Athena (thần thoại)

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới điều hướng Bước tới tìm kiếm
Athena
Nữ thần của trí tuệ, nghề thủ công mỹ nghệ, và chiến tranh.[1]
Thành viên của Mười hai vị thần trên đỉnh Olympus
Mattei Athena Louvre Ma530 n2.jpg
Mattei Athena tại Louvre. Bản sao chép của La Mã thế kỷ thứ 1 TCN phỏng theo bản gốc Hy Lạp thế kỷ thứ 4 TCN, được cho là tạo tác của Cephisodotos hoặc Euphranor.
Nơi ngự trịNúi Olympus
Biểu tượngCú mèo, ô liu, rắn, Aegis, áo giáp, mũ giáp, cây giáo, Gorgoneion
Thông tin cá nhân
Cha mẹTrong sử thi Iliad: Zeus
Trong Theogony: Zeus và Metis[a]
Anh chị emAeacus, Angelos, Aphrodite, Apollo, Ares, Artemis, Dionysus, Eileithyia, Enyo, Eris, Ersa, Hebe, Helen thành Troia, Hephaestus, Heracles, Hermes, Minos, Pandia, Persephone, Perseus, Rhadamanthus, các Graces, các Horae, các Litae, các Muse, các Moirai
Tương ứng
Tương ứng La MãMinerva
Tương ứng EtruscaMenrva
Tương ứng Ai CậpNeith
Tương ứng CeltSulis
Tương ứng CannanAnat[3]

Athena[b] hoặc Athene,[c] thường được xưng kèm với tính ngữPallas Athena,[d] là một nữ thần Hy Lạp cổ đại gắn liền với trí tuệ, nghề thủ công mỹ nghệ và chiến tranh,[1] thời sau này bà được đồng hóa với nữ thần La Mã Minerva.[4] Athena là vị thần bảo trợ cho nhiều thành bang khác nhau trên khắp Hy Lạp, trong đó tiêu biểu nhất là thành Athens mà có thể tên gọi của bà bắt nguồn từ đây.[5] Đền Parthenon trên đồi Acropolis tại Athens là nơi thờ phụng và tôn vinh Athena. Các biểu tượng chính của bà bao gồm cú mèo, cây ô liu, rắn và biểu tượng đầu Gorgon. Trong nghệ thuật, bà thường được miêu tả với hình ảnh đầu đội mũ trụ và tay cầm giáo.

Bắt nguồn từ một nữ thần thủ hộ Aegean, Athena có mối liên hệ chặt chẽ với thành bang Athens. Bà còn được biết đến như là PoliasPoliouchos (biến thể từ polis, có nghĩa là "thành bang"), các đền thờ của bà thường nằm trên đỉnh khu thành phòng thủ acropolis ở trung tâm thành phố. Đền Parthenon cùng với nhiều đền đài khác được phụng hiến riêng cho Athena. Với tư cách là thần bảo trợ cho nghề thủ công và dệt, Athena còn được gọi là Ergane. Bà còn là một nữ thần chiến binh, người dẫn dắt các binh sĩ trong trận chiến. Lễ hội quan trọng nhất ở Athens là lễ Panathenaia để tôn vinh Athena, được tổ chức trong tháng Hekatombaion (tháng bảy/tháng tám lịch Gregorius) vào thời gian hạ chí.

Trong thần thoại Hy Lạp, Athena sinh ra từ trán của thần Zeus. Trong huyền thoại thành lập Athens, Athena đánh bại Poseidon trong một cuộc chiến giành quyền bảo trợ thành bang bằng cách tạo ra cây ô liu đầu tiên. Bà còn có tên là Athena Parthenos, "Athena trinh tiết". Trong một thần thoại Attic cổ xưa, thần Hephaestus cố cưỡng hiếp bà nhưng bất thành, dẫn đến việc Gaia sinh ra Erichthonius, một anh hùng sáng lập quan trọng của Athens. Athena đồng hành và hỗ trợ nhiều anh hùng như Perseus, Heracles, BellerophonJason trên chặng đường đầy thử thách của họ. Cùng với AphroditeHera, Athena là một trong ba nữ thần có mối thù khơi mào cuộc chiến tranh thành Troia.

Bà xuất hiện trong sử thi Iliad, hỗ trợ phe Achaea và trong Odyssey, bà là cố vấn thần thánh cho Odysseus. Trong các tác phẩm sau này của nhà thơ La Mã Ovid, Athena cạnh tranh với Arachne phàm nhân trong một cuộc thi dệt vải, sau đó hóa phép Arachne thành con nhện đầu tiên; Ovid cũng mô tả bà biến Medusa thành Gorgon sau khi chứng kiến ​​cảnh nàng ta bị Poseidon hãm hiếp trong đền thờ nữ thần. Kể từ thời kỳ Phục hưng, Athena trở thành một biểu tượng quốc tế của trí tuệ, nghệ thuật và nghiên cứu cổ điển. Các nghệ sĩ và nhà phúng dụ phương Tây thường coi Athena là một biểu tượng của tự dodân chủ.

