Linh dương lớn Trung Phi

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Linh dương lớn Trung Phi
Western Derby Eland (Taurotragus derbianus derbianus) 3 crop.jpg
T. d. derbianus
Tình trạng bảo tồn
Phân loại khoa học
Giới (regnum) Animalia
Ngành (phylum) Chordata
Lớp (class) Mammalia
Bộ (ordo) Artiodactyla
Họ (familia) Bovidae
Phân họ (subfamilia) Bovinae
Chi (genus) Taurotragus
Loài (species) T. derbianus
Danh pháp hai phần
Taurotragus derbianus
(J.E. Gray, 1847)[2]
Phân loài
  • T. d. derbianus
  • T. d. gigas
Danh pháp đồng nghĩa

Linh dương lớn Trung Phi (danh pháp hai phần: Taurotragus derbianus, tiếng Anh: Giant eland) là một loài một loài động vật có vú trong họ Bovidae, bộ Artiodactyla. Chúng được mô tả lần đầu năm 1847 bởi John Edward Gray[2], là loài trâu bò lớn nhất với thân dài từ 220–290 cm (87–114 in).

Là một động vật ăn cỏ, linh dương lớn Trung Phi không phải là loài chiếm lãnh thổ riêng, và có phạm vi nơi ở lớn. Chúng cảnh giác và thận trọng một cách tự nhiên khiến cho chúng khó tiếp cận và quan sát. Linh dương lớn Trung Phi có thể chạy với tốc độ lên tới 70 km/h và sử dụng tốc độ này như là một sự bảo vệ chống lại động vật ăn thịt. Giao phối diễn ra trong suốt cả năm, nhưng đỉnh điểm là trong mùa mưa. Chúng chủ yếu sinh sống ở thảo nguyên và rừng và tràng lá rộng.

Linh dương lớn Trung Phi có nguồn gốc Cameroon, Cộng hòa Trung Phi, Chad, Cộng hòa Dân chủ Congo, Guinea, Mali, Senegal, Nam Sudan. Nó không còn hiện diện trong Gambia, Ghana, Bờ Biển Ngà, Togo. Sự hiện diện của nó là không chắc chắn trong Nigeria, Guinea-Bissau, Uganda. Phân loài đã được liệt kê với các trạng thái bảo tồn khác nhau bở Liên minh Quốc tế Bảo tồn Thiên nhiên (IUCN).

Phân loại[sửa | sửa mã nguồn]

Phân loài T. d. gigasVườn thú và bách thảo Cincinnati

Linh dương lớn Trung Phi được mô tả lần đầu năm 1847 bởi nhà động vật học người Anh John Edward Gray dưới tên Boselaphus derbianus.[3] Đương thời, nó được gọi là 'black-necked eland' và Gingi-ganga.[4]

Linh dương lớn Trung Phi được đặt trong chi Taurotragus, cùng với linh dương thường Đông Phi (T. oryx), nó đôi khi được xem là phần của chi Tragelaphus theo phát sinh loài phân tử. Linh dương lớn Trung Phi và linh dương thường Đông Phi của chi Taurotragus kết hợp với chi Tragelaphus tạo nên tông Tragelaphini.[5] Du vài tác giả, như Theodor Haltenorth, xem hai loài Taurotragus là đồng nghĩa, chúng thường được tách riêng.[3]

Hai phân loài được công nhận:[1][6][7]

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ a ă IUCN SSC Antelope Specialist Group (2008). Tragelaphus derbianus. 2008 IUCN Red List of Threatened Species. IUCN 2008. Truy cập ngày ngày 29 tháng 3 năm 2009. Database entry includes a brief justification of why this species is of least concern.
  2. ^ a ă Wilson, D. E.; Reeder, D. M. biên tập (2005). Taurotragus derbianus. Mammal Species of the World . Baltimore: Nhà in Đại học Johns Hopkins, 2 tập (2.142 trang). ISBN 978-0-8018-8221-0. OCLC 62265494. 
  3. ^ a ă â Bản mẫu:MSW3 Artiodactyla
  4. ^ Gray, J. E. (ngày 1 tháng 10 năm 1847). “Description of a new species of Antelope from West Africa”. Journal of Natural History Series 1 20 (133): 286–286. doi:10.1080/037454809496047. 
  5. ^ Pappas, L. A.; Anderson, Elaine; Marnelli, Lui; Hayssen, Virginia (2002). Taurotragus oryx (PDF). Mammalian Species (American Society of Mammalogists) 689: 1–5. doi:10.1644/1545-1410(2002)689<0001:TO>2.0.CO;2. 
  6. ^ Hildyard, A (2001). “Eland” (PDF). Trong Anne Hildyard. Endangered wildlife and plants of the world. Marshall Cavendish. tr. 501–503. ISBN 0-7614-7198-7. 
  7. ^ East, comp. by Rod; Group, the IUCN/SSC Antelope Specialist (1999). African antelope database 1998. IUCN Species Survival Commission. tr. 143–148. ISBN 2-8317-0477-4. 

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]