Biểu tình Tây Nguyên 2004

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
(đổi hướng từ Biểu tình ở Tây Nguyên 2004)
Bước tới điều hướng Bước tới tìm kiếm
Biểu tình Tây Nguyên 2004
Ngày10–11 tháng 4 năm 2004
Địa điểm
Nguyên nhânCáo buộc người Kinh cướp đất, đàn áp tôn giáo Tin Lành, mất quyền tự trị
Mục tiêuLấy lại đất tổ tiên, quyền tự trị, tự do tôn giáo
Kết quả
Các phe trong cuộc xung đột dân sự
Nhân vật thủ lĩnh
Số lượng
10.000–30.000 người Thượng

Công an nhân dân Việt Nam

(không rõ quân số)
Thương và tử vong
Người chết
Bị thươngKhông rõ
Bắt giữ
Cầm tùkhoảng 350 người

Biểu tình Tây Nguyên 2004 (còn được biết đến với tên gọi Bạo loạn Tây Nguyên 2004[1][2][3][4] hoặc Thảm sát Phục Sinh[5][6]) là một cuộc biểu tình bạo động của người Thượng xảy ra vào lễ Phục Sinh ngày 10–11 tháng 4 năm 2004 tại Tây Nguyên thuộc Việt Nam, tổng cộng khoảng 10.000–30.000 người Thượng tham gia tại Đắk Lắk, Gia Lai, Đắk Nông.

Người Thượng biểu tình nhằm mục tiêu đòi quyền lợi đất đai và tự do tôn giáo cùng quyền tự trị. Chính phủ Việt Nam cho rằng biểu tình nhằm thành lập Nhà nước Đêga tự trị, đòi đất, đòi tự do tôn giáo do Tổ chức Quỹ người Thượng của Ksor Kok phát động. Sau sự kiện, nhiều người Thượng bị bắt giữ, số lượng thương vong không được thống kê rõ ràng, khủng hoảng tị nạn xảy ra khi người Thượng vượt biên trái phép sang Thái LanCampuchia. Chính phủ Việt Nam chịu nhiều sức ép từ quốc tế trong xử lý khủng hoảng tị nạn người Thượng, nhiều tổ chức quốc tế cáo buộc Việt Nam vi phạm nhân quyềntự do tôn giáo, Việt Nam bị Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ đưa vào danh sách Các quốc gia đáng quan tâm đặc biệt về tôn giáo. Phía chính quyền và truyền thông Việt Nam thời điểm đó cáo buộc biểu tình là bạo loạn lật đổ–diễn biến hòa bình, việc trấn áp các cá nhân hoạt động FULRO vẫn tiếp tục sau sự kiện.

Bối cảnh[sửa | sửa mã nguồn]

Giai đoạn chiến tranh[sửa | sửa mã nguồn]

Quốc trưởng Bảo Đại ban hành Dụ số 6—Hoàng triều Cương thổ—quy định vùng Cao nguyên Trung phần thuộc quyền quản lý của nhà Nguyễn vào ngày 15 tháng 4 năm 1950, tuy nhiên vùng đất vẫn do Đế quốc thực dân Pháp quản lý và giới hạn giao thương Kinh–Thượng.[7] The Cambodia Daily cho rằng "do sự khác biệt văn hóa và sắc tộc với người Việt, các bộ lạc người Thượng đã sát cánh cùng chính quyền Đế quốc thực dân Pháp chống lại Việt Minh cộng sản vào thập niên 1940. Người Pháp đã cho phép họ có một mức độ tự trị chính trị ở Tây Nguyên, nhưng sau Hiệp định Genève năm 1954 và việc Đế quốc thực dân Pháp rút khỏi Việt Nam, người Thượng đã mất những đặc quyền chính trị đó".[8] Đầu thập niên 1960, người Thượng được Cơ quan Tình báo Trung ương (CIA) tuyển dụng và huấn luyện, chính quyền liên bang Hoa Kỳ bỏ rơi người Thượng sau khi Sài Gòn sụp đổ và chỉ thừa nhận họ là người tị nạn từ năm 1986.[9] Năm 1968, Việt Nam Cộng hòa cưỡng ép gần 10 vạn người từ dãy Trường Sơn vào Tây Nguyên.[10] The New York Times cho biết những cuộc xung đột không chỉ liên quan đến tôn giáo, mà còn do "người Việt miền xuôi định cư lấn chiếm đồn điền nông nghiệp của các bộ lạc bản địa" cũng như "mối liên kết giữa một nhóm Tin Lành tại Hoa Kỳ với một số người Thượng. Nhiều người Thượng đã chiến đấu bên cạnh quân đội Hoa KỳViệt Nam Cộng hòa trong Chiến tranh Việt Nam, một số người Thượng vẫn tiếp tục kháng cự sau thắng lợi của người cộng sản vào năm 1975".[11] Sau giai đoạn sát cánh cùng lính Mỹ trong Chiến tranh Việt Nam, 5.000 người Thượng được tái định cư tại North Carolina kể từ năm 1975.[12] Cựu binh người Thượng tại Tây Nguyên trải qua nhiều năm trong các trại lao động cải tạo hậu chiến tồi tàn và tiếp tục bị chính phủ bức hại, bị sắc tộc người Việt đẩy ra ngoài lề.[13] Người Thượng theo tín ngưỡng thuyết vật linh nhưng sau đó tiếp nhận đạo Tin Lành từ các nhà truyền giáo người Pháp vào thập niên 1850, điều này khiến người Thượng khác biệt về tôn giáo so với người Kinh.[14][15]

Giai đoạn hòa bình[sửa | sửa mã nguồn]

Trong thập niên 1980 và thập niên 1990, các thành viên FULRO [tái định cư tại Hoa Kỳ] trở về Tây Nguyên với tư cách khách du lịch, âm thầm truyền tải thông tin về Tổ chức Quỹ người ThượngKsor Kok; mạng lưới liên lạc thông qua điện thoại, fax, thư–băng đĩa lậu. Đầu năm 2000, các nhà hoạt động địa phương và lãnh đạo nhà thờ bắt đầu nói về phong trào giành độc lập.[16] Từ thập niên 1980, nhiều đợt di dân người Việt đến Tây Nguyên được nhà nước hỗ trợ dưới tên gọi xây dựng các vùng kinh tế mới và hình thành cụm dân cư người Việt đầu tiên tại các huyện Đạ Huoai, Đạ Tẻh, Cát Tiên thuộc Lâm Đồng; số dân người Việt vào giữa năm 1990 đã vượt qua người thiểu số địa phương Tây Nguyên, giữa thập niên 1990 cũng xuất hiện người dân tộc thiểu số vùng trung du và miền núi phía Bắc di cư đến Tây Nguyên.[7] Sau năm 1975, người Việt tại Tây Nguyên bao gồm công chức chính quyền địa phương từ tỉnh đến xã cùng công chức các doanh nghiệp nhà nước, di dân xây dựng các vùng kinh tế mới 450.000 người giai đoạn 1976–1980 và 260.000 người giai đoạn 1980–1990, di dân người Việt tự phát tăng dần trong giai đoạn 1990–1993 và đặc biệt tăng mạnh từ năm 1994 đến hiện tại. Thống kê người Việt tại Tây Nguyên chiếm 70% dân cư vùng tính đến năm 2013, trong khi người Việt trước Cách mạng Tháng Tám chỉ khoảng 30% dân cư vùng. Trong giai đoạn Đổi Mới, người dân tộc thiểu số vùng trung du và miền núi phía Bắc tiếp tục di dân vào Tây Nguyên khiến tỷ lệ nghèo đói khu vực tăng lên, trong khi tỷ lệ người dân tộc thiểu số bản địa giảm, tình trạng phá rừng và tranh chấp đất đai xảy ra.[10] Theo Tạp chí Nghiên cứu Dân tộc, người H'Mông từ vùng trung du và miền núi phía Bắc di cư đến Tây Nguyên từ sau năm 1975, đặc biệt mạnh mẽ vào thập niên 1990 và hiện tại vẫn âm thầm diễn ra (thống kê 219 người vào năm 1989, tăng lên 12.392 người vào năm 1999).[17] Hiện tượng di cư mạnh mẽ đến Tây Nguyên vào thập niên 1990 bắt nguồn từ sự bùng nổ xuất khẩu cà phê Việt Nam trong thập kỷ đó.[18] Tháng 8 năm 2000, khoảng 150 người Ê Đê tấn công một ngôi làng của người Kinh, bốn người bị thương và một số ngôi nhà bị đập phá,[14] cảnh sát địa phương bắt đầu thẩm vấn các cá nhân hoạt động đáng ngờ và giám sát chặt chẽ an ninh khu vực Tây Nguyên.[16] Ngày 22 tháng 9 năm 2000, một cuộc họp nội bộ của tổ chức chính trị FULRO diễn ra tại biệt thự nhỏ (do Ksor Kok sở hữu) ở thành phố Spartanburg thuộc bang Colorado; buổi họp tuyên bố thành lập 'nhà nước Đêga[a] và thúc đẩy kế hoạch xây dựng phong trào giành độc lập tại Tây Nguyên.[16][19] Ngày 26 tháng 9 cùng năm, Ksor Kok cùng với tổ chức FULRO liên lạc với Ro Lan Ngol (bí danh Ama Chăm, tỉnh Gia Lai) và Ama Thái (cư trú tỉnh Gia Lai, từng theo đạo Tin Lành miền Nam Việt Nam) tạo dựng đạo Tin Lành Đêga và đồng thời thành lập Ban Lãnh đạo Tin Lành Đêga.[20] Cảnh sát bắt giữ một cặp vợ chồng người M'Nông tại một làng gần Buôn Ma Thuột vào ngày 8 tháng 1 năm 2001 và thả 5 ngày sau đó, cảnh sát bắt giữ Siu Un tại huyện Ea H'leo vào ngày 12 tháng 1 cùng năm khiến 300 người biểu tình phản đối hai ngày sau đó và Siu Un được thả vào cùng ngày.[16]

