đầu tiên - Girls' Generation-TTS và thành công bất ngờ

Ngày 29/4/2012, Tiffany, TaeyeonSeohyun đã ra mắt mini-album đầu tiên với tư cách là nhóm nhỏ của Girls' Generation được đặt tên là Girls' Generation-TTS (hay còn gọi là TaeTiSeo).

Mini-album có tựa đề là Twinkle được phát hành rộng rãi tại Hàn Quốc và chợ nhạc điện tử iTunes. M/V của ca khúc chủ đề Twinkle đạt hơn 10 triệu lượt xem trên YouTube chỉ sau 1 tuần phát hành. M/V có sự góp mặt của các thành viên nhóm nhạc mới EXO: Chanyeol, Kai, Se Hun, Baekhyun.

Mặc dù không hề có bất kỳ hoạt động quảng bá nào tại Mỹ và bất chấp việc đây là một ca khúc tiếng Hàn, Twinkle ngay lập tức gây sốt trên nhiều bảng xếp hạng âm nhạc tại Mỹ, trong đó có Billboard Hot 100, đưa Girls' Generation trở thành nghệ sỹ Hàn Quốc có xếp hạng cao thứ hai trên bảng xếp hạng này dưới BoA.

2013 - 2 album mới và chuyến lưu diễn thế giới

Album tiếng Hàn thứ 4 - I Got a Boy

Vào ngày 1 tháng 1 năm 2013, Girls' Generation phát hành album tiếng Hàn thứ tư của họ, I Got a Boy.[34] Album bán được hơn 265.000 bản trong tháng 1, ra mắt tại vị trí số 1 trên bảng xếp hạng album của Gaon Chart.[35] Sau đó, album lại đạt được vị trí số một trên bảng xếp hạng album thế giới của Billboard.[36] Nhóm bắt đầu quảng cáo cho album của mình trên chương trình M! Countdown của Mnet và tiếp tục cho đến đầu tháng Hai.[37][38] Nhóm cũng đã thực hiện màn trở lại đặc biệt trên đài MBC với riêng một chương trình của mình mang tên Girls' Generation's Romantic Fantasy vào ngày 1 Tháng 1, 2013.[39] Nhóm đồng thời cũng biểu diễn tại Hope Concert của KBS. Đặt biệt hơn, Girls' Generation đã tổ chức buổi diễn ảo kéo dài 1 giờ phát sóng trực tiếp thông qua Naver Music vào ngày 05 tháng 1, "họ" đã biểu diễn "I Got a Boy", "Talk Talk" và "Dancing Queen".[40]

Girls' Generation đã bắt đầu chuyến lưu diễn vòng quanh Nhật Bản thứ 2 của mình - Girls & Peace Japan 2nd TourKobe vào ngày 9 tháng 2, 2013 và tiếp tục với tổng số 20 buổi diễn qua 7 thành phố. Tour diễn đã diễn ra thành công với sự tham dự của hơn 200.000 người [41][42] Nhóm đã phát hành album phối nhạc tiếng Nhật đầu tiên của họ mang tên Best Selection Non Stop Mix vào ngày 20 tháng 3 năm 2013.[43] Album đứng thứ 6 trên bảng xếp hạng album hàng tuần của Oricon.[44]

Vào ngày 11 tháng 4, 2013, nhóm phát hành album trực tiếp của họ - 2011 Girls' Generation Tour. Album quay lại 2 đêm diễn của nhóm ở Seoul tại sân vận động Olympic Gymnastics vào ngày 23 và 24 tháng 7, trong tour diễn 2011 Girls' Generation Tour của mình.[45] Vào ngày 26 tháng 4 năm 2013, Girls' Generation thông báo rằng tour diễn vòng quanh thế giới đầu tiên của họ, Girls' Generation World Tour Girls & Peace, sẽ diễn ra với 2 đêm diễn đầu tiên là ở Seoul vào ngày 8 và 9 tháng 6 năm 2013 tại sân vận động Olympic Gymnastics.[46] Trong năm 2013, các cô gái đã đi qua 5 thành phố - Seoul, Đài Bắc, Jakarta, SingaporeHong Kong - cùng với 8 đêm diễn trong khuông khổ tour diễn thế giới.

