Park Chu-Young

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Park Chu-Young
Thông tin cá nhân
Chiều cao 1,82 m (5 ft 11 12 in)[Chuyển đổi: Số không hợp lệ]
Vị trí Tiền đạo cắm
Thông tin về CLB
CLB hiện nay
FC Seoul
Số áo 9
CLB trẻ
2001 Cheonggu High School
2002 Zico Football Center
2003 Cheonggu High School
2004 Korea University
CLB chuyên nghiệp*
Năm Đội ST (BT)
2005–2008 FC Seoul 69 (23)
2008–2011 Monaco 91 (25)
2011–2014 Arsenal 1 (0)
2012–2013 Celta Vigo (mượn) 22 (3)
2014 Watford (mượn) 2 (0)
2014–2015 Al-Shabab 7 (1)
2015– FC Seoul 23 (7)
Đội tuyển quốc gia
2003–2005 Hàn Quốc U-20 26 (18)
2007–2010 Hàn Quốc U-23 21 (8)
2005– Hàn Quốc 68 (24)
* Chỉ tính số trận và số bàn thắng được ghi ở giải vô địch quốc gia và cập nhật lúc ngày 27 tháng 8 năm 2015.

† Số trận khoác áo (số bàn thắng).

‡ Thống kê về thành tích tại ĐTQG được cập nhật lúc ngày 14 tháng 11 năm 2014

Park Chu-Young (sinh 10 tháng 7 năm 1985Daegu,Hàn Quốc là cầu thủ bóng đá người Hàn Quốc hiện đang chơi cho CLB Arsenal F.C. tại giải Premier LeagueAnh. Anh hiện đang mang băng thủ quân Đội tuyển bóng đá quốc gia Hàn Quốc

Tiểu sử[sửa | sửa mã nguồn]

Khởi nghiệp[sửa | sửa mã nguồn]

Park Chu-Young được biết đến rộng rãi sau khi anh tỏa sáng tại giải Vô địch bóng đá trẻ Châu Á năm 2004, anh đã giúp Hàn Quốc phá kỷ lục của giải với danh hiệu vô địch lần thứ 11. Cũng tại giải đấu đó, anh đã được nhận danh hiệu Quả bóng vàng và được bầu là Cầu thủ xuất sắc nhất giải. Anh cũng được nhận vinh dự là đội trưởng Hàn Quốc U-20 tham dự giải 2003 FIFA World Youth Championship.

Năm 2005, chứng kiến sự phát triển vượt bậc của Park Chu-Young khi anh cùng Hàn Quốc U-20 tham dự giải đấu 8 đội tại Qatar với tư cách là đội khách mời và anh đã tỏa sáng khi đóng góp rất nhiều bàn thắng và đem về chiếc cúp vô địch cho Hàn Quốc. Cùng năm đó, anh được bầu là Cầu thủ trẻ xuất sắc nhất năm của Châu Á.

FC Seoul[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 2005, anh ký hợp đồng thi đấu cho CLB FC Seoul tại K-League và ngay trong mùa giải đầu tiên của mình Park Chu-Young đã ghi được 18 bàn thắng và có 4 đường chuyền thành bàn trong 30 lần ra sân thi đấu(bao gồm cả trận đấu cúp). Với phong độ chói sáng đó, anh giành danh hiệu Cầu thủ trẻ xuất sắc nhất năm của K-League và trở thành cầu thủ ghi bàn hàng đầu tại giải.

Trong suốt mùa giải đó, Park Chu-Young trở thành mục tiêu theo đuổi hàng đầu của phù thủy Guus Hiddink và CLB PSV Eindhoven nhưng đáng tiếc vụ chuyển nhượng đã không diễn ra.

Sau mùa giải 2005 rất thành công, Park được gọi vào Đội tuyển Hàn Quốc tham dự World Cup 2006 tại Đức nhưng anh chỉ được ra sân ở trận đấu cuối cùng tại vòng bảng gặp Thụy Sĩ. Trong trận đấu này, Park đã thi đấu rất tốt và được bầu là cầu thủ hay nhất trận nhưng điều này cũng không giúp Đội tuyển Hàn Quốc đi tiếp do họ chỉ đứng thứ 3 tại vòng bảng và bị loại.

AS Monaco[sửa | sửa mã nguồn]

Sau khi gây ấn tượng trong màu áo đội tuyển quốc gia và đội tuyển Olympic Hàn Quốc, ngày 1 tháng 9 năm 2008 Park đã ký hợp đồng với CLB AS Monaco thi đấu tại giải Vô địch Quốc gia Pháp (league 1) tại đây anh vinh dự được khoác chiếc áo số 10. Ngày 13 tháng 09, anh ghi bàn trong lần đầu tiên ra mắt CLB mới trong trận đấu gặp CLB FC Lorient.Trong hiệp hai, Park đã hỗ trợ rất tốt cho đồng đội của mình là Frédéric Nimani trong khâu tấn công tạo nên thế trận vượt trội của AS Monaco. Kết thúc trận đấu, Park được bầu là cầu thủ xuất sắc nhất trận.

Trong những trận đấu tiếp theo cùng AS Monaco, Park Chu-Young luôn được lựa chọn ra sân trong đội hình chính và giữ vai trò không thể thiếu.