Buổi tối ngày 1 tháng 2, hàng trăm người Thượng trang bị cọc–dao găm–thuổng diễu hành qua quảng trường Đại đoàn kết tại thành phố Pleiku, trụ sở Uỷ ban nhân dân tỉnh Gia Lai bị bao vây trong đêm, trụ sở Đảng Cộng sản Việt Nam tại tỉnh Gia Lai bị lục soát và bị đập phá cửa sổ vào khoảng 9 giờ sáng ngày hôm sau, trụ sở Cảnh sát tỉnh Gia Lai thuộc quyền kiểm soát của người Thượng lúc 11 giờ.[21] Một cuộc biểu tình bạo động diễn ra vào ngày 2 tháng 2 năm 2001 tại Đắk Lắk, Gia Lai, Kon Tum với đa số thành phần dân tộc thiểu số,[1] Ama Chăm sau đó trốn sang Campuchia,[20][22] Zan-na tại xã Hà Bầu bị bắt giữ,[23] Jean Đắk tại tỉnh Kon Tum bị bắt,[24] hơn 1.000 người Thượng đã bỏ trốn sang Campuchia để xin tị nạn[25][26][27][28] (hoặc gần 2.000 người Thượng tị nạn theo nguồn phía Việt Nam[29]) tại RatanakiriMondulkiri (một số lượng người Thượng không xác định lẩn trốn tại Campuchia vì sợ bị trục xuất về Việt Nam).[30] Số người biểu tình năm 2001 tại Gia Lai lên tới 8.000 người, tại Đắk Lắk khoảng 1.093 người, tại Kon Tum không có nhiều người tham gia.[1][29] Lực lượng cảnh sát tiếp viện bị chặn tại quốc lộ 14 do người Thượng kiểm soát, 200–300 cảnh sát tiếp cận thành phố Pleiku bằng máy bay trực thăng và xe tải vào chiều ngày 3 tháng 2, hàng nghìn người Thượng đang tập trung tại quảng trường Đại đoàn kết thời điểm đó đã rời đi sau khi được cảnh sát thuyết phục, 20–25 người Thượng bị bắt giữ do phản ứng quá khích, biên giới Việt Nam–Campuchia bị kiểm soát an ninh chặt chẽ.[21] Ngày 4 tháng 5 năm 2001, một nhóm người Thượng biểu tình trước tòa nhà trụ sở Liên Hiệp Quốc tại thành phố New York, giơ các biểu ngữ tiếng Anh–tiếng Trung–tiếng Pháp–tiếng Việt yêu cầu chính phủ Việt Nam trả lại đất.[9] Theo Tổ chức Theo dõi Nhân quyền, cuộc biểu tình vào tháng 2 năm 2001 nhằm đòi trả lại đất đai tổ tiên và quyền tự do tôn giáo,[11][15][26][27] 36 người Thượng bị bắt và 32 người Thượng chờ xét xử tại tòa.[26] Người Thượng yêu cầu bổi thường đất tổ tiên bị chuyển đổi thành đồn điền cà phê của người Kinh, phản đối di dân người Kinh từ đồng bằng sông Hồng, phản đối người dân tộc thiểu số vùng trung du và miền núi phía Bắc đến tái định cư do xây dựng các dự án thủy điện. Họ mong muốn thực hành Tin Lành tự do và từ chối Giáo hội Tin Lành Việt Nam do Đảng Cộng sản Việt Nam kiểm soát, cáo buộc chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh Gia Lai Nguyễn Vỹ Hà biển thủ ngân sách phát triển làng do Hà Nội phân bổ. Tây Nguyên bị phong tỏa với người nước ngoài sau sự kiện, một nhóm nhỏ các nhà báo quốc tế đến thị sát khu vực dưới sự giám sát chặt chẽ từ quan chức Việt Nam và việc phỏng vấn người biểu tình bị cấm.[21]

Ngày 18 tháng 1 năm 2002, Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam ban hành Nghị quyết số 10 về quốc phòng–an ninh vùng Tây Nguyên giai đoạn 2001–2010.[31] Cuối tháng 2 năm 2002, Cao ủy Liên Hiệp Quốc về người tị nạn cho biết bị chính phủ Việt Nam từ chối tiếp cận những ngôi làng địa phương tiếp nhận người tị nạn bị trục xuất về Việt Nam, đồng thời tố cáo phái đoàn chính phủ Việt Nam–chính phủ Campuchia tự ý đến trại tị nạn ở Mondolkiri mà không xin phép, tình huống một viên cảnh sát Campuchia đánh người Thượng tị nạn bằng dùi cui điện do nhóm xo xát với phái đoàn Việt Nam.[30] Đại sứ Hoa Kỳ tại Việt Nam Raymond F. Burghardt khẳng định "Hoa Kỳ không ủng hộ nhà nước Đêga ở Tây Nguyên" vào ngày 16 tháng 3 năm 2002.[32] Trong tháng 3 năm 2002, chính phủ Campuchia đóng cửa hai trại tị nạn người Thượng từ Tây Nguyên vượt biên sang, Hoa Kỳ đã đồng ý tái định cư cho 900 người Thượng.[33] Theo Time, khoảng 1.000 người Thượng được tái định cư tại Hoa Kỳ kể từ sự kiện biểu tình năm 2001.[34] Ksor Kok họp nội bộ tổ chức 'Nhà nước Đêga' tại Hoa Kỳ vào tháng 5 năm 2002. Từ ngày 27 tháng 6 đến ngày 5 tháng 7 năm 2003, Ksor Kơk đã bảy lần gặp mặt đại diện Đảng Cấp tiến xuyên quốc gia (tổ chức phi chính phủ tại Hội đồng Kinh tế và Xã hội của Liên Hiệp Quốc) và một số quan chức cấp cao trong chính phủ Ý. Ksor Kok tham dự Uỷ ban Nhân quyền vào ngày 28 tháng 10 năm 2003.[35] The Cambodia Daily cho biết chính phủ Campuchia đã trục xuất hơn 100 người Thượng vào năm 2003 do áp lực từ Hà Nội, buộc Cao ủy Liên Hiệp Quốc về người tị nạn đóng cửa trại tị nạn vào tháng 4 cùng năm.[8] VnExpress cho biết vào đầu năm 2004, một số người [tự xưng thuộc tổ chức của Ksor Kok] đến vận động một vài cá nhân ở địa phương tập trung lực lượng biểu tình, mục đích nhằm đuổi người Kinh khỏi Tây Nguyên và trưng thu tài sản.[36] Đầu tháng 3 năm 2004, Ksor Kok và Siu Phan liên lạc với Ama Thái nhằm chuẩn bị kế hoạch biểu tình vào dịp lễ Phục Sinh đầu tháng 4 cùng năm, Ama Thái phát động phong trào tách Tin Lành Đêga ra khỏi Tin Lành.[20] Từ tháng 2 năm 2001 đến tháng 4 năm 2004, lực lượng an ninh Việt Nam xử lý 1.629 người, giáo dục cảm hóa hơn 4.000 người, xóa 256 tổ chức ngầm liên quan đến FULRO.[37] Ngày 8 tháng 2 năm 2004, xét xử vụ án tham nhũng lớn nhất Tây Nguyên với thiệt hại 104 tỷ đồng tại doanh nghiệp nhà nước Công ty Xuất nhập khẩu Gia Lai, trong đó các công chức liên quan chiếm đoạt hơn 44 tỷ đồng.[38]

Diễn biến[sửa | sửa mã nguồn]

Tổ chức Quỹ người Thượng (MFI, trụ sở ở South Carolina) tuyên bố người Tin Lành Tây Nguyên sẽ tổ chức một cuộc diễu hành kéo dài một tuần nhằm kêu gọi tự do tôn giáo.[39] Website của "Đảng cấp tiến xuyên quốc gia" (Transnational Radical Party - TRP) ngày 9 tháng 4 năm 2004 thông báo sẽ có hơn 150.000 người Thượng tuần hành bất bạo động để cầu kinh tại Tây Nguyên, chống lại việc chính quyền Việt Nam từ chối quyền tự do được tôn thờ Đức Chúa Trời".[40][41] Sáng ngày 10 tháng 4 năm 2004, hơn 9.000 người dân tộc thiểu số (4.800 người tại Đắk Lắk, 4.000 người tại Gia Lai, 300 người tại Đắk Nông) với nhiều hung khí và phương tiện di chuyển (350 máy cày–máy kéo và hàng trăm xe máy) tổ chức gây rối quy mô lớn[1][40] (theo nguồn khác là khoảng 14.000 người[29] hoặc hơn 20.000 người[42] hoặc lên tới 30.000 người[43]). Associated Press dẫn lời Tổ chức Quỹ người Thượng cho biết người Thượng biểu tình tại các tỉnh Đắk Lắk, Kon Tum, Gia Lai, Bình Phước.[44] Biểu tình bắt đầu từ sáng sớm (khoảng 6 giờ) đến quá trưa thì tạm lắng, cảnh sát–dân quân sử dụng hơi cay và xịt nước để giải tán đám đông, con số thương vong hai phía sau nhiều giờ đụng độ chưa được thống kê.[44][45]