Girls' Generation World Tour Girls & Peace tại Jakarta

Nhóm phát hành đĩa đơn tiếng Nhật thứ bảy của họ, "Love & Girls" vào ngày 19 tháng 6 năm 2013.[47] Theo bảng xếp hạng Oricon hàng ngày, "Love & Girls" đã leo lên từ vị trí số 6 đến số 4 sau ngày ra mắt trên bảng xếp hạng này.[48] Đĩa đơn đã bán được 42,796 bản ngay trong tuần đầu phát hành và đạt được vị trí số 4 trong bảng xếp hạng Oricon hàng tuần.[49]

Girls' Generation đã phát hành đĩa đơn tiếng Nhật thứ tám của họ, Galaxy Supernova vào ngày 18 tháng 9 năm 2013 cùng với DVDBlu-ray Girls' Generation -Girls & Peace- Japan 2nd Tour. Theo bảng xếp hạng đĩa đơn hàng ngày của Oricon, đĩa đơn đã đạt được vị trí số 1 vào ngày đầu tiên phát hành[50] trong khi Girls' Generation -Girls & Peace- Japan 2nd Tour cũng đã đạt được vị trí số 1 trên bảng xếp hạng Oricon hàng ngày dành cho DVD vào ngày 18 tháng 9.[51] Sau một tuần phát hành, Galaxy Supernova bán được 50,793 bản sao trong khi đĩa DVDBlu-ray bán được tổng cộng 53,256 bản.[52][53]

Album tiếng Nhật thứ 3 - Love & Peace

Vào ngày 4 tháng 11, 2013, Girls' Generation đã tạo nên một bất ngờ lớn tại giải thưởng âm nhạc lần đầu tiên của YouTube, YouTube Music Awards, khi thắng giải Music Video of the Year, vượt qua các đối thủ đáng gờm khác như Miley Cyrus, PSY, Lady GagaJustin Bieber,.. trở thành nghệ sĩ châu Á đầu tiên chiến thắng giải thưởng này.[54] Nhóm đã phát hành đĩa đơn tiếng Nhật thứ chín, "My Oh My" vào ngày 5 tháng 11, 2013.[55]

Nhóm đã phát hành album phòng thu thứ 7 của mình, "Love & Peace" vào ngày 11 tháng 12 năm 2013 sau khi phát hành các đĩa đơn nằm trong album, "Love & Girls" , "Galaxy Supernova" và "My Oh My" trước đó.[56] Album đã ra mắt tại vị trí số một trên bảng xếp hạng album hàng ngày của Oricon sau khi bán được hơn 37.386 bản sao.[57] Sau tuần đầu tiên, với doanh thu lên tới 129.000 đĩa bán ra, album lại ra mắt tại vị trí số 1 trên bảng xếp hạng album hàng tuần của Oricon.[58] Album tiếng Nhật đầu tay mang tên "Girls' Generation" phát hành vào tháng 6 năm 2011 cũng đã đạt được thành tích tương tự trước đó, làm cho Girls' Generation trở thành nhóm nhạc nữ Hàn Quốc đầu tiên có hai album dành được vị trí số một trên bảng xếp hạng album hàng tuần của Oricon, vượt qua nhóm nhạc đồng hương - Kara.[59]

Girls' Generation đã biểu diễn tại lễ hội âm nhạc của S.M. Entertainment - "SM Town Week" vào ngày 22 tháng 12, 2013. Các cô gái đã có một đêm biểu diễn riêng mang tên "SMTOWN WEEK GIRLS’ GENERATION – Märchen Fantasy". Buổi hòa nhạc là một câu chuyện cổ tích với nhiều giai đoạn khác nhau cùng hiệu ứng hình ảnh sặc sỡ.[60] Đã có những màn cover lại các ca khúc nổi tiếng của những nghệ sĩ khác như thành viên Jessica biểu diễn lại bài hát Miss Korea của Lee Hyori, hay Sunny trình diễn Bloom của GaIn,.. khiến những fan hâm mộ vô cùng hứng thú. Đồng thời, các cô gái còn cho những người hâm mộ xem một số hình ảnh trong lần trở lại vào đầu năm 2014.[61][62]

Thành viên

  • Taeyeon (태연), sinh ngày 9/3/1989. Tên khai sinh là Kim Tae-yeon (김태연), nhóm trưởng.
  • Jessica (제시카), sinh ngày 18/4/1989. Tên khai sinh là Jessica Jung (제시카 정), tên Hàn QuốcJung Soo-yeon (정수연).
  • Sunny (써니), sinh ngày 15/5/1989. Tên khai sinh là Lee Soon-kyu (이순규).
  • Tiffany (티파니), sinh ngày 1/8/1989. Tên khai sinh là Stephanie Hwang (스테파니 황), tên Hàn QuốcHwang Mi-young (황미영).
  • Hyoyeon (효연), sinh ngày 22/9/1989. Tên khai sinh là Kim Hyo-yeon (김효연).
  • Yuri (유리), sinh ngày 5/12/1989. Tên khai sinh là Kwon Yu-ri (권유리).
  • Sooyoung (수영), sinh ngày 10/2/1990. Tên khai sinh là Choi Soo-young (최수영) (썸머 최).
  • Yoona (윤아), sinh ngày 30/5/1990. Tên khai sinh là Im Yoon-ah (임윤아).
  • Seohyun (서현) sinh ngày 28/6/1991. Tên khai sinh là Seo Joo-hyun (서주현).

