Linh dương nước

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
(đổi hướng từ Kobus ellipsiprymnus)
Bước tới: menu, tìm kiếm
Linh dương nước
Waterbuck (Kobus ellipsiprymnus) (6035273953).jpg
Linh dương đực
Waterbok2.jpg
Linh dương cái và con non
Tình trạng bảo tồn
Phân loại khoa học
Giới (regnum) Animalia
Ngành (phylum) Chordata
Lớp (class) Mammalia
Bộ (ordo) Artiodactyla
Họ (familia) Bovidae
Phân họ (subfamilia) Reduncinae
Chi (genus) Kobus
Loài (species) K. ellipsiprymnus
Danh pháp hai phần
Kobus ellipsiprymnus
(Ogilby, 1833)
Bản đồ phân bố của linh dương nước
Bản đồ phân bố của linh dương nước
Phân loài

Linh dương nước (Danh pháp hai phần: Kobus ellipsiprymnus) là một loài linh dương lớn phân bố rộng rãi tại châu Phi hạ Sahara. Loài này thuộc chi Kobus của họ Bovidae. Loài này được mô tả lần đầu tiên bởi nhà tự nhiên học người Ireland William Ogilby năm 1833. Có 13 phân loài được phân nhóm theo hai loại: Linh dương nước thông thường (hay còn gọi Linh dương nước Ellipsen) và Linh dương nước Defassa. Chiều dài đầu đến hết thân thường giữa 177–235 cm (70–93 in) và chiều cao trung bình là khoảng giữa 120 và 136 cm (47 và 54 in). Linh dương nước lưỡng hình giới tính, con đực cao hơn cũng như nặng hơn so với con cái. Linh dương đực bờ vai cao xấp xỉ 127 cm (50 in), trong khi linh dương cái cao khoảng 119 cm (47 in). Con đực thường nặng 198–262 kg (437–578 lb) và con cái 161–214 kg (355–472 lb). Bộ lông khác nhau từ màu nâu sang màu xám. Sừng dài, xoắn ốc, chỉ xuất hiện trên đầu linh dương đực, cong ngược về sau, sau đó cong về phía trước và dài 55–99 cm (22–39 in).

Linh dương nước khá ít vận động trong tự nhiên. Một loài động vật sống thành bầy, linh dương nước có thể tụ tập thành bầy gồm 6 đến 30 cá thể. Các bầy này là hoặc là bầy nuôi con với linh dương và con non của chúng, hoặc là linh dương đực đơn thân. Con đực bắt đầu chiếm lãnh thổ khi 5 tuổi, nhưng ưu thế nhất với độ tuổi từ 6 đến 9. Linh dương nước không thể chịu đựng được sự mất nước trong thời tiết nóng, và do đó vùng sinh sống luôn gần nguồn nước. Chủ yếu là loài ăn cỏ, linh dương nước được tìm thấy trên đồng cỏ là nhiều nhất. Tại miền xích đạo, giao phối diễn ra trong suốt cả năm, nhưng sinh sản đỉnh điểm trong mùa mưa. Thai kỳ kéo dài từ 7 đến 8 tháng, sinh duy nhất 1 con non.

Linh dương nước sinh sống tại rừng cây bụixavan dọc sông, hồ và thung lũng. Do nhu cầu với đồng cỏ cũng như nước, linh dương phân phối chuyển tiếp sinh thái thưa thớt. IUCN liệt kê linh dương nước là loài ít quan tâm. Cụ thể hơn, Linh dương nước thông thường được liệt kê là loài ít quan tâm trong khi Linh dương nước Defassa được liệt kê là loài sắp bị đe dọa. Xu hướng số lượng của cả 2 nhóm giảm xuống, đặc biệt là về sau, với quần thể lớn bị loại bỏ khỏi nơi cư trú nhất định do săn bắn và con người làm xáo trộn.

Phân loại và nguyên từ[sửa | sửa mã nguồn]

Mô tả của Rüppell về linh dương nước nhóm Defassa (1835)
Linh dương nước, con đực

Danh pháp hai phần của linh dương nước là Kobus ellipsiprymnus. Linh dương nước là 1 trong 6 loài của chi Kobus và thuộc họ Bovidae. Loài này được mô tả lần đầu tiên bởi nhà tự nhiên học người Ireland William Ogilby năm 1833. Tên chi Kobus là 1 từ trong tân ngữ Latin, xuất xứ từ tên gọi trong tiếng châu Phi, koba. Tên riêng loài ellipsiprymnus đề cập đến vòng hình e-lip màu trắng trên mông,[2] nguồn gốc từ tiếng Hi Lạp ellipes (ellipse) và prymnos (prumnos, phần phía sau).[3] Tên bản xứ của loài này "waterbuck" (linh dương nước) do bởi sự phụ thuộc quá lớn vào nước so với các loài linh dương khác và khả năng hòa nhập vào nước để phòng ngự.[4]