Tính riêng sáng ngày 10 tháng 4 tại tỉnh Đắk Lắk, hàng nghìn người Ê Đê từ 30 thôn thuộc huyện Cư M'gar–huyện Krông Ana tràn ra quốc lộ 14, quốc lộ 27, tỉnh lộ 8; đoàn người tổ chức thành 4 mũi hướng về trung tâm thành phố Buôn Ma Thuột.[39][40] Đoàn người này mang theo hàng trăm phương tiện (công nông, mô tô, xe máy) và hung khí (xà gạc, kiếm mác, gậy gộc, ná, đá), một số phần tử quá khích vào các chợ (Ea Kao, Phan Chu Trinh, Ea Tu) và các quán ăn dọc đường để đập phá–cướp thực phẩm. Khi còn cách Buôn Ma Thuột 2 km, đoàn người đã bị lực lượng Công an nhân dân Việt Nam chặn lại, những hành động gây hấn với người thi hành công vụ đã xảy ra. Một số người tham gia biểu tình cho biết họ được tuyên truyền rằng sẽ bị người Kinh tấn công, phải đến Buôn Ma Thuột để lên máy bay của Liên Hiệp Quốc chở sang Hoa Kỳ lánh nạn.[39][46] Ước tính có hơn 1.000 người Thượng diễu hành hướng đến Buôn Ma Thuột.[12] Một số cửa hàng của người Kinh tại Cư M'garKrông Ana bị đập phá.[47] Tối ngày 10 tháng 4, bốn xe tăng đậu trên quốc lộ 14 (cách Buôn Ma Thuột tám dặm Anh), các nhân chứng nói rằng nhiều người biểu tình bị đánh đến chết tại đường Phan Châu Trinh (bên ngoài Buôn Ma Thuột), bệnh viện đa khoa Đắk Lắk ghi nhận 40 người thương tích đến điều trị. Tối cùng ngày, toàn bộ đàn ông người Thượng ở làng Emap thuộc huyện Cư M'gar đều mất tích, làng Ale A (ngoại ô Buôn Ma Thuột) hiện diện cảnh sát và dân quân trang bị gậy đứng hai bên đường.[48] Chủ tịch Uỷ ban Nhân dân tỉnh Đắk Lắk Nguyễn Văn Lạng cho biết "thực tế ở Đăk Lăk không hề có ai chết" và khẳng định không có chuyến bay nào chở 500 sĩ quan quân đội từ nơi khác lên Buôn Ma Thuột. Nguyễn Văn Lạng chỉ ra các biểu ngữ đòi thành lập nhà nước riêng, đòi đuổi người Kinh, đuổi công an–bộ đội ra khỏi Tây Nguyên, ủng hộ Ksor Kok. Giám đốc công an tỉnh Đăk Lăk Lữ Hồng Cư cho biết "vụ gây rối chỉ diễn ra trong một ngày và được giải quyết ổn thỏa". Associated Press dẫn lời cảnh sát địa phương thông tin rằng hàng chục người Thượng bị bắt và hàng chục người khác bị thương khi đụng dộ xảy ra.[44][49] Sau sự kiện, tỉnh Đắk Lắk thông báo 10 người bị bắt.[43][50]

Tính riêng sáng 10 tháng 4 tại tỉnh Gia Lai, người dân tộc thiểu số từ các huyện Ayun Pa, Chư Sê, Đắk Đoa, Đức Cơ, Chư Prông và thành phố Pleiku kéo lên trụ sở nhiều xã và gây rối. Một số người quá khích tấn công công chức và phá cơ sở hạ tầng.[39][51] Người dân xã Bờ Ngoong (thuộc huyện Chư Sê) đã hành hung người thi hành công vụ và nhân dân quanh vùng, đập phá trụ sở ủy ban nhân dân xã, người dân cho biết có một nhóm sống trong rừng–giả danh dân thường và tuyên truyền ly khai–đuổi người Kinh về xuôi.[51] Ngày 11 tháng 4, cảnh sát bắt giữ 26 người Thượng biểu tình tại thị trấn Nhơn Hòa, cảnh sát bắn chết một người và bắt giữ hai người khi tiến hành chặn đường một số làng thuộc huyện Đak Đoa nhằm ngăn dòng người đến Hà Bầu biểu tình.[48] Lãnh đạo địa phương tỉnh Gia Lai cử công chức đến các địa điểm lắng nghe–giải thích nhằm ổn định tình hình.[40] Chủ tịch Uỷ ban Nhân dân tỉnh Gia Lai Nguyễn Vỹ Hà có mặt tại các làng trong huyện Đak Đoa, tiếp xúc với người dân tham gia biểu tình.[39] Ba người biểu tình tại Gia Lai bị bắt sau sự kiện.[43] Cùng ngày, tỉnh Gia Lai thành lập Đội công tác 123—với lực lượng chính là quân đội—mục tiêu cùng ăn ở với dân để nắm tình hình.[52] Cựu phó giám đốc công an tỉnh Gia Lai Nguyễn Duy Lanh cho biết Phòng Phòng chống FULRO (phiên hiệu Phòng Bảo vệ chính trị VI, tiền thân Phòng An ninh đối nội) được thành lập vào tháng 4 cùng năm.[53]

Những cá nhân trực tiếp tham gia chỉ đạo giải quyết vụ biểu tình ở Tây Nguyên gồm Bộ trưởng Bộ Quốc phòng Việt Nam Phạm Văn Trà,[54] Phó Tổng cục trưởng Tổng cục An ninh Trịnh Lương Hy,[4] Trưởng Ban Chỉ đạo Tây Nguyên Trần Đại Quang,[55] Phó Cục trưởng Cục An ninh Tây Nguyên Nguyễn Xuân Hà,[23] Chủ tịch Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam Phạm Thế Duyệt,[56] Trung đoàn trưởng cảnh sát cơ động Tây Bắc Nguyễn Văn Đại.[57] Đại sứ quán Hoa Kỳ tại Hà Nội nói rằng một phái đoàn của Hoa Kỳ từ thành phố Hồ Chí Minh đi lên Buôn Ma Thuột đã bị chặn ở Bình Phước và buộc phải quay lại, cảnh sát địa phương nói rằng "khu vực này không thích hợp cho người nước ngoài".[44][49][58] Khi biểu tình diễn ra, cảnh sát Campuchia thắt chặt an ninh dọc biên giới nhằm ngăn chặn người Thượng sang Campuchia tị nạn, toàn bộ khu vực Tây Nguyên đóng cửa với người nước ngoài, các chuyến bay đến Buôn Ma Thuột bị hủy.[44][49][58][59][60] Số lượng thương vong trong cuộc biểu tình được báo cáo không thống nhất bởi nhiều nguồn tin khác nhau. Tổ chức Theo dõi Nhân quyền báo cáo 10 người Thượng chết và hàng trăm người bị thương.[42][61] Tổ chức Ân xá Quốc tế cho biết 8 người Thượng chết.[62] Chính phủ Việt Nam thông báo 80 sĩ quan cảnh sát bị thương tích, 2 thường dân khu vực bị chết (do bị ném đá và máy cày đè).[40][43][63] Tổ chức Quỹ người Thượng báo cáo 276 người Thượng chết[6] nhưng bị cáo buộc phóng đại số người Thượng chết.[43] Theo tạp chí Time, một bác sĩ tại bệnh viện đa khoa Đăk Lăk tiết lộ nhiều người nhập viện với vết thương ở đầu, trong khi những người khác tránh vào bệnh viện vì sợ bị bắt. Một nhóm 17 nông dân tại Gia Lai và hai người được phóng viên Time phỏng vấn riêng nói rằng một người biểu tình bị bắn vào đầu. Một người đàn ông dân tộc thiểu số người Gia Rai nhìn thấy một xác chết [được chính phủ thừa nhận] và cho rằng nạn nhân bị đánh đến chết. Một người đàn ông làm công việc liên huyện tuyên bố độc lập về 10 người chết tại Gia Lai.[34] BBC báo cáo có 40 người Thượng bị thương.[64] Một người phụ nữ Ê đê xác nhận "cảnh sát bất ngờ lao vào đám đông không vũ trang, đánh đập những người biểu tình cho đến khi nhiều người nằm xuống đường. Họ đuổi theo những người biểu tình cố gắng chạy trốn, bao gồm cả trẻ em và phụ nữ".[42]

Sau khi những người biểu tình tị nạn tại rừng rậm thuộc Ratanakiri, Thủ tướng Campuchia Hun Sen thông cáo họ không phải là người tị nạn mà là "người nhập cư bất hợp pháp" và có thể là một phong trào thành lập một nhà nước độc lập ở Tây Nguyên.[34] Thủ tướng Hun Sen cảnh báo "sẽ gửi quân tới nghiền nát những người đang thiết lập căn cứ trong rừng".[28] Tỉnh trưởng tỉnh Ratanakiri Kham Khoeun khẳng định "họ [người biểu tình tị nạn] xâm nhập Campuchia bất hợp pháp, nếu họ tiếp tục trốn trong rừng lâu hơn hoặc tự tổ chức thành một nhóm vũ trang, chúng tôi sẽ trấn áp".[28] Tuy không ủng hộ một nhà nước độc lập tại Việt Nam, Quốc vương Campuchia Norodom Sihanouk tuyên bố "người Thượng bị tước đoạt đất đai tổ tiên của họ, rừng của họ, nhà của họ, gia súc của họ".[34][65] Trong 6 tuần, 196 người Thượng tị nạn được phỏng vấn tại rừng rậm thuộc Ratanakkiri (Campuchia). Cư dân địa phương Campuchia cho biết có khoảng 250 người Thượng đang ẩn láu tại tỉnh này.[65] The Phnom Penh Post cho biết hàng chục người Thượng bị bắt giữ vì nghi ngờ tổ chức biểu tình hoặc che giấu các nhà hoạt động trên đường chạy trốn. Đôi khi họ bị tra tấn để lấy thông tin tên các nhà hoạt động khác hoặc buộc các nhà hoạt động tuyên bố hối hận công khai. Nhiều khu vực không thể đi lại tự do—thậm chí đi canh tác trên đồng—phải có sự cho phép bằng văn bản từ công chức xã.[61] Ngày 16 tháng 4, Hãng hàng không Quốc gia Việt Nam (Vietnam Airlines) thông báo tuyến bay đến phi trường Buôn Ma Thuột của tỉnh Đắk Lắk và phi trường Pleiku của tỉnh Gia Lai được mở lại cho người nước ngoài.[66]