Danh sách đĩa nhạc

Đĩa nhạc tiếng Hàn

Album (phòng thu và tái bản)
Mini album (EP)
Album thu trực tiếp
Đĩa đơn
Album biên soạn
  • 2008: Sweet Memories with Girls' Generation
  • 2008: Heart 2 Heart with Girls' Generation
DVD

Đĩa nhạc tiếng Nhật

Album (phòng thu và tái bản)
Đĩa đơn
DVD

Đĩa nhạc tiếng Anh

Đĩa đơn

Chú thích

  1. ^ a ă The Making of So Nyuh Shi Dae « SNSD Korean
  2. ^ (tiếng Nhật) Route Bản mẫu:Theta – official website – profile
  3. ^ Sooyoung – Choi Sooyoung | Music Asia | Singer – Asia Music Portal
  4. ^ (tiếng Triều Tiên) Chosun.com: 제시카, "관객 앞에서의 제 목소리에 감동했어요", February 18, 2009
  5. ^ “Seohyun, Sulli, Krystal and Taemin’s audition clips revealed”. allkpop.com. 1 tháng 8 năm 2010. Truy cập ngày 18 tháng 9 năm 2012. 
  6. ^ (tiếng Triều Tiên) 소녀, 자유를 꿈꾸다, <태양의 노래>의 김태연 (No.80), The Musical. May 11, 2010. Retrieved May 15, 2010
  7. ^ (tiếng Triều Tiên) Newsen.com: 소녀시대 티파니 "LA 축제서 캐스팅", August 1, 2007
  8. ^ (tiếng Triều Tiên) Chosun.com: 홀로 숙소 지키는 티파니 "이제서야 외로움이 몰려와요". February 13, 2009
  9. ^ (tiếng Triều Tiên) 소녀시대 써니 SM 이수만 친조카 ‘슈가 후속 그룹 멤버 될 뻔’. asiae.co.kr. November 30, 2007. Retrieved June 15, 2010.
  10. ^ '소녀시대' 써니는 이수만의 조카...아버지도 가수 출신 – 오마이뉴스
  11. ^ “(Korean) 걸그룹 이름 뜻, 숨겨진 의미에 ‘그렇구나’”. Nate. 15 tháng 4 năm 2012. Truy cập ngày 23 tháng 2 năm 2013. 
  12. ^ Mark Schreiber (2 tháng 9 năm 2012). “Will the Takeshima dispute break the Korean wave?”. japantimes.co.jp. Truy cập ngày 1 tháng 4 năm 2013. 
  13. ^ (tiếng Anh) Han, Sang-hee. Girls’ Generation to Hold Asian Tour. The Korea Times. November 11, 2009. Retrieved November 23, 3009.
  14. ^ (tiếng Triều Tiên) Baek, Ji-eun. 소녀시대 첫 단독콘서트, 3분만에 티켓 매진! (Girls' Generation's First Solo Concert, Sold Out in 3 Minutes!). The Chosun Ilbo. November 20, 2009. Retrieved November 23, 2009.
  15. ^ (tiếng Triều Tiên) Yang, Ji-won. 소녀시대, 팬 기대에 보답… “단독 콘서트 한번 더” (So Nyuh Shi Dae Answers Fan Demands..."Encore Concert One More Time"). JoongAng Ilbo. January 12, 2010. Retrieved January 11, 2010.
  16. ^ (tiếng Triều Tiên) Lee, Mi-hye. ‘상큼발랄’ 소녀시대, SBS 2010 로고송 불렀다! ("Fresh and Lively" So Nyuh Shi Dae Sings 2010 SBS Logo Song!). JoongAng Ilbo/Newsen. January 18, 2010. Retrieved January 24, 2010.
  17. ^ (tiếng Triều Tiên)치어리더로 변신한 소녀시대, ‘Oh!’ 뮤직비디오 27일 공개! (So Nyuh Shi Dae's "Oh!" M/V Released on January 27!).Chosun. February 3, 2010. Retrieved January 27, 2010.
  18. ^ (tiếng Triều Tiên) 소녀시대 ‘oh’ 음원 공개 10분만에 차트 1위 기염 (So Nyuh Shi Dae's "Oh!" Released, #1 on Chart within 10 Minutes).JK News. January 25, 2010. Retrieved January 24, 2010.
  19. ^ (tiếng Triều Tiên) 소녀시대 '쇼! 음악중심'으로 첫 컴백 무대 (So Nyuh Shit Dae's 1st "Oh!" performance on "Show! Music Core").SSTV. February 3, 2010. Retrieved January 30, 2010.