Loại mẫu vật của linh dương nước được thu thập bởi nhà thám hiểm Nam Phi Andrew Steedman năm 1832. Mẫu vật này được đặt tên Antilope ellispiprymnus bởi Ogilby năm 1833. Loài này đã được chuyển vào chi Kobus năm 1840, trở thành K. ellipsiprymnus. Chúng thường được gọi là linh dương nước thông thường. Năm 1835, nhà tự nhiên học người Đức Eduard Rüppell thu thập mẫu vật khác, khác với mẫu của Steedman là có một chiếc vòng màu trắng nổi bật trên mông của loài. Xem như một loài riêng biệt, Rüppell đặt tên theo tiếng Amhara là Linh dương nước "defassa", tên khoa học Antilope defassa.[2] Tuy nhiên, phân loại học hiện đại, xem xét Linh dương nước thông thường và Linh dương nước Defassa là một loài duy nhất, K. ellipsiprymnus, đưa ra số lượng lớn các trường hợp của sự lai giống giữa hai nhóm.[2] Giao phối giữa hai nhóm diễn ra trong Vườn quốc gia Nairobi do sự chồng chéo rộng lớn của môi trường sống.[5]

Flickr - ggallice - Waterbuck.jpg
K. e. ellipsiprymnus
K. e. defassa
Hình elip màu trắng trên mông của Linh dương nước nhóm thông thường
Mảng lông trắng trên mông của Linh dương nước nhóm Defassa

Tiến hóa[sửa | sửa mã nguồn]

Không nhiều hóa thạch của linh dương nước được tìm thấy. Hóa thạch rất hiếm tại cái nôi của nhân loại, chỉ phát hiện tại một vài điểm nhỏ của Swartkrans.[6] Trên cơ sở của thuyết Valerius Geist về mối quan hệ của xã hội tiến hóa và sự phân tán của các loài có móng guốc suốt thế Pleistocen,[7] tổ tiên của linh dương nước được xét tại bờ biển phía đông của châu Phi - Sừng Châu Phi về phía bắc và Đới tách giãn Đông Phi về phía tây.[2]

Phân loài[sửa | sửa mã nguồn]

37 phân loài của linh dương nước được ghi nhận ban đầu trên cơ sở màu lông màu. Chúng được phân thành hai nhóm: nhóm Linh dương nước Ellipsen và nhóm Linh dương nước Defassa. Do số lượng lớn các biến thể trong màu lông ở nhóm Linh dương nước Defassa, cũng nhiều như 29 phân loài đã được bao gồm trong nó; nhóm Linh dương nước Ellipsen bao gồm 8 phân loài. Trong năm 1971, tuy nhiên, số lượng phân loài được giảm xuống còn 13 (4 cho nhóm Linh dương nước Ellipsen và 9 cho nhóm Linh dương nước Defassa). Mặc dù linh dương sống tốt ở Zambia, phạm vi của chúng được phân cách bởi đặc điểm địa hình hoặc bởi các vách đá dựng đứng tại tỉnh Muchinga.[8] Những phân loài được liệt kê dưới đây (cùng với ghi chú về những phân loài trước đây đã được kết hợp lại thành một phân loài duy nhất):[2][9]

  • Nhóm K. e. ellipsiprymnus (Linh dương nước Ellipsen hoặc Linh dương nước thông thường): tìm thấy tại đông nam châu Phi, từ miền nam Somalia đến KwaZulu-Natal (Nam Phi) và vùng nội địa đến Gregory Rift và Botswana. Bao gồm bốn phân loài sau đây:
    • K. e. ellipsiprymnus Ogilby, 1833
    • K. e. kondensis Matschie, 1911 (bao gồm K. e. lipuwa, K. e. kulu)
    • K. e. pallidus Matschie, 1911
    • K. e. thikae Matschie, 1910 (bao gồm K. e. kuruK. e. canescens)
  • Nhóm K. e. defassa (Linh dương nước Defassa): tìm thấy tại phía tây Gregory Rift, từ phía tây Ethiopia đến Senegal và phía nam đến Zambia. Bao gồm chín phân loài sau đây:
    • K. e. adolfi-friderici Matschie, 1906 (bao gồm K. e. fulvifrons, K. e. nzoiaeK. e. raineyi)
    • K. e. annectens Schwarz, 1913 (bao gồm K. e. schubotzi)
    • K. e. crawshayi P. L. Sclater, 1894 (bao gồm K. e. uwendensis, K. e. frommiK. e. münzneri)
    • K. e. defassa Rüppell, 1835 (bao gồm K. e. matschieiK. e. hawashensis)
    • K. e. harnieri Murie, 1867 (bao gồm K. e. avellanifrons, K. e. ugandae, K. e. dianae, K. e. ladoensis, K. e. cottoni, K. e. breviceps, K. e. albertensisK. e. griseotinctus)
    • K. e. penricei W. Rothschild, 1895
    • K. e. tjäderi Lönnberg, 1907 (bao gồm K. e. angusticepsK. e. powelli)
    • K. e. tschadensis Schwarz, 1913
    • K. e. unctuosus Laurillard, 1842 (bao gồm K. e. togoensis)