Ngày 27 tháng 4, Chủ tịch Uỷ ban Nhân dân tỉnh Đắk Lắk Nguyễn Văn Lạng đã tổ chức họp báo và trả lời phỏng vấn các hãng truyền thông quốc tế (Reuters, Associated Press, Tân Hoa Xã) đến tìm hiểu sự kiện biểu tình.[47] Ông Nguyễn Văn Lạng cho biết thời gian biểu tình gần trùng khớp với thời điểm Đại sứ quán–Tổng Lãnh sự quán Hoa Kỳ và phái đoàn UNICEF Liên Hiệp Quốc cùng đoàn chuyên gia người Anh đến Đắk Lắk.[67] Ngày 29 tháng 4 năm 2004, trong cuộc hội đàm giữa Đại sứ Hoa Kỳ tại Việt Nam Noah A. Zaring, Tổng lãnh sự quán Hoa Kỳ tại Thành phố Hồ Chí Minh Marc Forino và Chủ tịch Uỷ ban Nhân dân tỉnh Gia Lai Nguyễn Vỹ Hà, toàn bộ băng video tư liệu hiện trường được xem xét bởi hai bên.[68] Phái đoàn ngoại giao Hoa Kỳ cũng hội đàm với Chủ tịch Uỷ ban Nhân dân tỉnh Đắk Lắk Nguyễn Văn Lạng vào ngày 26 tháng 4.[50] Time cho biết "chính phủ trích dẫn lời thú tội, biểu ngữ ly khai được cho là mang theo trong các cuộc diễu hành—sự thực là Ksor Kok đã công bố trước lễ Phục Sinh rằng các cuộc biểu tình sẽ diễn ra. Một số người Thượng—bao gồm cả chú và mẹ của Ksor—đã tố cáo anh ta trên các phương tiện truyền thông do nhà nước kiểm soát".[34] L'Express báo cáo từ 200 đến 300 người Thượng bị bắt sau sự kiện,[60] luật sư nhân quyền Scott Johnson xác nhận khoảng 350 người Thượng bị tống giam.[69] Ngày 12 tháng 5, đoàn công tác của các tổ chức Liên Hiệp Quốc đến thăm Kon Tum, Gia LaiĐắk Lắk theo lời mời của chính phủ Việt Nam.[70] Bốn đại sứ của New Zealand, Canada, Na Uy, Thụy Sĩ thị sát Tây Nguyên ba ngày và phản bác nội dung đưa tin của truyền thông Việt Nam về cuộc gặp với Chủ tịch ủy ban nhân dân tỉnh Đăk Lăk Nguyễn Văn Lạng; họ chính thức tuyên bố "các đại sứ không đưa ra một kết luận về tiến bộ trong phát triển kinh tế và xã hội trong tỉnh này, nhưng có ghi nhận trong lúc thảo luận rằng thách thức trong việc đáp ứng những nhu cầu phát triển đặc biệt của những người sắc tộc thiểu số của vùng này là rất lớn. Chuyến đi này được đồng ý là có tính riêng tư và các đại sứ không có ý định bình luận thêm vào lúc này".[71]

Nguyên nhân[sửa | sửa mã nguồn]

Chính phủ Việt Nam cho biết người biểu tình hô khẩu hiệu đòi độc lập, đòi người Kinh phải trả lại đất cho những người dân tộc thiểu số, đòi tự do tôn giáo, đòi thả hết những người bị bắt và kêu gọi quốc tế ủng hộ "Nhà nước Đêga". Chính phủ Việt Nam còn cáo buộc FULRO đưa người dân tộc thiểu số vượt biên sang Campuchia để lập trại tị nạn nhằm thực hiện quốc tế hóa vấn đề dân tộc thiểu số Tây Nguyên.[1] Người Thượng tại Tây Nguyên cho biết biểu tình nhằm phản đối đàn áp tôn giáo, đòi lại đất tổ tiên bị người Kinh cướp, ủng hộ quyền tự trị, thả tù nhân chính trị người Thượng.[15][72][64][61]

Phản ứng[sửa | sửa mã nguồn]

Quốc nội[sửa | sửa mã nguồn]

Người Thượng tại Tây Nguyên[sửa | sửa mã nguồn]

Rất nhiều quan điểm bày tỏ sự quan ngại về việc đàn áp và gây khó khăn từ chính quyền Việt Nam đối với người Thượng trong các vấn đề cư trú và hoạt động văn hóa–tôn giáo. Luật sư Nguyễn Văn Đài khẳng định "an ninh địa phương rất độc ác" và cho biết "sẽ lập tức triệu tập–đe dọa bắt đi tù suốt hàng tuần những người vợ của các người tù đó" nếu họ liên hệ với ông; kết quả là "những người vợ không dám nhận tiền hỗ trợ để thăm chồng tại nhà giam ở Hà Nội và Thái Nguyên". Mục sư Nguyễn Hồng Quang cho biết "rất bất công" khi "mua [đất đai] và đẩy hết người sắc tộc vào sâu trong rừng. Người dân tộc cũng nhận thức được về đất đai rồi về vấn đề thờ phượng".[73] Ayun Tre (bị trục xuất từ Thái Lan về Việt Nam) nói "Thái Lan là một đất nước tự do, nơi chúng tôi có thể gặp mặt và tụ họp, không giống như Việt Nam". Rmah Aloh (tham gia biểu tình năm 2004 và bị trục xuất từ Thái Lan về Việt Nam) nói "cảnh sát địa phương sẽ không cho phép tôi thực hành tôn giáo của mình. Họ yêu cầu tôi quay lại và hứa với tôi và gia đình rằng sẽ không có chuyện gì xảy ra với tôi. Ngay khi chúng tôi vượt qua biên giới Lào [về Việt Nam], đó là khi cơn ác mộng bắt đầu. Aloh bị còng tay, liên tục bị đánh đập và bỏ đói trong vài ngày. Họ rất bạo lực và tôi muốn họ ngừng đánh tôi, vì vậy tôi đã ký tên".[74] Khi được phỏng vấn, những người Thượng tị nạn trong rừng rậm tại Campuchia nói rằng "họ thà chết trong rừng rậm của Campuchia hơn là ở lại Việt Nam mà không có tự do tôn giáo, tự chủ văn hóa và quyền đất đai".[75] Nay Thit (một cựu binh người Thượng, từng phục vụ quân đội Hoa Kỳ trong Chiến tranh Việt Nam) nói "mọi thứ đều không công bằng giữa người Việt và người Thượng. Chúng tôi muốn có chính phủ của riêng mình. Chúng tôi muốn quyền tự trị. Điều đó rất khó khăn". Nguyen Do Huynh (hướng dẫn viên du lịch, con lai Kinh–Thượng) chia sẻ "đã có vấn đề với người Thượng cố gắng chạy trốn sang Campuchia, bởi vì người Thượng ở Hoa Kỳ đang khuyến khích họ". John Ho (một giáo viên tại Kon Tum) nói chính phủ gây nhiều khó khăn cho tín hữu Kitô giáo ở đây. Ông John nói: "Tất cả các nhà thờ phải được đăng ký với chính phủ và phải có một linh mục người Việt. Xin giấy phép xây dựng một nhà thờ mới ở Tây Nguyên được coi là một phép lạ. Lần cuối cùng ai đó cố gắng xây dựng một nhà thờ mà không có giấy phép, chính phủ đã san ủi bốn nhà thờ như một hình phạt".[76] Sau khi mãn hạn tù, Y Ngun Knul bộc bạch: "Nhóm của tôi biểu tình hai lần trong năm 2004 để đòi lại nhà thờ. Hồi xưa đi lễ thờ phượng Chúa khó khăn lắm, bị chính quyền cấm. Một số người thì đất đai tổ tiên ngày xưa để lại cũng mất hết nên đòi lại đất đai của dân. Thứ ba nữa là đòi lại quyền con người được sống, được ăn, được mặc, được nói. Tất cả quyền đó không còn nữa cho nên người ta bức xúc".[77][78]

Theo điều tra của Tổ chức Theo dõi Nhân quyền, chính quyền Việt Nam tiếp tục buộc người Thượng từ bỏ Kitô giáo và ngừng mọi hoạt động chính trị hoặc tôn giáo trong các phiên tự phê bình công khai bằng cách ký cam kết bằng văn bản. Người Thượng mất lòng tin vào Giáo hội Tin Lành do chính phủ Việt Nam kiểm soát và tìm cách quản lý các hoạt động tôn giáo của họ.[61] Theo chuyến đi thực địa của Time, nhiều người Thượng tại Tây Nguyên phỏng vấn sợ hãi giấu tên nói "xin đừng nói rằng chúng tôi đã nói chuyện với bạn, nếu không chúng tôi sẽ bị bắt. Cảnh sát nói với chúng tôi rằng bạn đang đến và chúng tôi không được nói chuyện với bạn. Họ sẽ giám sát lần nữa, nhưng tôi không quan tâm. Chúng tôi cần được giúp". Ksor H'ble (mẹ của Ksor Kok) thường trú trong một căn nhà xiêu vẹo tại Ayun Pa nói "tôi không nhớ rõ mặt nó [Ksor Kok]", đồng thời "rất lo lắng, bạn có biết họ ở đâu không?" khi nói về hai con trai khác mất tích sau biểu tình. Phỏng vấn 160 người Thượng tị nạn tại Ratanakiri, họ nói "chúng tôi đến để cộng đồng quốc tế giúp đỡ chúng tôi", một người Thượng nói thêm "thà chết ở đây còn hơn ở Việt Nam"; một người đàn ông 40 tuổi (ở Gia Lai) tị nạn nói "cảnh sát, quân nhân và người Việt đã đến làng của chúng tôi và đá vào cửa nhà của chúng tôi, tấn công chúng tôi".[34] Xaigon Mai (một phụ nữ người Mỹ gốc Thượng 23 tuổi) phân tích "theo chính phủ Việt Nam, gốc rễ của tình trạng bất ổn dân sự hiện nay là 'những kẻ kích động nước ngoài'—như người lưu vong chính trị Đêga và cựu binh Mỹ—khuyến khích các bộ lạc đòi quyền tôn giáo và đất tổ tiên. Lực lượng đặc nhiệm Hoa Kỳ—phụ thuộc nhiều vào các tân binh bộ lạc vùng cao để chống lại du kích Việt Cộng—đã thành lập một liên minh với Đêga trước đây, chính quyền Hà Nội hiện tại cảnh giác với những người Mỹ muốn đến thăm vùng Tây Nguyên lịch sử chiến tranh.[...] Khi chiến tranh kết thúc vào năm 1975, Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã thiết lập các chính sách phân biệt giai cấp, giới tinh anh học thức—đặc biệt là khu vực miền Nam—đã buộc phải từ bỏ nghề nghiệp của họ. Phần lớn họ trở thành xe ôm và lao động chân tay. Giống như người Việt học thức trong khu vực, chú tôi đã bị tước chứng chỉ giảng dạy khi người cộng sản giành chiến thắng, nhưng không giống như họ khi ông có thêm gánh nặng về phân biệt sắc tộc và chủng tộc".[5]