Từ nguyên[sửa | sửa mã nguồn]

Akropolis (1846) bởi Leo von Klenze. Tên của Athena có thể là bắt nguồn từ tên thanh bang Athens.[5][6]

Athena được liên kết với thành phố Athens.[5][7] Tên của thành phố trong tiếng Hy Lạp cổ đại là Ἀθῆναι (Latinh hóa: Athȇnai), một từ địa danh số nhiều, dùng để chỉ nơi—theo thần thoại—nữ thần chủ trì hội Athenai, một hội nữ tu thờ cúng bà.[6] Vào thời cổ đại, các học giả tranh cãi liệu Athena được đặt theo tên của Athens hay Athens được đặt theo tên của Athena.[5] Hiện nay các học giả thường đồng ý rằng nữ thần lấy tên từ thành phố;[5][7] đuôi -ene thường xuất hiện trong các địa danh, hiếm khi có trong tên riêng của người.[5] Có nhiều điều ủng hộ quan điểm trên do nhiều nữ thần bảo trợ các thành bang khác ở Hy Lạp cổ đại[6], giống Athena, lấy tên của họ từ nơi họ được thờ.[6] Ví dụ, ở Mycenae có một nữ thần tên là Mykene, có hội nữ tu gọi là Mykenai,[6]Thebes cũng có một vị thần tương tự gọi là Thebe, và thành bang có tên ở dạng số nhiều là Thebai (hay Thebes trong tiếng Anh, đuôi 's' chỉ số nhiều).[6] Cái tên Athenai có thể có nguồn gốc từ một thứ tiếng Tiền Hy Lạp vì nó có chứa hình vị *-ān- có lẽ thuộc lớp từ Tiền Hy Lạp.[8]

Trong cuộc đối thoại Cratylus, triết gia Hy Lạp cổ đại Platon (428–347 TCN) đưa ra một số từ nguyên mang tính tưởng tượng về tên của Athena, dựa trên lý thuyết của người Athens cổ đại và suy đoán từ nguyên của riêng ông:

Vì vậy, Platon tin rằng tên của Athena có nguồn gốc từ tiếng Hy Lạp Ἀθεονόα, Atheonóa — mà người Hy Lạp sau này lý giải là từ tâm trí (νοῦς, noũs) của vị thần (θεός, theós). Nhà hùng biện ở thế kỷ thứ 2 CN Aelius Aristides đã cố gắng tìm ra các biểu tượng tự nhiên từ nguồn gốc từ nguyên của tên Athena là aether, không khí, trái đất và mặt trăng.[9]

Nguồn gốc[sửa | sửa mã nguồn]

Một phần bích họa từ Trung tâm Giáo phái tại Mycenae có niên đại vào thế kỷ thứ 13 TCN muộn mô tả một nữ thần chiến binh, rất có thể là Athena, đeo mũ ngà lợn rừng và nắm chặt griffin.[10]

Athena thuở đầu là một nữ thần Aegean của cung điện, người chủ trì các nghề thủ công tại gia và bảo trợ nhà vua.[11][12][13][14] Một dòng chữ Hy Lạp Mycenae duy nhất 𐀀𐀲𐀙𐀡𐀴𐀛𐀊 a-ta-na po-ti-ni-ja /Athana potnia/ xuất hiện tại Knossos trong phiến đá Linear B từ "Phòng của các Phiến khắc Chiến xa" thời Hậu Minoan II;[15][16][10] di chỉ này bao gồm kho lưu trữ Linear B sớm nhất ở bất cứ đâu.[15] Mặc dù Athana potnia thường được dịch là "bà chủ Athena", nó cũng có thể có nghĩa là "Potnia của Athana", hoặc Quý bà của Athens.[10][17] Tuy nhiên, các bản khắc Knossos chưa chắc là đã có mối liên hệ với thành Athens.[18] Chuỗi ký tự a-ta-no-dju-wa-ja xuất hiện trong kho tài liệu chưa được giải mã của các phiến đá Linear A, được viết bằng ngôn ngữ Minoan chưa được phân loại.[19] Điều này có thể liên quan tới các biểu tượng Linear B Mycenae là a-ta-na po-ti-ni-jadi-u-ja hoặc di-wi-ja (Diwia, "thuộc về Zeus" hoặc liên quan đến một nữ thần trùng tên),[15] nên có thể được dịch thành "Athena của Zeus" hoặc "Athena thần thánh". Tương tự, trong thần thoại Hy Lạp và truyền thống sử thi, Athena được coi là con gái của thần Zeus (Διός θυγάτηρ; cfr. Dyeus).[20] Tuy nhiên, dòng được trích dẫn dường như rất giống với "a-ta-nū-tī wa-ya", được Jan Best trích dẫn là SY Za 1.[20] Best dịch phần a-ta-nū-tī lặp lại ở phần đầu dòng là "Tôi đã đưa ra" (tiếng Anh: "I have given").[20]