Mô tả[sửa | sửa mã nguồn]

Kobus ellipsiprymnus.jpg
Waterbuck (8219716200).jpg
Waterbuck (Kobus ellipsiprymnus) (6005246477).jpg

Linh dương nước lớn nhất trong 6 loài thuộc chi Kobus.[2] Đây là một loài linh dương lưỡng hình giới tính với con đực cao hơn gần 7 % so với con cái và dài hơn khoảng 8 %.[2] Chiều dài từ đầu đến hết thân thường giữa 177–235 cm (70–93 in) và chiều cao trung bình khoảng giữa 120 và 136 cm (47 và 54 in).[10] Con đực có bờ vai cao xấp xỉ 127 cm (50 in), trong khi con cái khoảng 119 cm (47 in). Linh dương nước là 1 trong những loài linh dương nặng nhất. 1 con non sơ sinh thường nặng 13,6 kg (30 lb), và tăng trưởng về trọng lượng ở linh dương đực nhanh hơn so với linh dương cái.[2] Con đực thường nặng 198–262 kg (437–578 lb) và con cái 161–214 kg (355–472 lb).[11] Đuôi dài khoảng 22–45 cm (8,7–17,7 in).[3]

Linh dương nước có một thân hình cường tráng. Bộ lông xù có màu nâu hung đỏ đến màu xám, và dần dần trở nên tối hơn theo tuổi tác. Con đực vẫn sẫm màu hơn so với con cái.[12] Mặc dù nhìn bên ngoài khá dày, lông thưa thớt trên da. Tuy nhiên, lông trên cổ dài và xù xì. Khi bị kích thích tình dục, da linh dương tiết ra một chất nhờn có mùi xạ hương, đem lại cho chúng cái tên "greasy kob" (linh dương nhờn).[2][11] Chất tiết này cũng hỗ trợ cách nhiệt trong nước cho cơ thể khi con vật lặn xuống nước.[12] Đặc điểm khuôn mặt gồm một mõm trắng, lông mày sáng và vệt sáng cạnh 2 lỗ tai. Có một mảng màu kem (gọi là "Yếm") trên cổ họng. Linh dương nước đặc trưng bởi một cái cổ dài và 4 chân ngắn, mạnh mẽ và có màu đen.[3][10] Con cái có hai núm vú.[8] Tuyến trước ổ mắt, tuyến bàn chân và tuyến bẹn không có.[13]

Linh dương nước nhóm thông thường và Linh dương nước nhóm Defassa khác nhau đáng kể trong nhiều kết cấu vật lý. Các phép đo cho thấy chiều dài đuôi lớn hơn về sau, trong khi Linh dương nước nhóm thông thường đứng cao hơn Linh dương nước nhóm defassa.[14] Tuy nhiên, sự khác biệt chính giữa hai nhóm là chiếc vòng màu trắng của phần lông xung quanh đuôi trên mông, đó là một vòng tròn rỗng của Linh dương nước nhóm thông thường nhưng bao phủ bởi lông trắng ở Linh dương nước nhóm Defassa.[11]

Cặp sừng dài, xoắn ốc, cong ngược về sau, sau đó cong về phía trước. Chỉ con đực mới có sừng, sừng dài từ 55 đến 99 cm (22 đến 39 in).[11] Ở một mức độ, chiều dài của sừng là liên quan đến tuổi tác của con đực. Một chiếc sừng thô trong hình dạng một cục xương có thể được tìm thấy trên hộp sọ của con cái.[12]

Sinh thái và hành vi[sửa | sửa mã nguồn]

Đàn linh dương cái tại vườn quốc gia Samburu (Kenya)
Cận cảnh sừng linh dương đực
Giải phẫu sừng linh dương đực