Một số người cho rằng những hoạt động do Ksok Kok phát động là sai trái và họ là nạn nhân của sự việc này. Siu Huêh (bí danh Ama Thái) cam kết "sẽ về nói với đồng bào từ bỏ Tin Lành Đêga" và mong "nhà nước tha tội".[79] Một người cao niên tại xã Ia Broăi thuộc huyện Ia Pa nói "vì buôn Broăi là nơi sinh Ksor Kok nên y muốn dựng nên một “điển hình”. Cả buôn cũng chỉ 19 người tham gia, mà hầu hết là anh em–họ hàng nhà ông ta".[80] A Thách (bị Campuchia trục xuất về Việt Nam) bộc bạch "mình nghe bạn bè rủ đi lấy tiền, đang trong lúc gia đình gặp hoàn cảnh khó khăn nên tưởng thật đã đi theo họ [vượt biên]".[81] Chị Mí Duôn ở buôn Pốt kể lại "sáng đó chồng mình đi tập huấn khuyến nông ở Buôn Ma Thuột. Ở nhà chỉ có mình và con gái H’ Diên Byă. Mình đang làm việc trong nhà thì thấy đám đông tới gọi đi, mình không hiểu đi đâu, nên từ chối. Thế là mấy đứa thanh niên xông vào bắt con H’ Diên Byă đang học lớp 7, đưa lên xe chở đi. Sợ quá, mình chạy lên chiếc xe khác đi theo để đòi con về".[82] Mục sư Siu Bek tại xã Chư Ă cho biết "đó là sự xuyên tạc trắng trợn. Bản thân tôi là một trong những mục sư vừa được tấn phong, đã có hơn 10 năm làm quản nhiệm, thường xuyên đi lại gặp gỡ các tín hữu, tôi chưa bao giờ gặp sự cản trở nào trong các hoạt động tôn giáo, kể cả trước đây, khi chi hội do tôi phụ trách chưa được công nhận tư cách pháp nhân"; mục sư Siu YKim tại xã Ia Mrơn nói "điều đó hoàn toàn trái với thực tế. Hôm nay, việc ra mắt chi hội Tin Lành Plei RNgol là một minh chứng rõ ràng"; mục sư Kơ Liêng Ha Sơng tại xã Lát khẳng định "kẻ đưa ra luận điệu xấu đó là Ksok Kok, một tên tội lỗi, là FULRO lưu vong nhiều năm sống ở đất Hoa Kỳ, cùng với một số kẻ xấu khác đã nhiều lần nói xấu Việt Nam, âm mưu khuấy động sự bình yên của vùng đất Tây Nguyên. Nói Nhà nước Việt Nam đàn áp tôn giáo là một sự vu cáo, bịa đặt".[83]

Chính phủ Việt Nam[sửa | sửa mã nguồn]

Các cơ quan thuộc chính phủ Việt Nam đều cho rằng cuộc biểu tình Tây Nguyên là do thế lực phản động–thù địch từ nước ngoài và các phần tử quá khích tại địa phương đã lôi kéo người dân tộc. Ngày 12 tháng 4 năm 2004, người phát ngôn Bộ Ngoại giao Việt Nam Lê Dũng nói "một số phần tử cực đoan ở một số địa phương tại Đắk Lắk và Gia Lai–với sự xúi giục từ nước ngoài–đã có hành động gây rối loạn xã hội, thậm chí tấn công chính quyền, phá hủy các dự án phúc lợi công cộng và tài sản ở một số làng".[59] Hai ngày sau, Người phát ngôn Bộ Ngoại giao Việt Nam Lê Dũng chính thức thông cáo "Việt Nam kiên quyết bác bỏ mọi luận điệu xuyên tạc với dụng ý xấu về cái gọi là đàn áp dân tộc, đàn áp tôn giáo ở Việt Nam. Thông tin về tình hình Tây Nguyên và cái gọi là 'Tổ chức Người Thượng' là hoàn toàn bịa đặt và đã được thổi phồng với dụng ý xấu".[39][84] Ngày 18 tháng 4, Chủ tịch Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam Phạm Thế Duyệt nói "các thế lực phản động, thù địch muốn gây chia rẽ dân tộc, muốn phá vỡ khối đại đoàn kết toàn dân, vi phạm chủ quyền đất nước. Nhưng đại đa số đồng bào Tây Nguyên yêu nước, đi theo đường lối đúng đắn của Đảng, không bị bọn phản động lừa gạt".[56] Ngày 19 tháng 4, Đại sứ quán Việt Nam tại Hoa Kỳ khẳng định "cuộc gây rối là có tổ chức, do những thế lực thù hận với Việt Nam ở nước ngoài tiếp tay. Có thể khẳng định rằng, ngoài một số phần tử quá khích nhận tiền từ bên ngoài, hầu hết những đồng bào dân tộc tham gia vụ này đều bị dụ dỗ, lôi kéo".[40] Đầu tháng 5, Ðại sứ đặc mệnh toàn quyền Việt Nam tại Ý Lê Vĩnh Thử cho biết "dư luận một số bộ phận quan chức và nhân dân Ý, một số chính khách ở Tòa thánh Vatican sau khi hiểu đúng thực trạng diễn ra ở Tây Nguyên, họ đã lên án hành động khủng bố, ly khai của bọn phản động Ðề-ga, đề nghị đưa chúng vào tội danh khủng bố".[51] Thứ trưởng Ngoại giao Lê Văn Bàng phủ nhận tuyên bố "có hàng trăm người bị giết" của tổ chức Tổ chức Quỹ người Thượng, quy trách nhiệm cho tổ chức này kích động vụ gây rối tại Buôn Ma Thuột và đồng thời thừa nhận có một số khó khăn trong vùng. Ông Lê Văn Bàng viện dẫn các nỗ lực của chính phủ Indonesia tại Aceh và tình hình bất ổn tại miền nam Thái Lan với khối dân đa số theo Hồi giáo.[63] Năm 2005, Thủ tướng Việt Nam ban hành “Chỉ thị về một số công tác đối với đạo Tin Lành”. Nội dung hướng dẫn các cấp chính quyền ở Tây Nguyên và Tây Bắc giúp đỡ các nhóm tín đồ Tin Lành đăng ký các hoạt động tôn giáo và hành đạo tại gia hoặc tại những “địa điểm phù hợp”, ngay cả khi “họ chưa đáp ứng đủ điều kiện để thành lập một giáo đoàn chính thức". Chỉ thị cũng hướng dẫn công chức địa phương cho phép các “nhà thờ tại gia” chưa đăng ký được hoạt động nếu họ “cam kết tuân thủ các quy định” và không liên kết với các phong trào chính trị ly khai.[85]

Năm 2012, Bộ trưởng Bộ Công an Việt Nam Trần Đại Quang nhận xét "một bộ phận quần chúng và một số ít cán bộ đảng viên hoang mang–dao động, một số nhận thức mơ hồ về Nhà nước Đêga" và "tồn tại tâm lý kỳ thị dân tộc Kinh–Thượng" cùng "hệ thống chính trị cơ sở hoạt động yếu kém–xa dân".[86] Đại sứ quán Việt Nam tại Băng Cốc thông cáo hiện tượng vượt biên trái phép sang Thái Lan không phải do đàn áp hay bị xua đuổi, mà do "kinh tế và hy vọng được tái định cư ở một nước thứ ba". Thông cáo khẳng định Việt Nam đã thực hiện "các chính sách phát triển kinh tế xã hội ở Tây Nguyên" và "tích cực tham gia với các nước láng giềng trong nỗ lực điều chỉnh di cư–ngăn chặn di dân bất hợp pháp".[74] Năm 2020, Bộ Ngoại giao Việt Nam thông cáo chính thức "Tổ chức Quỹ Người Thượng thực chất tập hợp một số tàn quân của FULRO chạy sang Hoa Kỳ, sau khi các hoạt động thổ phỉ của chúng bị đập tan vào đầu những năm 1990. Ksor Kok, tự nhận là "Tổng Thống" của cái gọi là "Nhà nước Đê Ga độc lập," ra sức hoạt động ly khai và vì mục đích đó vu cáo Việt Nam "đàn áp, bắt giam và cưỡng bức người dân tộc ít người bỏ đạo" Tin Lành ở Tây Nguyên, tìm mọi cách gây chia rẽ, phá hoại đoàn kết dân tộc, kích động bạo loạn... mà các vụ biểu tình, bạo loạn tại Tây Nguyên năm 2001 và 2004 là biểu hiện".[87] Ngày 17 tháng 7 năm 2020, Phó Tổng tham mưu trưởng Quân đội nhân dân Việt Nam Nguyễn Trọng Bình nhìn nhận sự kiện bị "xử lý chậm, gây hậu quả an ninh trật tự, chính trị trên địa bàn".[88][89]

Chính quyền địa phương[sửa | sửa mã nguồn]

Ngày 26 tháng 5, chủ tịch Uỷ ban Nhân dân tỉnh Đắk Lắk Nguyễn Văn Lạng thông cáo "nhiều người chỉ vì nhẹ dạ mà bị lôi kéo, sắp tới sẽ đưa một số người quá khích ra nói chuyện với nhân dân" và "những tay sai đắc lực của Ksor Kok sẽ xét xử về tội hủng bố". Nguyễn Văn Lạng diễn giải "Tòa thánh Vatican, Liên Hiệp Quốc đều không coi Tổ chức Quỹ người Thượng là một đảng phái chính thống, Campuchia không coi người vượt biên là tị nạn.,Thái Lan có những động thái tích cực" và cho rằng việc ly khai là vô lý".[90] Cựu giám đốc công an tỉnh Đắk Lắk Trần Kỳ Rơi bộc bạch "âm mưu của thế lực thù địch là kích động, dụ dỗ, lừa mị, tiêm nhiễm những tư tưởng xấu vào đồng bào dân tộc thiểu số nhằm chia rẽ mối quan hệ giữa các dân tộc với nhau, gây mất đoàn kết nội bộ. Từ đó, các đối tượng phản động sẽ lợi dụng sơ hở, điểm yếu trong nước để thực hiện mục đích chính trị".[46] Chủ tịch Uỷ ban Nhân dân tỉnh Gia Lai Nguyễn Vỹ Hà khẳng định "vụ việc ở Gia Lai nói riêng, Tây Nguyên vừa qua nói chung, kể cả vụ biểu tình của đồng bào dân tộc tháng 2 năm 2001 là một “kịch bản” bởi vì nó đã được dàn dựng chi tiết, cụ thể từ những kẻ lưu vong–phản động bên ngoài";[68] tái khẳng định "không có chuyện đàn áp đồng bào dân tộc thiểu số, ngăn cấm nhân dân tự do tín ngưỡng".[67]