Một bức bích họa Mycenea mô tả hai người phụ nữ dang tay về phía một nhân vật trung tâm, được bao phủ bởi một chiếc khiên khổng lồ hình số tám; hình tượng này có thể đang mô tả nữ thần chiến binh với palladion của bà, hoặc palladion là đại diện cho bà và mang tính biểu tượng.[21][22] Trong "Bức bích họa Đám rước" tại Knossos, hai hàng nhân vật mang bình dường như gặp nhau ở phía trước một nhân vật trung tâm, có lẽ là hình tượng tiền thân Minoan của Athena.[23] Học giả Martin Persson Nilsson hồi đầu thế kỷ XX cho rằng các bức tượng nhỏ mô tả nữ thần rắn của người Minoan chính là dạng tiền thân của nữ thần Athena.[11][12]

Nhìn chung, Nilsson và nhiều người khác cho rằng, vào thuở đầu, Athena từng là một con cú thần hoặc một điểu thần (thần linh mang hình dạng một con chim).[24] Trong cuốn ba của Odyssey, bà mang hình hài của một con đại bàng biển.[24] Những người ủng hộ quan điểm này cho rằng hình tượng mô tả bà không còn là con cú nữa trước khi mất đi cánh. “Athena, vào thời điểm bà xuất hiện trong hội họa,” Jane Ellen Harrison nhận xét, “đã hoàn toàn thoát khỏi thân xác động vật, những thứ bà từng mặc như rắn và chim bị tiêu biến và chỉ còn sót lại dưới dạng các thuộc tính (tiếng Anh: attributes, dùng để chỉ những biểu trưng được liên kết với thần, kiểu như: sấm sét của Zeus, đinh ba của Poseidon, v.v), nhưng trong nhiều bức tranh bình hình nhân màu đen, bà đôi khi vẫn sở hữu một đôi cánh."[25]

Con dấu hình trụ của Akkad cổ đại (niên đại khoảng 2334–2154 TCN) mô tả Inanna, nữ thần chiến tranh, mặc giáp và cầm vũ khí, đặt chân lên một con sư tử[26]

Theo nhiều tác giả, tục sùng bái Athena bảo tồn một số khía cạnh của nữ thần chuyển đổi chức năng Proto Ấn-Âu.[27][28] Sự sùng bái Athena cũng có thể bị ảnh hưởng bởi những nữ thần chiến binh Cận Đông như Ishtar của người Đông SemitAnat của người Ugaritic,[10] cả hai đều được miêu tả là cầm vũ khí.[12] Học giả cổ điển Charles Penglase lưu ý rằng Athena giống Inanna trong vai trò là "nữ thần chiến binh đáng sợ"[29] và cả hai nữ thần đều có liên hệ với sự sáng tạo.[29] Sự khai sinh của Athena từ trán thần Zeus có thể bắt nguồn từ câu chuyện thần thoại Sumer cổ hơn kể về Inanna xuống cõi Âm.[30][31]

Platon có kể rằng các công dân của Sais ở Ai Cập thờ một nữ thần tên là Neith,[e] vị thần mà ông cho là rất giống với Athena.[32] Neith là nữ thần chiến tranh, săn bắn và nghề dệt của Ai Cập cổ đại. Tục thờ phượng của bà bắt đầu từ thời kỳ Tiền triều đại của Ai Cập. Trong thần thoại Hy Lạp, Athena đã đến thăm nhiều địa điểm ở Bắc Phi, bao gồm sông Triton của Libyađồng bằng Phlegraean.[f] Dựa trên những điểm tương đồng này, nhà Trung Hoa học Martin Bernal đã đề xuất giả thuyết "Athena đen", cho rằng tục thờ Neith được truyền bá sang Hy Lạp từ Ai Cập, cùng với "một số lượng khổng lồ các đặc điểm của nền văn minh và văn hóa trong thiên niên kỷ thứ ba và thứ hai".[33][34] Giả thuyết "Athena đen" gây tranh cãi vào gần cuối thế kỷ XX,[35][36] nhưng đã bị các học giả hiện nay bác bỏ gần như hoàn toàn.[37][38]

Giáo phái và bảo trợ[sửa | sửa mã nguồn]

Giáo phái Toàn Hy Lạp và Athens[sửa | sửa mã nguồn]

Bạc tetradrachm Athens có hình nữ thần Athena
Một cái peplos mới được dệt cho Athena và được mặc nghi lễ cho thần tượng giáo phái (Bảo tàng Anh).