  20. ^ http://soshified.com/forums/index.php?/topic/45249-060310-snsd%E2%80%99s-first-photobook-has-35000-pre-orders-alone-%E2%80%98jackpot-forthcoming%E2%80%99
  21. ^ http://www.universal-music.co.jp/girlsgeneration/disco/index2.html
  22. ^ http://news.nate.com/view/20100611n03353
  23. ^ SM Entertainment to launch world tour The Korea Times. July 2, 2010. Retrieved July 5, 2010.
  24. ^ Jonathan Hicap: SM Entertainment artists including Super Junior to hold world tour. Manila Bulletin. July 3, 2010. Retrieved July 4, 2010
  25. ^ (tiếng Triều Tiên) 소녀시대 日데뷔 싱글 ‘지니’ 티저 공개, 한국서도 관심폭발 (So Nyeo Shi Dae Releases their Japanese Single 'GENIE' Teaser Video, Also Attracts Attention from the South Koreans) Newsen. Retrieved September 4, 2010
  26. ^ a ă (tiếng Nhật) 少女時代、日本の音楽チャートを席巻 (Shoujo Jidai, Conquering Japan's Music Charts)
  27. ^ Girls' Generation debuts successfully in Japan The Korea Herald, 9. September 2010.
  28. ^ (tiếng Triều Tiên) 소시 티파니, 일본에서도 '살인 눈웃음'으로 男心 녹여 (Soshi Tiffany, 'Eye Smile' Melted Male Hearts Even in Japan)
  29. ^ (tiếng Nhật) K-POPガールズ本命・少女時代、日本デビュー作が歴代最高記録 (Shoujo Jidai Breaks 2 Records on Oricon and Sells 45000 Copies of GENIE)
  30. ^ (tiếng Triều Tiên) `아시아 NO1 걸그룹` 소녀시대, 日 데뷔 싱글 `GENIE` 1위! (Asia's No.1 Girl Group So Nyuh Shi Dae Takes 1st Place With Debut Single!)
  31. ^ a ă (tiếng Nhật)(Shoujo Jidai’s (SNSD) ‘Gee’ album cover revealed (UPDATE: MV Teaser!) SM Town Japan. September 30, 2010. Retrieved October 1, 2010.
  32. ^ “RIAJ Digital Track Chart: Chart issue October 26, 2010” (bằng Japanese). Recording Industry Association of Japan. Truy cập ngày 29 tháng 10 năm 2010. 
  33. ^ “Girls’ Generation to release new album ’Hoot’”. koreaherald.com. Korea Herald. 19 tháng 10 năm 2010. Truy cập ngày 24 tháng 10 năm 2010. 
  34. ^ “소녀시대 – 정규 4집 I Got a Boy [10종 중 랜덤]” (bằng Korean). music.aladin.co.kr. 1 tháng 1 năm 2013. Truy cập ngày 21 tháng 12 năm 2012. 
  35. ^ “Girls' Generation's "The Boys" album sales figure” (bằng Korean). 7 tháng 1 năm 2012. Bản gốc lưu trữ ngày 26 tháng 2 năm 2013. Truy cập ngày 26 tháng 2 năm 2013. “select '월간' to find the monthly chart” 
  36. ^ “Billboard World Albums Chart”. Billboard. Truy cập ngày 19 tháng 9 năm 2013. 
  37. ^ “‘뱀띠 스타’ 소녀시대 효연·유리, ‘엠카’ 스페셜 MC 나선다” (bằng Korean). bntnews.com. 2 tháng 1 năm 2013. Truy cập ngày 3 tháng 1 năm 2013. 
  38. ^ “MBC 소녀시대 컴백쇼, 80분 파격편성 '대특집'” (bằng Korean). osen.mt.co.kr. 24 tháng 12 năm 2012. Truy cập ngày 24 tháng 12 năm 2012. 
  39. ^ “MBC airs Girls Generation comeback special program 'Romantic Fantasy'”. Yahoo. 2 tháng 1 năm 2013. Truy cập ngày 29 tháng 11 năm 2013. 
