Natri pemanganat

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm
Natri pemanganat
Sodium permanganate.svg
Potassium-perchlorate-unit-cell-3D-balls-perspective.png
Sodium permanganate solution.JPG
Danh pháp IUPACNatri manganat(VII)
Tên khácNatri pemanganat
Nhận dạng
Số CAS10101-50-5
PubChem24929
Số RTECSSD6650000
Ảnh Jmol-3Dảnh
SMILES
InChI
Thuộc tính
Công thức phân tửNaMnO4
Khối lượng mol141.9254 g/mol
159.94 g/mol (ngậm 1 nước)
Bề ngoàidạng rắn màu đỏ
Khối lượng riêng1.972 g/cm3 (ngậm 1 nước)
Điểm nóng chảy36 °C
Điểm sôi100 °C
Độ hòa tan trong nước900 g/L
Các nguy hiểm
Nguy hiểm chínhchất oxi hoá
Trừ khi có ghi chú khác, dữ liệu được cung cấp cho các vật liệu trong trạng thái tiêu chuẩn của chúng (ở 25 °C [77 °F], 100 kPa).
Có  kiểm chứng (cái gì Có KhôngN ?)

Natri pemanganat là hợp chất vô cơ có công thức NaMnO4. Nó có liên quan chặt chẽ đến kali pemanganat (thuốc tím), nhưng ít dùng hơn do nó quá đắt, hút ẩm và có nhiệt độ nóng chảy thấp. Tuy nhiên, nhờ có độ tan gấp 15 lần KMnO4, natri pemanganat có ứng dụng nhiều khi cần dung dịch MnO4- có nồng độ cao.

Điều chế và đặc tính[sửa | sửa mã nguồn]

Xem thêm: Kali pemanganat

Natri pemanganat không thể điều chế như KMnO4 vì muối manganat trung gian là Na2MnO4 rất hiếm thấy. Vì vậy các quá trình điều chế gián tiếp, kể cả thông qua KMnO4, được sử dụng.[1]

Natri pemanganat có tính chất tương tự KMnO4. Nó tan tốt trong nước tạo dung dịch có màu tím sẫm, khi làm bay hơi sẽ thu được tinh thể màu tím đen lấp lánh NaMnO4·H2O. Muối của kali không tạo kết tinh ngậm nước. Do tính hút ẩm tự nhiên, natri pemanganat kém hữu ích trong hoá phân tích hơn so với muối kali.

Nó có thể được điều chế bằng phản ứng giữa mangan đioxit với natri hypoclorit:

2MnO2 + 3NaClO + 2NaOH → 2NaMnO4 + 3NaCl + H2O

Ứng dụng[sửa | sửa mã nguồn]

Vì khả năng tan tốt, dung dịch natri pemanganat được dùng như chất khắc ăn mòn trong mạch in.[1]

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ a ă Arno H. Reidies "Manganese Compounds" in Ullmann's Encyclopedia of Industrial Chemistry, 2002, Wiley-VCH, Weinheim. doi:10.1002/14356007.a16_123