Ở khía cạnh Athena Polias, Athena được tôn là nữ thần của thành bang và người thủ thành.[12][39][40] Ở Athens, lễ Plynteria hay "Lễ tắm", được tổ chức hàng năm vào cuối tháng Thargelion.[41] Lễ hội kéo dài trong năm ngày. Trong thời gian này, các nữ tư tế của Athena, hay các plyntrídes, thực hiện một nghi lễ tẩy rửa trong Erechtheion, thánh địa dành cho Athena và Poseidon.[42] Tại đây bức tượng của Athena được cởi bỏ trang phục, quần áo của bà được giặt sạch và cơ thể được gột rửa.[42] Athena được tôn thờ tại các lễ hội như Chalceia với cái tên Athena Ergane,[43][40] vị thần bảo trợ của các nghề thủ công, đặc biệt là dệt.[43][40] Bà là người bảo trợ cho các thợ gia công kim loại và hỗ trợ trong việc rèn giáp và vũ khí.[43] Vào cuối thế kỷ thứ 5 TCN, Athena được thờ cúng thêm với khía cạnh triết học.[44]

Ở khía cạnh Athena Promachos, bà dẫn dắt đoàn quân xông pha nơi tiền tuyến.[45][46] Athena đại diện cho sự kỷ luật, chiến lược của chiến tranh, trái ngược với người anh trai Ares, vị thần bảo trợ cho bạo lực, khát máu và tàn sát— "lực lượng thô sơ của chiến tranh".[47][48] Athena chỉ ủng hộ những kẻ chiến đấu vì chính nghĩa[47] và đại diện cho chiến tranh để giải quyết xung đột.[47] Người Hy Lạp coi Athena cao quý hơn nhiều so với Ares.[47][48] Các khía cạnh này của Athena được tôn thờ trong các lễ PanathenaeaPamboeotia,[49] cả hai dịp đều nổi bật với những màn phô diễn sức mạnh thể thao và quân sự.[49] Athena bảo trợ cho các anh hùng chiến binh, và chiếu cố những kẻ biết sử dụng trí tuệ hơn là vũ lực.[50]

Đền Parthenon trên đỉnh Acropolis tại Athens, để tôn thờ Athena Parthenos[51]

Ở khía cạnh thiếu nữ chiến binh, Athena được tôn là Parthenos (Παρθένος "trinh nữ"),[45][52][53] bởi vì, giống như ArtemisHestia, bà là một trinh nữ vĩnh viễn.[54][55][45][53][56] Ngôi đền nổi tiếng nhất của Athena, đền Parthenon trên Acropolis, lấy tên từ tính ngữ này.[56]

Mặt lật lại của xu bạc tetradrachm Pergamene đúc bởi Attalus I, mô tả Athena ngồi trên ngai (k. 200 TCN)

Athena không chỉ là nữ thần bảo trợ riêng Athens mà còn của các thành bang khác, bao gồm Argos, Sparta, Gortyn, LindosLarisa.[46] Các giáo phái của Athena đều là nhánh của tôn giáo toàn Hy Lạp của bà[46] và họ tổ chức nhiều nghi thức trưởng thành của thanh niên Hy Lạp, chẳng hạn như các giai đoạn con trai trở thành công dân hoặc con gái lấy chồng.[46] Athena được đánh đồng với Aphaea, một nữ thần bản địa của đảo Aegina có gốc Crete và có liên hệ với thần Artemisnymph Britomartis.[57] Tại Arcadia, bà được đồng hóa với nữ thần cổ đại Alea và được tôn thờ là Athena Alea.[58] Các thánh địa dành riêng cho Athena Alea nằm ở các thị trấn MantineiaTegea của Laconian. Đền thờ Athena Alea ở Tegea là một trung tâm tôn giáo quan trọng của Hy Lạp cổ đại.[g] Nhà địa lý học Pausanias hay tin rằng các temenos đã được thành lập bởi Aleus.[59]

Trên acropolis của Sparta,[60][40] bà được tôn là PoliouchosKhalkíoikos ("Thuộc về Nhà Đồng thau", Latinh hóa thành Chalcioecus).[60][40] Sở dĩ có cái tên này là vì các bức tượng ở đó làm bằng đồng,[60] hoặc là do Athena là thần bảo trợ những người thợ kim loại.[60] Giáo phái Athena ở Sparta dùng chuông làm từ đất nung và đồng trong các nghi lễ.[60] Tồn tại một ngôi đền thờ Athena Polias xây dựng theo phong cách Ionic tại Priene vào thế kỷ thứ 4 TCN, được thiết kế bởi Pytheos xứ Priene,[61][62] cùng một kiến ​​trúc sư thiết kế lăng mộ của Mausolus.[62] Ngôi đền được thờ bởi Alexander Đại đế[63] và sự cống hiến của ông được nhắc đến trong một bản khắc nơi đây.[61]

Thần thoại về Athena[sửa | sửa mã nguồn]

Ra đời[sửa | sửa mã nguồn]

Athena được "sinh ra" từ trán của Zeus do ông ta đã nuốt chửng mẹ của bà là Metis, trong khi đang bám vào áo của Eileithyia bên phải; amphora hình nhân đen, 550–525 TCN, Louvre.