Linh dương nước khá ít vận động trong tự nhiên, mặc dù có một số di cư có thể diễn ra vào đầu mùa mưa. Là 1 loài động vật sống thành bầy, linh dương có thể sống thành bầy gồm 6 đến 30 cá thể. Các đàn khác nhau có đàn nuôi con, đàn con đực đơn thân và con đực chiếm lãnh thổ. Số cá thể trong đàn tăng vào mùa hè, trong khi các bầy đàn phân tán trong những tháng mùa đông, có lẽ do ảnh hưởng của thức ăn sẵn có.[15] Ngay sau khi linh dương đực bắt đầu phát triển sừng (khoảng 7 đến 9 tháng tuổi), chúng bị đuổi ra khỏi đàn của lãnh thổ con trưởng thành. Các con đực sau đó tạo thành những đàn linh dương đực đơn thân và có thể đi lang thang trong các dãy lãnh địa con cái.[3] Các con cái có dãy lãnh địa kéo dài trên 200–600 hécta (0,77–2,32 sq mi; 490–1.480 mẫu Anh). Một vài linh dương cái có thể sống thành những đàn con cái đơn thân.[16] Mặc dù linh dương cái hiếm khi hung dữ, nhưng căng thẳng nhỏ có thể phát sinh trong đàn.[14]

Linh dương đực bắt đầu thể hiển hành vi chiếm lãnh thổ từ khi 5 tuổi, nhưng chiếm ưu thế nhất với độ tuổi từ 6 đến 9. Con đực giữ lãnh thổ khoảng 4–146 hécta (0,015–0,564 sq mi; 9,9–360,8 mẫu Anh). Con đực có xu hướng vẫn định cư tại lãnh địa của chúng, mặc dù thời gian chúng có thể rời khỏi lãnh địa lâu hơn so với những con đực có nhiều chỗ. Đánh dấu các vùng lãnh địa không cần nghi thức phức tạp - thỉnh thoảng tưới phân và nước tiểu.[16] Sau 10 năm tuổi, con đực mất lãnh thổ tự nhiên của chúng và thay thế bằng một con đực trẻ hơn, theo sau đó chúng lùi tới một khu vực nhỏ và không được bảo vệ.[14] Có một nhóm xã hội, những con đực có tính vệ tinh, đó là con đực trưởng thành mà không có lãnh thổ của mình, những cá thể khai thác tài nguyên, đặc biệt là cơ hội giao phối, ngay cả trong sự hiện diện của những con đực chiếm ưu thế. Con đực chiếm lãnh thổ có thể cho phép một vài con đực vệ tinh vào lãnh thổ của mình, và chúng có thể đóng góp cho sự phòng vệ của con đực đó. Tuy nhiên, dần dần chúng có thể tước đoạt lãnh thổ của chủ sở hữu thực tế và chiếm khu vực đó cho mình. Một nghiên cứu trong Vườn quốc gia hồ Nakuru, chỉ có 7 % linh dương đực trưởng thành tổ chức lãnh thổ, và chỉ có một nửa số con đực giành lãnh thổ đó dung nạp một hoặc nhiều con đực vệ tinh.[17][18]

Con đực chiếm lãnh thổ có thể sử dụng một số loại phô bày. Trong một loại phô bày, mảng trắng trên cổ họng và giữa hai mắt để lộ ra rõ ràng, và dạng phô bày khác có khả năng chứng minh độ dày của cổ. Những hoạt động này làm hoảng sợ xâm phạm. Hạ thấp đầu và cơ thể được trưng ra trước con đực giữ lãnh thổ, con linh dương đang đứng thẳng.[8] Các trận đánh, có thể kéo dài đến 30 phút, liên quan đến mối đe dọa phô bày đặc thù của loài nhai lại kèm theo thở mạnh.[16] Các trận đánh thậm chí có thể trở nên bạo lực, một trong những đối thủ gặp cái chết do vết thương nặng ở bụng hoặc ngực.[11] Là một loài động vật trầm lặng, linh dương nước sử dụng flehmen phản ứng cho sự truyền đạt thị giác và báo động bằng tiếng kịt mũi cho sự truyền thanh. Linh dương nước thường hòa vào nước để trốn thoát khỏi những kẻ săn mồi, như sư tử, báo hoa mai, báo săn, chó hoang châu Phicá sấu sông Nin (báo hoa và linh cẩu đốm săn con non).[14] Tuy nhiên, quan sát thấy rằng linh dương nước không đặc biệt yêu thích ngâm mình trong nước.[19] Linh dương nước có thể chạy vào bụi rậm khi báo động, con đực thường tấn công kẻ thù.[11]