Từ 2008-2011, Park Chu-Young ra sân 91 lần và ghi được 25 bàn thắng cho CLB AS Monaco.

Mùa giải 2010-2011, CLB AS Monaco rớt hạng.

Arsenal FC[sửa | sửa mã nguồn]

Ngày 30 tháng 08 năm 2011, Park Chu-Young chuyển đến thi đấu cho CLB Arsenal và mặc áo đấu số 30.

Thống kê sự nghiệp[sửa | sửa mã nguồn]

Câu lạc bộ[sửa | sửa mã nguồn]

Số liệu thống kê chính xác tới 27 tháng 10, 2015.[1]
Câu lạc bộ Mùa giải Giải đấu Cúp quốc gia Cúp liên đoàn Châu lục Tổng cộng
Trận Bàn Kiến tạo Trận Bàn Kiến tạo Trận Bàn Kiến tạo Trận Bàn Kiến tạo Trận Bàn Kiến tạo
FC Seoul 2005 19 12 3 2 0 1 11 6 1 32 18 5
2006 26 7 1 2 2 0 4 1 0 32 10 1
2007 11 2 0 1 0 0 3 3 0 15 5 0
2008 13 2 4 0 0 0 4 0 0 17 2 4
Tổng cộng 69 23 8 5 2 1 22 10 1 96 35 10
Monaco 2008–09 31 5 5 3 0 1 1 0 0 35 5 6
2009–10 27 8 3 5 1 0 1 0 0 33 9 3
2010–11 33 12 0 0 0 0 2 0 0 35 12 0
Tổng cộng 91 25 8 8 1 1 4 0 0 103 26 9
Arsenal 2011–12 1 0 0 0 0 0 3 1 0 2 0 0 6 1 0
2013–14 0 0 0 0 0 0 1 0 0 0 0 0 1 0 0
Tổng cộng 1 0 0 0 0 0 4 1 0 2 0 0 7 1 0
Celta (mượn) 2012–13 22 3 1 4 1 0 26 4 1
Tổng cộng 22 3 1 4 1 0 26 4 1
Watford (mượn) 2013–14 2 0 0 0 0 0 2 0 0
Tổng cộng 2 0 0 0 0 0 2 0 0
Al-Shabab 2014-15 7 1 0 0 0 0 7 1 0
Tổng cộng 7 1 0 0 0 0 7 1 0
FC Seoul 2015 23 7 2 1 2 0 24 9 2
Tổng cộng 23 7 2 1 2 0 0 0 0 24 9 2
Tổng cộng sự nghiệp 215 59 19 18 6 2 30 11 1 2 0 0 265 76 22

Bàn thắng quốc tế[sửa | sửa mã nguồn]

# Ngày Địa điểm Đối thủ Bàn thắng Kết quả Giải đấu
1 3 tháng 6, 2005 Tashkent, Uzbekistan  Uzbekistan 1–1 1–1 Vòng loại World Cup 2006
2 8 tháng 6, 2005 Kuwait City, Kuwait  Kuwait 1–0 4–0
3 21 tháng 1, 2006 Riyadh, Ả Rập Saudi  Hy Lạp 1–1 1–1 Giao hữu
4 25 tháng 1, 2006 Riyadh, Ả Rập Saudi  Phần Lan 1–0 1–0
5 1 tháng 3, 2006 Seoul, Hàn Quốc  Angola 1–0 1–0
6 17 tháng 2, 2008 Trùng Khánh, Trung Quốc  Trung Quốc 1–0 3–2 Cúp bóng đá Đông Á 2008
7 2–2
8 31 tháng 5, 2008 Seoul, Hàn Quốc  Jordan 2–0 2–2 Vòng loại World Cup 2010
9 7 tháng 6, 2008 Amman, Jordan  Jordan 1–0 1–0
10 19 tháng 11, 2008 Riyadh, Ả Rập Saudi  Ả Rập Saudi 2–0 2-0
11 6 tháng 6, 2009 Dubai, UAE  UAE 1–0 2–0
12 12 tháng 8, 2009 Seoul, Hàn Quốc  Paraguay 1–0 1-0 Giao hữu
13 5 tháng 9, 2009 Seoul, Hàn Quốc  Úc 1–0 3–1
14 24 tháng 5, 2010 Saitama, Nhật Bản  Nhật Bản 2–0 2–0
15 23 tháng 6, 2010 Durban, Nam Phi  Nigeria 2–1 2–2 World Cup 2010
16 25 tháng 3, 2011 Seoul, Hàn Quốc  Honduras 3–0 4–0 Giao hữu
17 3 tháng 6, 2011 Seoul, Hàn Quốc  Serbia 1–0 2–1
18 2 tháng 9, 2011 Goyang, Hàn Quốc  Liban 1–0 6–0 Vòng loại World Cup 2014
19 2–0
20 4–0
21 7 tháng 9, 2011 Kuwait City, Kuwait  Kuwait 1–0 1–1
22 11 tháng 10, 2011 Suwon, Hàn Quốc  UAE 1–0 2–1
23 11 tháng 11, 2011 Dubai, UAE  UAE 2–0 2–0
24 5 tháng 3, 2014 Athens, Hy Lạp  Hy Lạp 1–0 2–0 Giao hữu

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ “Park Chu-young”. KLeague.com. 

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]