Ngày 8 tháng 6, Uỷ ban Nhân dân tỉnh Lâm Đồng ra "chỉ thị 12/2004/CT-UB" nêu rõ quan điểm "thực hiện chiến lược diễn biến hòa bình, bạo loạn lật đổ, các thế lực thù địch ở nước ngoài đã chỉ đạo và giúp sức cho bọn Fulro lưu vong ở Hoa Kỳ từng bước phục hồi với các tên gọi Tổ chức Quỹ người Thượng, Nhà nước Đê Ga độc lập để chống phá sự nghiệp cách mạng của nhân dân ta. Với thủ đoạn thâm độc, xảo quyệt, bọn Fulro lưu vong đã ráo riết tuyên truyền kích động đòi ly khai, tự trị, chia rẽ giữa đồng bào dân tộc thiểu số với người Kinh, móc nối với số Fulro cũ và số cực đoan ở bên trong nhen nhóm hình thành tổ chức phản động trên một số địa bàn các tỉnh Tây Nguyên. Thủ đoạn của chúng là lợi dụng tín ngưỡng, dùng vật chất hoặc hù dọa để xúi dục cưỡng ép một bộ phận đồng bào dân tộc thiểu số biểu tình gây rối an ninh trật tự, chống người thi hành công vụ, trong tháng 2 năm 2001 và tháng 4 năm 2004 chúng đã gây ra hai cuộc biểu tình, bạo loạn tại các tỉnh Gia Lai, Đắk Lắk, Đắk Nông làm ảnh hưởng không tốt đến khối đại đoàn kết toàn dân và sự ổn định chính trị xã hội của đất nước, gây phức tạp cho ta trong quan hệ quốc tế".[91] Nghị quyết ngày 11 tháng 12 năm 2005 của Tỉnh ủy Gia Lai nhận định "công tác giáo dục quốc phòng toàn dân chưa sâu rộng, một bộ phận cán bộ, đảng viên và quần chúng còn mơ hồ, mất cảnh giác trước âm mưu “diễn biến hoà bình”, bạo loạn, lật đổ của các thế lực thù địch và bản chất phản động của FULRO. Thế trận quốc phòng toàn dân, thế trận an ninh nhân dân ở một số nơi còn thấp so với yêu cầu; phát triển kinh tế gắn với quốc phòng–an ninh chưa được chú trọng đúng mức".[92] Tháng 7 năm 2020, Bí thư Tỉnh ủy Đắk Lắk Bùi Văn Cường khẳng định "khi đồng bào giàu lên thì không còn chuyện kích động nữa".[88][89]

Truyền thông Việt Nam[sửa | sửa mã nguồn]

Báo Nhân Dân bình luận "các điểm nóng ở Tây Nguyên đã làm sáng tỏ như ban ngày sự thật về cái gọi là 'nhà nước Ðề-ga' của bọn Fulro phản động đội lốt tôn giáo. Hành động và mục tiêu của chúng là chống phá chính quyền cách mạng của dân do dân vì dân; phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân tộc; quấy rối cuộc sống yên bình của nhân dân, trong đó có chính những gia đình người dân tộc thiểu số ở Tây Nguyên. Những hành vi gây rối, khủng bố, ly khai, ly tán lòng người của bọn chúng là một tội ác, vi phạm nghiêm trọng hiến pháp và pháp luật, phải bị trừng trị, không dung tha".[51] Ngày 27 tháng 9 năm 2010, báo Gia Lai nhận định "xuất phát từ những âm mưu đen tối của bọn phản động FULRO lưu vong, đứng đầu là Ksor Kok đã bịa đặt, dựng chuyện, đưa ra những thông tin sai trái, phản động, nhằm chống phá chính quyền, gây mất ổn định an ninh trật tự, hòng đẩy cuộc sống của người dân rơi vào cảnh cơ cực".[20] Tuổi trẻ phân tích "tại Tây nguyên, đặc biệt là Đắk Lắk và Gia Lai, đã xảy ra vụ gây rối qui mô lớn. Hàng ngàn đồng bào dân tộc thiểu số đã bị kích động, xúi giục, ép buộc tham gia vào vụ gây rối này. Đằng sau đó là gì? Một "kịch bản Tây nguyên" với nhân vật "quen thuộc" là Ksor Kok (đang ở Hoa Kỳ) và những thông tin bịa đặt trắng trợn".[41] Sài Gòn Giải phóng nhận định "nói đến Ksor Kok lại nhớ năm 2001 và vụ bạo loạn của y cùng tổ chức phản động Fulro tại Tây Nguyên. Với giọng điệu bịp bợm 'Người dân tộc thiểu số phải có nhà nước riêng cho người dân tộc thiểu số', Kok đã lôi kéo nhiều người dân tộc thiểu số tách khỏi đạo Tin Lành chính thống để thành lập cái gọi là 'đạo Tin Lành Đêga' là đạo dành riêng cho người dân tộc thiểu số. Kok đã lên kế hoạch chống phá Nhà nước Việt Nam bằng chiêu bài đòi tự do tôn giáo cho 'đạo Tin lành Đêga'".[93]

Tạp chí lý luận của Ủy ban Dân tộc bình phẩm "cuộc gây rối ở Tây Nguyên theo kịch bản của bọn Fulro phản động lưu vong lần thứ hai đã bị thất bại thảm hại, nhưng với bản chất cuồng tín và tham vọng chính trị đen tối, Ksor Kok và bọn Fulro phản động lưu vong tại Hoa Kỳ vẫn còn tiếp tục chỉ đạo, hỗ trợ vật chất cho bọn phản động trong nước nằm vùng hoạt động".[35] Đài Tiếng nói Việt Nam cho rằng "qua các cuộc biểu tình bạo loạn 2001 và 2004 cho thấy hệ thống chính trị cơ sở vùng Tây Nguyên đã bộc lộ rõ sự yếu kém về năng lực và bản lĩnh chính trị, nhiều nơi bị vô hiệu hóa, cán bộ không dám đấu tranh trực diện với số đối tượng FULRO".[94] Báo Quân dội nhân dân phân tích "các thế lực thù địch đã từng lợi dụng vấn đề dân tộc, tôn giáo ở Tây Nguyên gây ra bạo loạn vào năm 2001 và 2004. Nhóm tàn quân FULRO lưu vong ở nước ngoài do Ksor Kơk đứng đầu đã tuyên truyền, dụ dỗ người dân, âm mưu thiết lập “Nhà nước Cộng hòa Đêga” ở Tây Nguyên. Quy mô của vụ gây rối ở các tỉnh: Đắc Lắc, Gia Lai và Đắc Nông (ngày 10 tháng 4 năm 2004) lên đến gần 10.000 người. Đây là một âm mưu, hành động cực kỳ nguy hiểm, táo bạo, hòng phá hoại sự toàn vẹn lãnh thổ, thống nhất đất nước của dân tộc Việt Nam".[95] Báo Bình Phước nhận định "năm 2001, đặc biệt là cao điểm năm 2004, đồng bào các dân tộc ở Tây Nguyên đã bị xúi giục, kích động làm mất an ninh trật tự, chống đối chính quyền và nhắm tới mục tiêu bạo loạn lật đổ của các thế lực thù địch. Ở góc độ địa lý, vụ việc được giải quyết trong phạm vi Tây Nguyên, nhưng cũng tác động mạnh tới đồng bào các dân tộc thiểu số ở vùng lân cận, như đồng bào M'Nông ở huyện Bù Đăng của Bình Phước, đặc biệt là những trường hợp có người thân–dòng tộc ở Tây Nguyên".[96] Anh Thư trên báo Hà Nội Mới cho rằng ở Tây Nguyên với "những yếu kém của nội bộ chúng ta chưa tới mức nảy sinh mâu thuẫn lớn, nhưng đã bị bọn xấu lợi dụng để thực hiện ý đồ ly khai, chia rẽ, chống phá cách mạng nước ta".[97]

Học giả Việt Nam[sửa | sửa mã nguồn]

Nhiều học giả trong nước cho rằng vụ biểu tình Tây Nguyên năm 2004 bị lôi kéo bởi các thế lực thù địch – phản động, trong khi số khác cho rằng công chức địa phương lơ là chủ trương – chính sách và cần thiết phải kết hợp tính tự trị–tự do tôn giáo đặc trưng tại Tây Nguyên. Học viện Nông nghiệp Việt Nam, trong một tài liệu xuất bản vào tháng 3 năm 2020, cho rằng đây những âm mưu, thủ đoạn lợi dụng vấn đề dân tộc, tôn giáo nhằm "lôi kéo, tranh giành dân tộc, gây đối trọng với Đảng, chính quyền."[98] Chu Văn Tuấn tại Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam nhận định vụ bạo loạn Tây Nguyên tuy có yếu tố tộc người nhưng không phải là xung đột sắc tộc – tôn giáo, mà thật ra "mang màu sắc chính trị vì có sự tham gia của các thế lực phản động kích động, chống phá".[99] Phó giáo sư Nguyễn Văn Minh tại Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam cho rằng những cuộc bạo loạn do 'Tin Lành Đêga' tổ chức để gây rối nhằm "quốc tế hóa và chính trị hóa vấn đề tôn giáo", đồng thời tìm cách khống chế, làm mất uy tín cán bộ, đảng viên cốt cán ở địa phương".[100] Theo Tiến sĩ Phạm Ngọc Đại tại Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh, các phần tử FULRO lưu vong là lực lượng cầm đầu, kích động, lôi kéo người dân tộc thiểu số vượt biên trái phép sang Campuchia nhằm tị nạn chính trị, đồng thời "xây dựng lực lượng để tiếp tục chống phá cách mạng".[31] Ngoài ra, theo Viện trưởng Viện Khoa học xã hội vùng Tây Nguyên Bùi Minh Đạo, trong bạo loạn Tây Nguyên năm 2004, "nhóm người cầm đầu có kinh tế khá giả chứ không phải người nghèo".[101]