Bà là con gái của Zeus, sinh ra từ trán của ông và không có mẹ. Có một câu chuyện khác cho rằng Zeus đã nuốt Metis, nữ thần cố vấn, trong khi bà đang mang thai Athena, do vậy Athena cuối cùng được sinh ra bởi Zeus. Là đứa con được hết mực nuông chiều bởi Zeus, bà sở hữu quyền lực to lớn. Trong các vị thần Olympus cổ điển, Athena là cô con gái yêu thích của thần Zeus, sinh ra từ trán với đầy đủ vũ khí.[64][65][66][h] Câu chuyện về sự ra đời của bà có nhiều dị bản.[67][68][69] Đề cập sớm nhất là trong Quyển V của Iliad, khi Ares chỉ trích Zeus vì quá thiên vị Athena do "autos egeinao" (nghĩa đen là "ông là cha cô ta/ông đã sinh ra cô ta").[70][71]

Về cơ bản, bà là người thành thị và văn minh, trái ngược với Artemis, nữ thần của những thứ ngoài trời. Athena có lẽ là một nữ thần tiền Hy Lạp và sau đó bị người Hy Lạp đồng hóa. Trong tác phẩm Theogony của Hesiod, Zeus kết hôn với nữ thần Metis, được khen ngợi là "khôn ngoan nhất trong số các vị thần và người phàm", và giao cấu với bà.[72][73][71][74] Tuy nhiên, sau khi biết rằng Metis đang mang thai, ông sợ rằng những đứa con chưa chào đời sẽ muốn lật đổ ông bởi vì GaiaOuranos đã tiên tri rằng Metis sẽ hạ sinh những đứa con khôn ngoan hơn cha của chúng.[72][73][71][74] Để ngăn chặn điều đó, Zeus nuốt chửng Metis, nhưng bà đã thụ thai[72][75][71][74] Dị bản trong Bibliotheca của Pseudo-Apollodorus, được viết vào thế kỷ thứ 2 CN, cho rằng Metis bị ép buộc quan hệ với Zeus chứ không phải là vợ của ông.[76][77] Theo dị bản này, Metis đã biến đổi thành nhiều hình hài khác nhau để chạy thoát Zeus,[76][77] nhưng Zeus bắt được, cưỡng hiếp và nuốt chửng bà.[76][77]

Sau khi nuốt chửng Metis, Zeus lấy thêm sáu người vợ cho đến khi cưới người vợ thứ bảy và hiện tại, Hera.[74] Sau đó, Zeus trải qua một cơn đau đầu kinh khủng.[78][71][74] Ông đau đớn đến mức ra lệnh cho ai đó (Prometheus, Hephaestus, Hermes, Ares hoặc Palaemon, tùy nguồn văn liệu) rạch đầu ông ra bằng cái labrys, rìu Minoan hai đầu.[79][71][80][77] Athena nhảy ra khỏi đầu của Zeus, trưởng thành và vũ trang đầy đủ.[79][71][66][81] "Bài thánh ca Homeros đầu tiên cho Athena" có nói ở dòng 9–16 rằng các vị thần kinh hãi bởi sự xuất hiện của Athena[82] và thậm chí thần mặt trời Helios, cũng phải khựng lại chiếc chiến xa của mình trên bầu trời.[82] Pindar, trong "Ode Olympus thứ bảy", chép rằng bà "đã thét lên một tiếng thét hùng hồn" và rằng "Bầu trời và Mẹ Trái đất rùng mình trước bà ấy."[83][82]

Hesiod kể rằng Hera khó chịu với Zeus vì đã tự mình sinh ra một đứa con đến nỗi bà đã tự thụ thai và sinh ra Hephaestus,[74] nhưng trong Imagines 2. 27 (bản dịch tiếng Anh của Fairbanks), nhà hùng biện người Hy Lạp Philostratus Già ở thế kỷ thứ 3 CN viết rằng Hera "vui mừng" trước sự ra đời của Athena "như thể Athena là ruột thịt của bà." Nhà biện giải Cơ đốc giáo Justin Martyr vào thế kỷ thứ 2 CN có bàn về những kẻ pagan dựng thần tượng Kore ở suối nước, mà ông lầm tưởng là Athena: "Chúng nói rằng Athena là con gái của thần Zeus không phải từ sự giao hợp, mà là khi vị thần có ý nghĩ tạo ra một thế giới thông qua một từ (logos), ý nghĩ đầu tiên của ông là Athena."[84] Theo một dị bản trong một scholium Iliad (không tìm thấy ở đâu khác), khi Zeus nuốt Metis, bà đã mang thai Athena của Cyclops Brontes.[85] Tác phẩm Etymologicum Magnum[86] cho rằng Athena là con gái của Daktyl Itonos.[87] Các mảnh giấy được Eusebius xứ Caesarea cho hay là thuộc về nhà sử học Phoenicia bán huyền thoại Sanchuniathon, những mảnh giấy mà Eusebius cho rằng đã được viết trước cả cuộc chiến thành Troia, chép rằng Athena là con gái của Cronus, vua xứ Byblos, người đã đến thăm "thế giới khả sinh" và ban Attica cho Athena.[88][89]

Pallas Athena[sửa | sửa mã nguồn]