  40. ^ “[T포토 l 소녀시대] '국민 걸그룹의 인기'(V 콘서트)” (bằng Korean). news.nate.com. 5 tháng 1 năm 2013. Truy cập ngày 6 tháng 1 năm 2013. 
  41. ^ “少女時代「Oh!」日本版ビジュアル公開&アリーナツアー” (bằng Japanese). natalie.mu. 15 tháng 9 năm 2012. Truy cập ngày 3 tháng 12 năm 2012. 
  42. ^ 소시, 두번째 日투어 20만 동원..韓걸그룹 최다 - 스타뉴스
  43. ^ “少女時代 初のオフィシャルMIX CD発売決定!! – 少女時代 – GIRLS GENERATION – UNIVERSAL MUSIC JAPAN” (bằng Japanese). Universal Music Japan. Truy cập ngày 13 tháng 2 năm 2013. 
  44. ^ “CD Chart (April 2013)”. Oricon. Truy cập ngày 13 tháng 9 năm 2013. 
  45. ^ “소녀시대, 콘서트 실황 담은 라이브 앨범 발매” (bằng Korean). joynews.com. 5 tháng 4 năm 2013. Truy cập ngày 4 tháng 4 năm 2013. 
  46. ^ “소녀시대, 드디어 월드투어 나선다. 6월 8, 9일에는 서울서 2년 만에 단독 콘서 트” (bằng Korean). sports.chosun.com. 26 tháng 4 năm 2013. Truy cập ngày 26 tháng 4 năm 2013. 
  47. ^ “シングル「LOVE&GIRLS」初回限定盤に「LOVE&GIRLS」のMUSIC VIDEOが収録決定!” (bằng Japanese). SONE Japan. 14 tháng 5 năm 2013. Truy cập ngày 16 tháng 5 năm 2013. 
  48. ^ “SNSD′s ′Love & Girls′ Rises Two Ranks to Arrive at No. 4 on Oricon”. Mwave. 21 tháng 6 năm 2013. Truy cập ngày 14 tháng 8 năm 2013. 
  49. ^ “のCDシングル週間ランキング”. Oricon. Truy cập ngày 20 tháng 9 năm 2013. 
  50. ^ “Oricon Daily Single Chart (18 September)”. Oricon. Truy cập ngày 19 tháng 9 năm 2013. 
  51. ^ “DVD, Blu-ray Chart”. Oricon. Truy cập ngày 19 tháng 9 năm 2013. 
  52. ^ “Oricon Weekly, 9/16-9/22”. 
  53. ^ “【オリコン】少女時代、3作目のDVD総合首位 海外女性歴代1位タイ”. Oricon. Truy cập ngày 25 tháng 9 năm 2013. 
  54. ^ “Girls Generation Comes Up Big at the YouTube Music Awards”. Nihongogo. 4 tháng 11 năm 2013. Truy cập ngày 6 tháng 11 năm 2013. 
  55. ^ “Girls' Generation reveals catchy Japanese single 'My Oh My'”. allkpop. 4 tháng 11 năm 2013. Truy cập ngày 5 tháng 11 năm 2013. 
  56. ^ “少女時代 待望の3rdアルバムのタイトル・トラックリストが遂に解禁!”. Universal Music Japan (bằng Japanese). Universal Music. 21 tháng 11 năm 2013. 
  57. ^ “CDアルバムデイリーランキング” [CD Album Daily Ranking]. Oricon. 10 tháng 12 năm 2013. Bản gốc lưu trữ ngày 11 tháng 12 năm 2013. Truy cập ngày 12 tháng 12 năm 2013. 
  58. ^ “"CDアルバム週間ランキング" [CD Album weekly ranking] (in Japanese)”. Oricon. Truy cập ngày 19 tháng 12 năm 2013. 
  59. ^ “【オリコン】少女時代、2年半ぶりにアルバム首位 韓国女性グループ最多2作目”. Oricon. 17 tháng 12 năm 2013. Truy cập ngày 19 tháng 12 năm 2013. 
  60. ^ “"SM 위크 특별 공연"…소녀시대, 12월 단독 콘서트(Korean)”. Dispatch. 22 tháng 11 năm 2013. Truy cập ngày 29 tháng 11 năm 2013. 
  61. ^ “Girls' Generation Holds Successful 'SMTOWN WEEK GIRLS' GENERATION-Marchen Fantasy' Concert”. KpopStarz.com. 23 tháng 12 năm 2013. Truy cập ngày 21 tháng 1 năm 2014. 
  62. ^ “Girls' Generation reveals surprise teaser for impending comeback during 'SMTOWN WEEK' concert”. allkpop. 22 tháng 12 năm 2013. Truy cập ngày 21 tháng 1 năm 2014. 

Liên kết ngoài

Xem thêm