Giáo sư kiêm cựu viện trưởng Viện Nghiên cứu Tôn giáo Đỗ Quang Hưng bình luận "qua hai cuộc bạo loạn chính trị ở Tây Nguyên (tháng 2 năm 2001 và tháng 4 năm 2004) có liên quan đến 'vấn đề Tin Lành' cho thấy địa phương nào làm tốt chuyện 'pháp nhân', chính ở đó yếu tố lợi dụng vấn đề đạo Tin Lành ['Tin Lành Đê ga'] lại giảm hơn".[102] Tiến sĩ Nguyễn Yến Thanh tại Học viện Chính trị Công an nhân dân nhận định "các đơn vị Quân đội, Công an, Bộ đội Biên phòng cần thường xuyên sâu sát cơ sở" và cần "nâng cao khả năng sẵn sàng chiến đấu–tăng cường công tác bảo vệ chính trị nội bộ".[103] Tiến sĩ Phạm Văn Hồ tại Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh phân tích nguyên nhân không chỉ do các thế lực thù địch gia tăng hoạt động chống phá, "mà còn xuất phát từ việc chưa thực hiện tốt chủ trương – chính sách của Đảng, Nhà nước hoặc do một số chính sách xã hội chưa thực sự phù hợp với điều kiện đặc thù của vùng Tây Nguyên nhưng lại chậm được điều chỉnh, bổ sung, hoàn thiện".[104] Tiến sĩ Nguyễn Quốc Sửu tại Học viện Hành chính kết luận "phải xem xét đến những hằng số văn hóa – xã hội mà một trong số đó là tính tự trị của cộng đồng các dân tộc bản địa Tây Nguyên", Nguyễn Quốc Sửu diễn giải "khi nào tính tự trị ấy hàm chứa trong chính sách cho Tây Nguyên thì vùng đất này sẽ yên bình và ngược lại".[105] Chung Van Hoang tại Viện Á châu học Quốc tế (International Institute for Asian Studies, IIAS) nhận định "những cuộc biểu tình này bị kích động và hỗ trợ tài chính từ Hiệp hội người Thượng Đêga cùng sự bảo trợ của thành viên FULRO", đồng thời cho rằng "sự can thiệp tích cực của chính quyền địa phương nhằm thuyết phục người Tin Lành H'Mông trở lại với truyền thống dân gian của họ" dẫn đến "một số lượng lớn người H'Mông Tin Lành di cư vượt biên, một phần để thoát khỏi những can thiệp đó, một phần hy vọng thoát khỏi xung đột và nghèo túng".[106]

Quốc tế[sửa | sửa mã nguồn]

Tổ chức Quỹ người Thượng[sửa | sửa mã nguồn]

Chủ tịch Tổ chức Quỹ người Thượng Ksor Kok trả lời AFP rằng nhiều người Thượng biểu tình đã bị thương, đồng thời kêu gọi Liên Hiệp Quốc điều tra thảm kịch này.[107] Ksor Kok khẳng định "điều [buộc tội] đó là sai",[42] "đây là cuộc biểu tình phi bạo lực".[64] Ksor Kok thừa nhận đã tiếp xúc với người Thượng vùng cao, nhưng nói rằng những người tổ chức tự quyết định biểu tình bất bạo động và từ chối lời khuyên chờ đến mùa thu [của Ksor Kok], đề nghị [những người tổ chức] gọi đó là một buổi cầu nguyện chứ không phải là một cuộc biểu tình.[34] Năm 2014, đề cập đến người tị nạn tại Campuchia, Ksor Kok nói "Nếu chính phủ Campuchia có lòng trắc ẩn, họ có thể giúp đỡ những người đó. Hoặc họ có thể trục xuất và những người đó sẽ chết. Người dân tộc chúng tôi đã mất hết hy vọng vì không ai quan tâm đến chúng tôi nữa. Ngay cả chính quyền liên bang Hoa Kỳ cũng không làm gì cho chúng tôi. Mọi người đều muốn lờ chúng tôi vì số lượng người dân tộc chúng tôi rất ít và đất của chúng tôi quá nhỏ. Mọi người đều muốn giúp Việt Nam – và chúng tôi đang cản trở – bởi vì mọi người đều muốn ngăn chặn sự bành trướng của Trung Quốc. Không ai muốn nói Việt Nam làm gì xấu cả. Họ muốn chúng tôi chết đi. Tất cả những gì chúng tôi có thể làm là cầu nguyện".[108] Ksor Kok bộc bạch "nhiều lần nói với người Thượng Việt Nam không được vượt biên vào Campuchia. Tôi đã nói với họ rằng đừng đi vì chính phủ Campuchia bị Việt Nam kiểm soát".[109]

Chính phủ nước ngoài[sửa | sửa mã nguồn]

Liên minh Châu Âu gửi một công hàm ngoại giao cho Việt Nam bày tỏ quan ngại về các vụ biểu tình, đề nghị chính phủ Việt Nam cho phép cơ quan tị nạn Liên Hiệp Quốc cũng như các nhà ngoại giao, các cơ quan truyền thông và các tổ chức phi chính phủ đến Tây nguyên thị sát.[63] Ngày 11 tháng 4, Bộ trưởng Ngoại giao Ý Franco Frattini tuyên bố "chính phủ Ý sẽ cố gắng giải thích với Hà Nội rằng việc duy trì một quan hệ tốt đẹp với Ý và Liên minh châu Âu là có ích cho chính Việt Nam. Và vì thế, Việt Nam cần cho phép Cao ủy Liên Hiệp Quốc về người tị nạn (UNHCR) được có hành động và tiếp xúc ngay lập tức tại các khu vực có liên quan đến các vụ biểu tình. Trong một vụ việc bi thảm như thế này, Liên minh châu Âu (EU) cần biểu lộ ý thức trách nhiệm và hiệu quả mà các công dân châu Âu mong đợi. Ngày mai, phái bộ của Ý ở Bruxelles sẽ hối thúc EU hành động nhanh chóng. Lần này, châu Âu nên hành động nhanh chóng hơn là trước đây", đồng thời cho biết Đại sứ quán Ý tại Hà Nội đề đạt yêu cầu đến chính phủ Việt Nam.[110] Ngày 13 tháng 4, Bộ Nội vụ Campuchia tố cáo Cao ủy Liên Hiệp Quốc về người tị nạn (UNHCR) "tổ chức, xúi giục, di chuyển và tiếp nhận trái phép" người dân tộc thiểu số ở Tây Nguyên thuộc Việt Nam vào thành phố Phnôm Pênh và coi đó là "hành động vi phạm chủ quyền quốc gia"; đồng thời Bộ Ngoại giao Campuchia gọi những hành động của nhân viên Cao ủy Liên Hiệp Quốc về người tị nạn là sự "lộng quyền" khi tự ý di chuyển và tiếp nhận người nước ngoài mà không được sự đồng ý của chính phủ Campuchia.[111][112][113] Cùng ngày, phát ngôn viên của Đại sứ quán Hoa Kỳ tại Hà Nội cho biết đã gửi công văn tới Bộ Ngoại giao Việt Nam đề nghị được thị sát Tây Nguyên, Cao ủy châu Âu về Quan hệ Đối ngoại Chris Patten hội đàm với Bộ trưởng Ngoại giao Việt Nam Nguyễn Dy Niên bên lề hội nghị cấp bộ trưởng các nước Á–Âu tại Dublin thuộc Cộng hòa Ireland vào ngày 17 tháng 4. Đồng thời, người phát ngôn của Ủy hội châu Âu tại Bruxelles thuộc Bỉ thông cáo "chúng tôi có nghe nói về tình trạng thương vong, những chi tiết rất đáng quan ngại, thế nhưng chúng tôi vẫn đang chờ đợi để có một bức tranh rõ ràng hơn về những gì đã diễn ra cũng như mức độ của sự kiện", người phát ngôn của Ủy hội châu Âu tại Hà Nội Christoph Wiesner tuyên bố "vấn đề tôn trọng nhân quyềntự do tôn giáo là chủ đề chúng tôi thường xuyên mang ra bàn với phía Việt Nam, chứ không chỉ trong cuộc gặp tới giữa ông Chris Patten và Ngoại trưởng Việt Nam. Chúng tôi cũng đang có đối thoại với chính phủ Việt Nam về vấn đề nhân quyền với một thỏa thuận mới trong việc thành lập một nhóm công tác trong lĩnh vực này".[58] Cao ủy Liên Hiệp Quốc về người tị nạn tại Băng Cốc thông báo theo dõi sát tình hình tại vùng Tây Nguyên, Đại sứ quán Hoa Kỳ tại Hà Nội cảnh báo công dân người Mỹ không nên đến Đắk Lắk và Gia Lai vào thời điểm này.[49] Đối với việc Việt Nam khiếu nại Đảng cấp tiến xuyên quốc gia (TRP) sử dụng tư cách tham vấn của Ủy ban Các tổ chức phi chính phủ (NGO) để Ksor Kok hoạt động tại Việt Nam, Hội đồng Kinh tế và Xã hội Liên Hiệp Quốc ngày 23 tháng 7 tiến hành bỏ phiếu với 20 phiếu thuận—22 phiếu chống—11 phiếu trắng và chính thức quyết định bác bỏ khiếu nại của Việt Nam, đại diện các quốc gia trước đó bình luận:[114]