Bệnh và ký sinh trùng[sửa | sửa mã nguồn]

Linh dương nước dễ mắc các chứng viêm loét, nhiễm giun ở phổisỏi thận. Triệu chứng khác từ những con vật bị lở mồm long móng, sốt sindbis, sốt vàng, bệnh bluetongue, vi rút tiêu chảy ở bò, bệnh brucellosisbệnh than.Linh dương nước có khả năng chống dịch tả trâu bò hơn các loài linh dương khác. Chúng không bị ảnh hưởng bởi ruồi xê xê nhưng bọ ve có thể dẫn đến ký sinh protozoa như Theileria parva, Anaplasma marginaleBaberia bigemina. 27 loài ve (ký sinh) được tìm thấy trên linh dương nước - một cá thể khỏe mạnh có thể mang tổng cộng hơn 4000 ve trong giai đoạn ấu trùng hoặc nhộng, phổ biến nhất trong số đó là Amblyomma cohaerensRhipicephalus tricuspis . Ký sinh trùng nội bộ tìm thấy trong linh dương nước bao gồm Cestoda, liverflukes, stomachflukes và một số helminths.[14][20]

Khẩu phần[sửa | sửa mã nguồn]

Linh dương gặm cỏ bên bờ sông

Linh dương nước thể hiện sự phụ thuộc vào nước. Loài này không thể chịu đựng được sự mất nước trong thời tiết nóng, và do đó sinh sống tại khu vực gần nguồn nước. Tuy nhiên, quan sát thấy rằng không giống như các thành viên khác cùng chi (chẳng hạn như KobPuku), linh dương nước có phạm vi xa hơn vào rừng trong khi vẫn duy trì sự gần gũi với nước.[19] Cỏ chiếm đáng kể 70 đến 95 % của khẩu phần ăn, linh dương nước chủ yếu là loài thường xuyên lui tới đồng cỏ. Sậy và cói như các loài TyphaPhragmites cũng rất được ưa thích.[14] Một nghiên cứu cho thấy linh dương tiêu thụ thường xuyên ba loài cỏ quanh năm là: Panicum anabaptistum, Echinochloa stagninaAndropogon gayanus. Hyparrhenia involucrata, Acroceras amplectensOryza barthii cùng với các loài hàng năm là sở thích chính vào đầu mùa mưa, trong khi những loại cỏ sống lâu và thức ăn từ cây xanh chiếm ba phần tư khẩu phần trong mùa khô.[21]

Mặc dù linh dương nước nhóm defassa cho thấy có một nhu cầu lớn hơn nhiều về protein so với trâu rừng châu Philinh dương sừng thẳng Đông Phi, linh dương nước ít dành thời gian cho chồi non (ăn lá, cành cây nhỏ và trái cây) so với loài ăn cỏ khác. Vào mùa khô khoảng 32 % trong 24 giờ trong ngày đã được chi tiêu bằng chồi non, trong khi thời gian không chi trong suốt mùa mưa. Sự lựa chọn cỏ các loại khác nhau về vị trí hơn thứ sẵn có; Ví dụ, ở miền tây Uganda, trong khi Sporobolus pyramidalis được ưa chuộng ở một số nơi, Themeda triandra là sự lựa chọn chính ở nơi khác. Linh dương cả 2 nhóm trong cùng khu vực có thể có sự khác biệt trong sự lựa chọn; quan sát thấy rằng trong khi loại cỏ ưa thích trước kia Heteropogon contortusCynodon dactylon, về sau càng ít ưu tiên cho loại cỏ đó.[14]

Sinh sản[sửa | sửa mã nguồn]

Con cái và con non

Linh dương nước chậm hơn so với loài linh dương khác về tỷ lệ của sự trưởng thành.[11] Trong khi linh dương đực động dục khi 6 tuổi, linh dương cái trong khoảng 2 đến 3 năm.[10] Linh dương cái có thể thụ thai khoảng 2 tuổi rưỡi, và vẫn sinh sản thêm trong 10 năm kế tiếp[14]. Tại khu vực xích đạo, sinh sản diễn ra trong suốt cả năm, và sinh con vào đỉnh điểm trong mùa mưa. Tuy nhiên, sinh sản theo mùa tại Sudan (phía nam Sa mạc Sahara), với mùa giao phối kéo dài 4 tháng. Mùa kéo dài trong thời gian lâu hơn ở một số vùng miền nam châu Phi. Động dục ở động vật cái kéo dài trong một ngày hoặc ít hơn.[11]