Chi tiết trên bức bích họa La Mã từ Pompeii tả cảnh Ajax kéo lê Cassandra khỏi cái palladion khi thành Troia thất thủ, sự kiện khiến Athena căm phẫn người Hy Lạp [90]

Tính ngữ Pallas của Athena có nguồn gốc từ πάλλω, có nghĩa là "để vung [vũ khí]", nhưng nhiều khả năng hơn là từ παλλακίς và các từ liên quan, có nghĩa là "sự trẻ trung, thiếu nữ".[91] Về điều này, Walter Burkert luận rằng "bà ấy là Pallas của Athens, Pallas Athenaie, giống như Hera của Argos là Here Argeie."[5] Sau này, ý nghĩa của cái tên đã bị lãng quên, người Hy Lạp sáng tác ra thần thoại để giải thích nguồn gốc của nó, chẳng hạn như những bài viết của triết gia trường phái Epicurus PhilodemusBibliotheca của Pseudo-Apollodorus, cho rằng Pallas ban đầu là một thực thể riêng biệt, kẻ mà Athena đã giết chết trong trận chiến.[92]

Trong một dị bản, Pallas là con gái của thần biển Triton;[93] bà và Athena là hai người bạn thời thơ ấu, nhưng Athena đã vô tình giết Pallas trong một trận đấu giao hữu.[94] Đau khổ về điều mình làm, Athena lấy tên Pallas để vinh danh người bạn đã khuất.[94] Trong một dị bản khác, Pallas là một Gigante;[79] Athena giết Pallas trong trận Gigantomachy và lột da hắn ta làm áo choàng.[79][12][95][96] Trong một dị bản khác, Pallas là cha của Athena,[79][12] kẻ định tấn công chính con gái mình,[97] khiến Athena phải giết ông và lấy da cha mình làm chiến tích.[98]

Thành Troia sở hữu một bức tượng thờ Athena gọi là Palladion.[99] Tương truyền rằng Athena đã tự tay tạc bức tượng theo hình mẫu người bạn đã khuất của bà là Pallas.[99] Bức tượng là bùa hộ mệnh của thành Troia;[99] miễn là nó còn đứng trong thành, Troia sẽ không bao giờ thất thủ.[99] Khi quân Hy Lạp chiếm được Troia, Cassandra, con gái của Priam, bám lấy palladion để được bảo hộ,[99] nhưng Ajax kéo nàng đi một cách thô bạo và đem đến chỗ những người bị giam cầm khác.[99] Athena rất phẫn nộ vì sự việc này.[90] Mặc dù Agamemnon cố gắng xoa dịu cơn giận của bà bằng những vật tế lễ, Athena gây ra một cơn bão tại Mũi Kaphereos để tiêu diệt gần như toàn bộ hạm đội Hy Lạp và phân tán tất cả những con tàu còn sống sót qua Aegean.[100]

Sự trừng phạt với Arachne[sửa | sửa mã nguồn]

Theo Homeros, Arachne là một người con gái trần gian có tài thêu dệt rất đẹp. Có người nói nàng học từ nữ thần Athena. Cô ta phạm thượng trả lời: "Tôi tự có năng khiếu bẩm sinh chứ ai cần cô ta dạy bảo!" Nữ thần Athena rất tức giận, biến thành một cụ già đến khuyên bảo nhưng cô ta không nghe, Athena bèn thi tài với cô ta. Athena thêu dệt lại hình ảnh 12 vị thần trên đỉnh Olympus còn cô ta thì thêu hình ảnh trần tục, hoang lạc của các vị thần. Athena vô cùng tức giận và dùng con thoi đánh Arachne. Uất ức, Arachne tự vẫn. Nữ thần tội nghiệp liền hóa phép cô ta thành con nhện. Con cháu của cô ta cũng là giống nhện, mãi mãi thêu thùa những chiếc mạng nhện mà ta thấy ngày nay.

Athena trong cuộc chiến thành Troia[sửa | sửa mã nguồn]

Athena đã hỗ trợ cho các anh hùng Perseus, Jason, Cadmus, OdysseusHeracles trong những chuyến hành trình của họ. Đặc biệt trong cuộc chiến thành Troia, lúc quân Hy Lạp gần như vô vọng trong việc phá thành thì Athena đã gợi ý chế ra con ngựa gỗ khổng lồ, kết quả là Troia lọt vào tay quân Hy Lạp ngay sau đó.

Nữ thần bảo hộ Athen[sửa | sửa mã nguồn]

Cả Athena và Poseidon đều muốn trở thành thần bảo hộ cho miền Atikes. Để xứng đáng với sự tôn kính của mình, Athena đã tạo ra một cây ôliu làm tươi tốt khắp các thành luỹ Atikes và cả vùng đất Acropolos. Poseidon cố gắng vượt qua Athena bằng cách dùng cây đinh ba của mình đâm xuyên qua mặt đất làm phun lên những cột nước khổng lồ, tuy nhiên vì ông ấy là vị thần của biển cả nên trong nước chỉ có... muối (có truyện thì nói là Poseidon tặng cư dân những con ngựa chiến vô cùng dũng mãnh). Món quà của Athena với người dân Atikes xem ra hữu ích hơn, vì vậy Athena đã trở thành vị thần bảo hộ cho vùng đất này. Thành cũng được đổi tên thành Athena (tức Athen ngày nay).

