Hull City A.F.C.

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
(đổi hướng từ Hull City A.F.C)
Bước tới: menu, tìm kiếm
Hull City
Hull City badge
Tên đầy đủ Hull City Association Football Club
Biệt danh The Tigers
Thành lập 1904
Sân vận động Sân vận động KC
Kingston upon Hull
Sức chứa sân 25.404[1]
Chủ tịch Assem Allam
Huấn luyện viên Mike Phelan
Giải đấu Premier League
2015-16 Championship, hạng 4 (lên hạng)
Website Trang chủ của câu lạc bộ
Sân khách
Khác
Mùa giải hiện nay

Hull City (Tên đầy đủ: Hull City Association Football Club) là một câu lạc bộ bóng đá Anh tại Yorkshire. Hull City được thành lập vào năm 1904. Mùa giải đầu tiên của Hull với tư cách là câu lạc bộ chuyên nghiệp bao gồm chỉ có một trận đấu giao hữu. Vì có màu áo thi đấu là màu vàng và có sọc đen nên câu lạc bộ còn được mệnh danh là 'The Tigers', nghĩa là 'Những chú hổ'. Dưới triều đại của Phil Brown, Hull City đã được phát triển rất nhiều về mọi mặt trong trận chiến trụ hạng mùa giải 2006-2007 và đủ điều kiện để tham gia trận play-offs sau khi kết thúc mùa giải ở vị trí thứ 3. Họ đã thắng Watford 6-1 tại bán kết và thắng Bristol City 1-0 với bàn thắng của Dean Windass tại trận chung kết được tổ chức tại sân vận động Wembley, Anh.

Sân vận động[sửa | sửa mã nguồn]

Sân vận động KC về đêm

Trong mùa giải 1904-1905, Hull chơi trên sân The Boulevard, nhưng sau này sân được sử dụng cho môn Bóng bầu dục nên họ phải xây một sân vận động mới. Và sân vận động mới có tên là Anlaby Road được khánh thành vào năm 1906. Trong thời gian Chiến tranh thế giới thứ hai xảy ra, sân vận động bị phá hủy bởi chiến dịch Blitz, và câu lạc bộ đã xây thêm một sân vận động mới là Boothferry Road. Vào ngày 31 tháng 8 năm 1946, sân vận động được đổi tên thành Boothferry Park. Sau này Hull City chuyển đến sân vận động KC tại Yorkshire.

Đội hình[sửa | sửa mã nguồn]

Số liệu thống kê chính xác tới 12 tháng 10, 2015.

Đội hình hiện tại[sửa | sửa mã nguồn]

Ghi chú: Quốc kỳ chỉ đội tuyển quốc gia được xác định rõ trong điều lệ tư cách FIFA. Các cầu thủ có thể giữ hơn một quốc tịch ngoài FIFA.

Số áo Vị trí Cầu thủ
1 Scotland TM Allan McGregor
2 Anh TV Moses Odubajo
4 Bắc Ireland HV Alex Bruce
5 Anh HV Ryan Taylor
6 Anh HV Curtis Davies (Đội trưởng)
7 Cộng hòa Ireland TV David Meyler
8 Anh TV Tom Huddlestone
9 Uruguay Abel Hernández
10 Scotland TV Robert Snodgrass
11 Anh TV Sam Clucas
12 Anh HV Harry Maguire
14 Anh TV Jake Livermore
15 Scotland TV Shaun Maloney
Số áo Vị trí Cầu thủ
16 Thụy Sĩ TM Eldin Jakupović
17 Anh TV James Weir
19 Anh Will Keane
20 Anh HV Isaac Hayden (cho mượn từ Arsenal)
21 Anh HV Michael Dawson
24 Nigeria Sone Aluko
25 Na Uy Adama Diomandé
26 Scotland HV Andrew Robertson
27 Ai Cập TV Ahmed Elmohamady
31 Cộng hòa Ireland HV Brian Lenihan
32 Anh Greg Luer
33 Anh TV Matty Dixon
34 Antigua và Barbuda Calaum Jahraldo-Martin

Cho mượn[sửa | sửa mã nguồn]

Ghi chú: Quốc kỳ chỉ đội tuyển quốc gia được xác định rõ trong điều lệ tư cách FIFA. Các cầu thủ có thể giữ hơn một quốc tịch ngoài FIFA.

Số áo Vị trí Cầu thủ
30 Anh HV Conor Townsend (cho Grimsby Town mượn đến ngày 12 tháng 11, 2015)
35 Anh TM Rory Watson (cho Scunthorpe United mượn đến ngày 7 tháng 9, 2015)

Cầu thủ của Năm[sửa | sửa mã nguồn]

Michael Turner, Player of the Year in the 2007–08 and 2008–09 seasons
Year Winner
1999–2000 Anh Mark Greaves[2]
2000–01 Jamaica Ian Goodison
2001–02 Anh Gary Alexander
2002–03 Bắc Ireland Stuart Elliott
2003–04 Cộng hòa Ireland Damien Delaney
2004–05 Bắc Ireland Stuart Elliott
2005–06 Wales Boaz Myhill
2006–07 Anh Andy Dawson
2007–08 Anh Michael Turner
2008–09 Anh Michael Turner
2009–10 Cộng hòa Ireland Stephen Hunt
2010–11 Cộng hòa Ireland Anthony Gerrard
2011–12 Slovenia Robert Koren
2012–13 Ai Cập Ahmed Elmohamady[3]

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ “The Kingston Communications Stadium - Facts”. Kingston Communications. Truy cập ngày 1 tháng 6 năm 2007. 
  2. ^ Beill, Andy (ngày 27 tháng 8 năm 2002). “Greaves Goes”. Hull City Mad. Truy cập ngày 1 tháng 4 năm 2013. 
  3. ^ “Who were the winners at our official awards evening?”. Hull City A.F.C. Ngày 20 tháng 4 năm 2013. Truy cập ngày 21 tháng 4 năm 2013. 

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]