Giao phối bắt đầu sau khi con đực khẳng định rằng con cái đang động dục, chúng xác nhận bằng cách đánh hơi âm hộ và nước tiểu. Một con cái chống lại sẽ cố gắng cắn hoặc thậm chí đánh lại con đực đó. Con đực thể hiện flehmen, và thường liếm cổ con cái và xoa khuôn mặt của mình và dùng sừng chống lại con cái đó. Có nhiều nỗ lực gắn kết trước khi giao hợp thực sự. Con cái vẩy đuôi sang một bên, trong khi con kẹp chặt bên cạnh với chân trước và nằm trên lưng khi giao phối, có thể xảy ra nhiều khoảng mười lần.[8][11]

Thai kỳ kéo dài từ bảy đến tám tháng, sinh ra một con non duy nhất. Sinh đôi rất hiếm. Linh dương cái mang thai cách ly và sinh con trong bụi rậm. Linh dương sơ sinh có thể tự đứng trên đôi chân của mình trong vòng nửa giờ đầu sau sinh.[10] Linh dương mẹ ăn sau khi sanh. Nó liên lạc với con non bằng tiếng kêu be be hoặc tiếng khịt mũi.[8] Linh dương non được giấu kín trong 2 đến 3 tuần hoặc thậm chí hai tháng. Vào khoảng 3 đến 4 tuần, con non bắt đầu theo sau mẹ nó, linh dương cái báo hiệu nó làm như vậy bằng cách nâng cái đuôi của mình lên. Mặc dù không có sừng, linh dương mẹ sẽ quyết liệt bảo vệ con non khỏi các kẻ thù. Con non được cai sữa lúc tám tháng, sau thời gian đó chúng nhập nhóm linh dương non theo tuổi riêng.[11] Con cái trẻ ở lại với mẹ trong đàn nuôi con, hoặc cũng có thể tham gia các đàn con đực đơn thân.[8] Linh dương nước sống đến 18 năm trong tự nhiên và 30 năm trong môi trường nuôi nhốt.[14]

Phân bố và môi trường sống[sửa | sửa mã nguồn]

Linh dương sống ở đồng cỏ gần nước

Linh dương nước có nguồn gốc ở miền nam và miền đông châu Phi (bao gồm các nước như Angola, Botswana, Cộng hòa Dân chủ Congo, Ethiopia, Kenya, Namibia, South Africa, TanzaniaUganda) bên cạnh một số ít quốc gia ở phía tây và phía bắc châu Phi như Chad, Côte d'Ivoire, Ghana, Mali, Niger, NigeriaSenegal. Mặc dù trước đây phổ biến ở châu Phi hạ Sahara, số lượng hiện nay đã giảm ở hầu hết các khu vực.[1]

Linh dương nước nhóm thông thường được tìm thấy phía đông của Đới tách giãn Đông Phi. Phạm vi phía nam kéo dài đến khu bảo tồn Hluhluwe-Umfolozi (KwaZulu-Natal) và đến trung Namibia. Ngược lại, linh dương nước nhóm defassa cư trú ở phía Tây và Trung Phi. Linh dương nhóm defassa cư trú ở phía tây Đới tách giãn Albertine và khoảng từ Eritrea đến Guinea Bissau phía nam Sahel, điểm cực bắc phạm vi phân bố ở miền nam Mali. Phạm vi cũng trải dài về phía đông của bồn địa Congo xuyên suốt Zambia vào trong Angola, trong khi một chi nhánh khác kéo dài đến sông Zaire phía tây của bồn địa Congo. Khi linh dương nhóm thông thường hiện đã tuyệt chủng tại Ethiopia, nhóm defassa đã tuyệt chủng ở Gambia.[1]

Linh dương sống tại rừng cây bụi và xavan dọc theo sông, hồ và thung lũng.[12] Do nhu cầu với đồng cỏ cũng như nước, linh dương nước phân bố thưa thớt dọc chuyển tiếp sinh thái (vùng miền giao diện giữa hai hệ sinh thái khác nhau). Một nghiên cứu tại dãy núi Ruwenzori cho thấy mật độ trung bình của linh dương nước là 5,5 cho mỗi dặm vuông, và ước tính tại Maasai Mara là nhỏ nhất chỉ 1,3 cho mỗi dặm vuông. Quan sát cho biết rằng kích thước lãnh thổ phụ thuộc vào chất lượng của môi trường sống, tuổi tác và sức khỏe của con vật và mật độ số lượng. Sự lớn của tuổi động vật hoặc sự dày đặc của quần thể, độ nhỏ tại những vùng lãnh thổ. Trong vườn quốc gia nữ hoàng Elizabeth, linh dương cái phân bố theo dãy khoảng 21–61 hécta (0,081–0,236 sq mi; 52–151 mẫu Anh) trong khu vực trong khi dãy phân bố cho linh dương đực đơn thân trung bình khoảng giữa 24–38 hécta (0,093–0,147 sq mi; 59–94 mẫu Anh). Linh dương cái lớn tuổi nhất (khoảng 18 tuổi) có dãy phân bố nhỏ nhất.[11]