Athena và Medusa[sửa | sửa mã nguồn]

Perseus cũng đã được Athena hỗ trợ trong cuộc truy sát Medusa, nàng đã cho Perseus mượn giày bay của thần Hermers,túi của thần Hera dùng để đựng đầu Medusa, và khiên trong suốt của thần Athena, mũ tàng hình của thần Hades và kiếm của thần Ares.Khi chặt được đầu Medusa, Perseus đã cho Athena chiếc đầu Medusa để trang trí khiên của mình.

Athena là một nữ thần rất mực thông minh, xinh đẹp, một nữ thần vừa hiếu chiến vừa chủ hoà, vì chỉ có sau khi chiến thắng thì mới có hoà bình. Thần khuyến khích tinh thần chiến đấu của các dũng sĩ, cho họ sức mạnh, sự quyết tâm, lòng kiên định và lời khuyên lúc nguy nan. Athena cũng dạy cho dân chúng các kiến thức khoa học, dạy họ nghệ thuật và các nghề thủ công. Vì thế Athena được nhiều người yêu mến và kính trọng.

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Trong nhiều dị bản, cha của Athena còn được cho là Pallas, Cyclops Brontes, hoặc Itonos Daktyl.[2]
  2. ^ /əˈθnə/; Tiếng Hy Lạp Attic: Ἀθηνᾶ, Athēnâ, hoặc Ἀθηναία, Athēnaía; Epic: Ἀθηναίη, Athēnaíē; Doric: Ἀθάνα, Athā́nā
  3. ^ /əˈθn/; Ionian: Ἀθήνη, Athḗnē
  4. ^ /ˈpæləs/; Παλλάς Pallás
  5. ^ "The citizens have a deity for their foundress; she is called in the Egyptian tongue Neith, and is asserted by them to be the same whom the Hellenes call Athena; they are great lovers of the Athenians, and say that they are in some way related to them." (Timaeus 21e.)
  6. ^ Aeschylus, Eumenides, v. 292 f. Cf. the tradition that she was the daughter of Neilos: see, e. g. Clement of Alexandria Protr. 2.28.2; Cicero, De Natura Deorum 3.59.
  7. ^ "This sanctuary had been respected from early days by all the Peloponnesians, and afforded peculiar safety to its suppliants" (Pausanias, Description of Greece iii.5.6)
  8. ^ Jane Ellen Harrison's famous characterization of this myth-element as, "a desperate theological expedient to rid an earth-born Kore of her matriarchal conditions" (Harrison 1922:302) has never been refuted nor confirmed.

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ a b Inc, Merriam-Webster (1995). Merriam-Webster's Encyclopedia of Literature. Merriam-Webster. tr. 81. ISBN 9780877790426.
  2. ^ Kerényi 1951, tr. 121–122.
  3. ^ L. Day 1999, tr. 39.
  4. ^ Deacy & Villing 2001.
  5. ^ a b c d e f g Burkert 1985, tr. 139.
  6. ^ a b c d e f Ruck & Staples 1994, tr. 24.
  7. ^ a b Powell 2012, tr. 230.
  8. ^ Beekes 2009, tr. 29.
  9. ^ Johrens 1981, tr. 438–452.
  10. ^ a b c d Hurwit 1999, tr. 14.
  11. ^ a b Nilsson 1967, tr. 347, 433.
  12. ^ a b c d e f Burkert 1985, tr. 140.
  13. ^ Puhvel 1987, tr. 133.
  14. ^ Kinsley 1989, tr. 141–142.
  15. ^ a b c Ventris & Chadwick 1973, tr. 126.
  16. ^ Chadwick 1976, tr. 88–89.
  17. ^ Palaima 2004, tr. 444.
  18. ^ Burkert 1985, tr. 44.
  19. ^ Chữ khắc KO Za 1, dòng 1.
  20. ^ a b c Best 1989, tr. 30.
  21. ^ Mylonas 1966, tr. 159.
  22. ^ Hurwit 1999, tr. 13–14.
  23. ^ Fururmark 1978, tr. 672.
  24. ^ a b Nilsson 1950, tr. 496.
  25. ^ Harrison 1922:306. Cfr. ibid., p. 307, fig. 84: “Detail of a cup in the Faina collection”. Bản gốc lưu trữ ngày 5 tháng 11 năm 2004. Truy cập ngày 6 tháng 5 năm 2007..
  26. ^ Wolkstein & Kramer 1983, tr. 92, 193.
  27. ^ Puhvel 1987, tr. 133–134.
  28. ^ Mallory & Adams 2006, tr. 433.
  29. ^ a b Penglase 1994, tr. 235.
  30. ^ Deacy 2008, tr. 20–21, 41.
  31. ^ Penglase 1994, tr. 233–325.
  32. ^ Cf. also Herodotus, Histories 2:170–175.
  33. ^ Bernal 1987, tr. 21, 51 ff.
  34. ^ Fritze 2009, tr. 221–229.
  35. ^ Berlinerblau 1999, tr. 93ff.
  36. ^ Fritze 2009, tr. 221–255.
  37. ^ Jasanoff & Nussbaum 1996, tr. 194.
  38. ^ Fritze 2009, tr. 250–255.
  39. ^ Herrington 1955, tr. 11–15.
  40. ^ a b c d e Hurwit 1999, tr. 15.
  41. ^ Simon 1983, tr. 46.
  42. ^ a b Simon 1983, tr. 46–49.
  43. ^ a b c Herrington 1955, tr. 1–11.
  44. ^ Burkert 1985, tr. 305–337.
  45. ^ a b c Herrington 1955, tr. 11–14.
  46. ^ a b c d Schmitt 2000, tr. 1059–1073.
  47. ^ a b c d Darmon 1992, tr. 114–115.
  48. ^ a b Hansen 2004, tr. 123–124.
  49. ^ a b Robertson 1992, tr. 90–109.
  50. ^ Hurwit 1999, tr. 18.
  51. ^ Burkert 1985, tr. 143.
  52. ^ Goldhill 1986, tr. 121.
  53. ^ a b Garland 2008, tr. 217.
  54. ^ Hansen 2004, tr. 123.
  55. ^ Goldhill 1986, tr. 31.
  56. ^ a b Kerényi 1952.
  57. ^ Pilafidis-Williams 1998.
  58. ^ Jost 1996, tr. 134–135.
  59. ^ Pausanias, Description of Greece viii.4.8.
  60. ^ a b c d e Deacy 2008, tr. 127.
  61. ^ a b Burn 2004, tr. 10.
  62. ^ a b Burn 2004, tr. 11.
  63. ^ Burn 2004, tr. 10–11.
  64. ^ Kerényi 1951, tr. 118–120.
  65. ^ Deacy 2008, tr. 17–32.
  66. ^ a b Penglase 1994, tr. 230–231.
  67. ^ Kerényi 1951, tr. 118–122.
  68. ^ Deacy 2008, tr. 17–19.
  69. ^ Hansen 2004, tr. 121–123.
  70. ^ Iliad Quyển V, dòng 880
  71. ^ a b c d e f g Deacy 2008, tr. 18.
  72. ^ a b c Hesiod, Theogony 885-900, 929e-929t
  73. ^ a b Kerényi 1951, tr. 118–119.
  74. ^ a b c d e f Hansen 2004, tr. 121–122.
  75. ^ Kerényi 1951, tr. 119.
  76. ^ a b c Pseudo-Apollodorus, Bibliotheca 1.3.6
  77. ^ a b c d Hansen 2004, tr. 122–123.
  78. ^ Kerényi 1951, tr. 119–120.
  79. ^ a b c d e Kerényi 1951, tr. 120.
  80. ^ Penglase 1994, tr. 231.
  81. ^ Hansen 2004, tr. 122–124.
  82. ^ a b c Penglase 1994, tr. 233.
  83. ^ Pindar, "Seventh Olympian Ode" lines 37–38
  84. ^ Justin, Apology 64.5, quoted in Robert McQueen Grant, Gods and the One God, vol. 1:155, who observes that it is Porphyry "who similarly identifies Athena with 'forethought'".
  85. ^ Gantz, p. 51; Yasumura, p. 89; scholia bT to Iliad 8.39.
  86. ^ Kerényi 1951, tr. 281.
  87. ^ Kerényi 1951, tr. 122.
  88. ^ Oldenburg 1969, tr. 86.
  89. ^ I. P., Cory biên tập (1832). “The Theology of the Phœnicians from Sanchoniatho”. Ancient Fragments. Cory biên dịch. Lưu trữ bản gốc ngày 5 tháng 9 năm 2010. Truy cập ngày 25 tháng 8 năm 2010 – qua Sacred-texts.com.
  90. ^ a b Deacy 2008, tr. 68–69.
  91. ^ Chantraine, s.v.; the New Pauly says the etymology is simply unknown
  92. ^ New Pauly s.v. Pallas
  93. ^ Graves 1960, tr. 50–55.
  94. ^ a b Graves 1960, tr. 50.
  95. ^ Deacy 2008, tr. 51.
  96. ^ Powell 2012, tr. 231.
  97. ^ Kerényi 1951, tr. 120-121.
  98. ^ Kerényi 1951, tr. 121.
  99. ^ a b c d e f Deacy 2008, tr. 68.
  100. ^ Deacy 2008, tr. 71.

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]

Mười hai vị thần trên đỉnh Olympus
Zeus | Hera | Poseidon | Hestia | Demeter | Aphrodite | Athena | Apollo | Artemis | Ares | Hephaistos | Hermes