Sự đe dọa và bảo tồn[sửa | sửa mã nguồn]

Tại vườn quốc gia Pilanesberg
Tại Kenya

IUCN liệt kê linh dương nước là loài ít quan tâm. Cụ thể hơn, linh dương nước nhóm thông thường được liệt kê là loài ít quan tâm trong khi linh dương nước nhóm defassa là loài sắp bị đe dọa. Xu hướng số lượng cho cả 2 nhóm đang giảm dần, đặc biệt về sau, có quần thể lớn bị loại bỏ khỏi môi trường sống do bị săn bắt và sự xâm phạm của con người. Tính chất ít vận động trong thiên nhiên của loài chịu trách nhiệm khá lớn cho mức độ này. Con số đã giảm xuống trong Công viên Quốc gia Queen Elizabeth, Vườn quốc gia Murchison Falls, Công viên quốc gia Akagera, Công viên Quốc gia hồ Nakuru, và Vườn quốc gia Comoé.[1] Giảm số lượng ở Vườn Quốc gia Hồ Nakuru đã được quy cho việc ngộ độc kim loại nặng của động vật. Trong khi cadmiumchì ở mức nguy hiểm cao trong thận và gan, đồng, canxiphotpho thiếu hụt cũng được ghi nhận.[22]

Hơn 60 % quần thể linh dương nước nhóm defassa phát triển mạnh trong khu vực bảo vệ, đáng chú ý nhất trong Niokolo-Koba, Comoe, Mole, Bui, Pendjari, Manovo-Gounda St. Floris, Moukalaba-Doudou, Garamba, Virunga, Omo, Mago, Murchison Falls, Serengeti, và Katavi, Kafue và công viên quốc gia nữ hoàng Elizabeth, vườn quốc gia và khu săn bắn ở North Province (Cameroon), Ugalla River Forest Reserve, Nazinga Game Ranch, Rukwa Valley, Thung lũng sông Awash, MuruleArly-Singou. Linh dương nước thông thường cư trú tại Tsavo, Tarangire, Mikumi, Kruger và vườn quốc gia hồ Nakuru, Laikipia, Kajiado, Luangwa Valley, Selous và khu bảo tồn thú săn Hluhluwe-Umfolozi và đất tư nhân tại Nam Phi.[1][14]

Nghiên cứu[sửa | sửa mã nguồn]

Các nhà khoa học với ICIPE đã phát triển vòng cổ trừ sâu bọ - ruồi xê xê cho gia súc dựa vào mùi của linh dương nước.[23]

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ a ă â b c IUCN SSC Antelope Specialist Group (2008). Kobus ellipsiprymnus. Sách đỏ IUCN các loài bị đe dọa. Phiên bản 2010.4. Liên minh Bảo tồn Thiên nhiên Quốc tế. Truy cập ngày 15 tháng 6 năm 2011.  Database entry includes justification for why this species is listed as Least concern.
  2. ^ a ă â b c d đ e ê Spinage, C.A. (1982). A Territorial Antelope: The Uganda Waterbuck. London: Academic Press. tr. 4–6, 10, 18–19, 56–63. ISBN 0-12-657720-X. 
  3. ^ a ă â b Huffman, B. “Waterbuck”. Ultimate Ungulate. Truy cập ngày 21 tháng 3 năm 2014. 
  4. ^ Taylor, C.R.; Spinage, C.A.; Lyman, C.P. (1969). “Water relations of the waterbuck, an East African antelope”. The American Journal of Physiology 217 (2): 630–4. PMID 5799396. 
  5. ^ Lorenzen, E. D.; Simonsen, B. T.; Kat, P. W.; Arctander, P.; Siegismund, H. R. (ngày 14 tháng 8 năm 2006). “Hybridization between subspecies of waterbuck (Kobus ellipsiprymnus) in zones of overlap with limited introgression”. Molecular Ecology 15 (12): 3787–99. doi:10.1111/j.1365-294X.2006.03059.x. 
  6. ^ Hilton-Barber, B.; Mbeki, L. R. B. (2004). Field Guide to the Cradle of Humankind: Sterkfontein, Swartkrans, Kromdraai & Environs World Heritage Site (ấn bản 2). Cape Town: Struik. tr. 171. ISBN 1-77007-065-6. 
  7. ^ Geist, V. “The relation of social evolution and dispersal in ungulates during the Pleistocene, with emphasis on the old world deer and the genus Bison”. Quaternary Research 1 (3): 285–315. doi:10.1016/0033-5894(71)90067-6. 
  8. ^ a ă â b c d Skinner, J. D.; Chimimba, Christian T. (2005). The Mammals of the Southern African Subregion (ấn bản 3). Cambridge: Cambridge University Press. tr. 681–2. ISBN 0521844185. 
  9. ^ Wilson, D. E.; Reeder, D. M. biên tập (2005). Mammal Species of the World . Baltimore: Nhà in Đại học Johns Hopkins, 2 tập (2.142 trang). tr. 720. ISBN 978-0-8018-8221-0. OCLC 62265494. 
  10. ^ a ă â b Newell, T. L. Kobus ellipsiprymnus (Waterbuck)”. University of Michigan Museum of Zoology. Animal Diversity Web. Truy cập ngày 21 tháng 3 năm 2014. 
  11. ^ a ă â b c d đ e ê g h Estes, R. D. (2004). The Behavior Guide to African Mammals: Including Hoofed Mammals, Carnivores, Primates (ấn bản 4). Berkeley: University of California Press. tr. 107–11. ISBN 0-520-08085-8. 
  12. ^ a ă â b Kingdon, J. (1989). East African Mammals: An Atlas of Evolution in Africa. Chicago: University of Chicago press. tr. 385–91. ISBN 0-226-43724-8. 
  13. ^ Groves, Colin; Grubb, Peter (2011). Ungulate taxonomy. Baltimore, Md.: Johns Hopkins University Press. tr. 195. ISBN 1-4214-0093-6. 
  14. ^ a ă â b c d đ e ê g Kingdon, J.; Hoffman, M. Mammals of Africa (Volume VI): Hippopotamuses, Pigs, Deer, Giraffe and Bovids. Bloomsbury. tr. 461–8. 
  15. ^ Melton, D. A. (1978). Ecology of waterbuck Kobus ellipsiprymnus (Ogilby, 1833) in the Umfolozi Game Reserve. Pretoria: University of Pretoria. 
  16. ^ a ă â Spinage, C. A. (2010). “Territoriality and social organization of the Uganda defassa waterbuck Kobus defassa ugandae”. Journal of Zoology 159 (3): 329–61. doi:10.1111/j.1469-7998.1969.tb08452.x. 
  17. ^ Wirtz, P. “Territorial defence and territory take-over by satellite males in the waterbuck Kobus ellipsiprymnus (Bovidae)”. Behavioral Ecology and Sociobiology 8 (2): 161–2. doi:10.1007/BF00300830. 
  18. ^ Wirtz, P. (2010). “Territory holders, satellite males and bachelor males in a high density population of waterbuck (Kobus ellipsiprymnus) and their associations with conspecifics”. Zeitschrift für Tierpsychologie 58 (4): 277–300. doi:10.1111/j.1439-0310.1982.tb00322.x. 
  19. ^ a ă Nowak, R. M. (1999). Walker's Mammals of the World (Volume 1) (ấn bản 6). Baltimore: Johns Hopkins University Press. tr. 1166–70. ISBN 0-8018-5789-9. 
  20. ^ Groocock, C.M.; Staak, C. (1969). “The isolation of Brucella abortus from a waterbuck (Kobus ellipsiprymnus)”. The Veterinary Record 85 (11): 318. PMID 4980299. 
  21. ^ Kassa, B.; Libois, R.; Sinsin, B. “Diet and food preference of the waterbuck in the Pendjari National Park, Benin”. African Journal of Ecology 46 (3): 303–10. doi:10.1111/j.1365-2028.2007.00827.x. 
  22. ^ Jumba, I. O.; Kisia, S. M.; Kock, R. (2006). “Animal health problems attributed to environmental contamination in Lake Nakuru National Park, Kenya: A case study on heavy metal poisoning in the waterbuck Kobus ellipsiprymnus defassa (Ruppel 1835)”. Archives of Environmental Contamination and Toxicology 52 (2): 270–81. doi:10.1007/s00244-005-0241-2. 
  23. ^ Ali, Laila (ngày 15 tháng 1 năm 2013). “How the stink of a waterbuck could prevent sleeping sickness in Kenya”. The Guardian (Mombasa). Truy cập ngày 12 tháng 3 năm 2015. 

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]