  •  Bénin: "Thảo luận hôm nay xác nhận sự cần thiết phải hợp lý hóa chức năng và hoạt động của ECOSOC, để nó có thể đóng góp hiệu quả cho những tiến bộ kinh tế và xã hội của các quốc gia. Nếu có những vấn đề mới được đưa ra Hội đồng, những vấn đề đó nên được đưa đến Ủy ban, sau đó sẽ đưa ra khuyến nghị cho Hội đồng. Điều này để việc tuyển chọn của NGO sẽ không trở thành một vấn đề chính trị hóa cao". Sau đó, phái đoàn Bénin rút lại đề xuất.
  •  Cuba: "TRP không thực sự là một tổ chức phi chính phủ, mà là một nhóm các đảng phái chính trị quốc tế giống như Dân Chủ Kitô Giáo. Đưa ra tư cách tham vấn cho nhóm là một phần từ sự linh hoạt của Ủy ban Các tổ chức phi chính phủ (NGO). Tuy nhiên, TRP đã có xu hướng công nhận cho các cá nhân và các tổ chức khủng bố tham gia phiên họp của Ủy ban Nhân quyền. Lệnh trừng phạt không nhằm chống lại TRP vì những gì nó đại diện, nhưng yêu cầu tuân thủ nghiêm ngặt khắt khe nghị quyết điều chỉnh NGO công nhận. Một trong những căn cứ để đình chỉ là khi một tổ chức tạo điều kiện cho hành vi đi ngược lại Hiến chương Liên Hiệp Quốc, trong trường hợp này đe dọa toàn vẹn lãnh thổ và chủ quyền của các quốc gia. Ủy ban đã xem xét trường hợp này lâu dài và đã đề nghị đình chỉ.[...] Đã có một cuộc tranh luận kỹ lưỡng trong Ủy ban về vấn đề này. Tính nhất quán được yêu cầu, không phải là một tiêu chuẩn kép. Một tổ chức khác vừa bị đình chỉ cũng đã vi phạm liên quan đến việc công nhận. TRP đã vi phạm nghị quyết 1996/31 và đã hoạt động vi phạm toàn vẹn lãnh thổ và chủ quyền của một quốc gia".
  •  Hà Lan: "Đề xuất đình chỉ Đảng Cấp tiến xuyên quốc gia (Transnational Radical Party, TRP) trong ba năm dựa trên đơn khiếu nại của Việt Nam đối với đảng vì đã công nhận cho Kok Ksor—Chủ tịch Tổ chức Quỹ người Thượng—tại phiên họp thứ năm mươi tám của Ủy ban Nhân quyền. Cả ông Ksor và Quỹ người Thượng đều không xuất hiện trong bất kỳ danh sách cá nhân và tổ chức khủng bố nào của Liên Hiệp Quốc hoặc Liên minh Châu Âu. Không có bằng chứng đáng tin cậy để chứng minh cho tuyên bố rằng ông Ksor là một phần tử khủng bố, không có trường hợp nào thể hiện Đảng Cấp tiến xuyên quốc gia (TRP) cố gắng phá hoại chủ quyền hoặc toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam. Không có tiêu chí nào để đình chỉ, trong đó bao gồm một mô hình hành vi rõ ràng trái mục đích và nguyên tắc của Hiến chương Liên Hiệp Quốc, các hoạt động tội phạm được quốc tế công nhận hoặc không có đóng góp tích cực nào cho công việc của Liên Hiệp Quốc, được áp dụng. Nếu Hội đồng quyết định đình chỉ tư cách tham vấn của Đảng Cấp tiến xuyên quốc gia, họ sẽ hành động coi thường rõ ràng và vi phạm các thủ tục của chính mình"
  •  Hoa Kỳ: "Những bình luận từ phía Việt Nam cần được xem xét nghiêm túc, nhưng hành động khủng bố đó nên được bàn thảo trong một diễn đàn khác. Hội đồng Bảo an, trên thực tế, đã không mô tả TRP là một tổ chức như vậy. Các cáo buộc được đưa ra là một cuộc tấn công vào các tổ chức phi chính phủ với một hồ sơ đặc biệt, một trong số đó là một người bảo vệ tự do. Việc đình chỉ ba năm không phù hợp với thực tiễn NGO. Phái đoàn sẽ bỏ phiếu chống lại việc đình chỉ TRP".
  •  Indonesia: "Ủy ban Các tổ chức phi chính phủ (NGO) không nên lạm dụng vị thế của họ và tư cách tham vấn của các tổ chức phi chính phủ có thể bị đình chỉ nếu có bằng chứng rõ ràng đã tham gia vào các hành vi trái với các nguyên tắc của Hiến chương Liên Hiệp Quốc. Indonesia sẽ bỏ phiếu ủng hộ việc đình chỉ".
  •  Nga: "TRP đã được yêu cầu trong nhiều năm về các báo cáo đặc biệt, nhưng tổ chức này tiếp tục vi phạm các quy định của nghị quyết 1996/31. Các cáo buộc từ Việt Nam liên quan đến các hoạt động đi ngược lại Hiến chương Liên Hiệp Quốc. Cần phải tôn trọng lợi ích của các quốc gia thành viên. Do đó, phái đoàn sẽ bỏ phiếu ủng hộ quyết định dự thảo".
  •  Trung Quốc: "TRP đã lạm dụng tư cách tham vấn. Hành vi của TRP trái với các quyết định của ECOSOC khi quy định cho các tổ chức phi chính phủ tôn trọng Hiến chương Liên Hiệp Quốc và chủ quyền quốc gia. Ủy ban Các tổ chức phi chính phủ (NGO) đã thảo luận về vấn đề này và Việt Nam đã đệ trình bằng chứng thuyết phục cho Ủy ban. Phái đoàn sẽ bỏ phiếu ủng hộ đình chỉ tham vấn trong ba năm".
  •  Ý: "Ba báo cáo đặc biệt được chuẩn bị bởi TRP đã được chú ý đúng mức. Không có tổ chức nào nên có tình trạng bị đình chỉ đơn thuần chỉ vì nó thu hút sự chú ý đến các vi phạm nhân quyền bị cáo buộc. Không có tiêu chí nào cho việc đình chỉ được đáp ứng. Từ chối tất cả các hành động bạo lực đối với các cá nhân hoặc quốc gia bắt nguồn sâu sắc từ các hành động của TRP. Không có khủng bố hay ly khai đã được chứng minh, những cáo buộc đó là sai. Lịch sử tham gia TRP trong các cơ quan của Liên Hiệp Quốc cho thấy họ luôn tuân thủ các quy tắc và quy định của Liên Hiệp Quốc. Đại diện của Việt Nam đã thừa nhận, trong một bức thư gửi Hội đồng, rằng vấn đề không nằm ở TRP, mà là sự tham gia của ông Ksor trong Ủy ban Nhân quyền. Không có bằng chứng cho bất kỳ cáo buộc nào được đưa ra chống lại ông Ksor hoặc MFI. Nếu được thông qua, quyết định này sẽ làm suy yếu uy tín của Liên Hiệp Quốc trong cuộc chiến chống khủng bố. Quỹ người Thượng đã đấu tranh vì sự tôn trọng các quyền cơ bản của con người. Bất kỳ hành động chống lại một tổ chức phi chính phủ nào cũng xứng đáng nhận được sự quan tâm đúng mức của Hội đồng và không nên được đưa ra trong các cáo buộc chưa được chứng minh. Không có trường hợp nào khiến Tổ chức nên hạn chế quyền truy cập của các tổ chức xã hội dân sự vì lý do chính trị".
  •  Việt Nam: "Ủy ban Các tổ chức phi chính phủ (NGO) đã quyết định đình chỉ trong ba năm tình trạng tham vấn của TRP vì họ đã lạm dụng tư cách qua cách thừa nhận nội bộ có một kẻ khủng bố—Kok Ksor và tổ chức lật đổ của ông ta (Montagnard Foundation, Inc., MFI)—cam kết bảo trợ để ông ta tham dự các cuộc họp và hội nghị của Liên Hiệp Quốc trong nỗ lực thúc đẩy chiến dịch của họ hướng tới một 'Nhà nước Đê ga độc lập' tại vùng Tây Nguyên của Việt Nam. TRP đang tham gia vào các hoạt động khủng bố, nhưng vẫn có những nỗ lực để đặt câu hỏi về những sự thật này. Kok Ksor và MFI đã tổ chức các cuộc bạo loạn vào tháng 2 năm 2001, TRP đã công nhận họ và bảo trợ họ tham dự các cuộc họp và hội nghị của Liên Hiệp Quốc dưới tên của TRP. Sự công nhận của TRP đã lặp lại lần nữa trong ba năm qua, bất chấp các cuộc biểu tình tại Việt Nam. Nghị quyết 1996/31 của ECOSOC quy định rằng các tổ chức phi chính phủ có tình trạng như vậy không được tham gia vào 'những hành động thúc đẩy chính trị chống lại các quốc gia thành viên Liên Hiệp Quốc'. Những bức thư đệ trình lên Liên Hiệp Quốc đã được lưu hành rất muộn. Thư đã không được thảo luận vì chỉ dẫn từ các khu nhất định".
  • Đảng Cấp tiến xuyên quốc gia (Transnational Radical Party, TRP): "Đảng là một tổ chức vận động, trong đó vận động chống lại sự bất công ở mọi nơi trên thế giới được tìm thấy. Tại New York, TRP đã hỗ trợ các sứ mệnh nhỏ với sự trợ giúp tư pháp. Phái đoàn của TRP đã lên án khủng bố vì kinh nghiệm 11 năm của chính nó và nó không liên kết với bất kỳ tổ chức nào có khuynh hướng khủng bố. Đoàn của TRP yêu cầu Hội đồng thực thi công lý. TRP đã không làm gì trái với tinh thần của nghị quyết. TRP chỉ mang lại cho ông Ksor một nền tảng tại Việt Nam để nâng cao quan điểm của mình, không có bằng chứng nào cho thấy ông Ksor đã tham gia vào bất kỳ hoạt động khủng bố nào".

Ngày 16 tháng 7, Quốc vương Campuchia Norodom Sihanouk cho biết không thể tiếp cận và cung cấp nhu yếu phẩm cho người Thượng tị nạn tại Ratanakkiri, đổ lỗi cho chính phủ Campuchia có mối quan hệ chặt chẽ với Hà Nội khi trục xuất người Thượng với định danh "nhập cư bất hợp pháp", đồng thời tuyên bố "người Thượng chạy trốn khỏi Việt Nam không thể rời khỏi nơi ẩn láu, bời vì nếu họ làm điều đó, họ sẽ bị biến mất theo cách này hay cách khác sau khi họ nhận được viện trợ nhân đạo của tôi, hoặc họ sẽ được dẫn độ trở lại cho chính quyền Việt Nam".[65] Tháng 9 năm 2004, Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ đưa Việt Nam vào danh sách Các quốc gia đáng quan tâm đặc biệt theo Đạo luật Tự do Tôn giáo Quốc tế (IRFA) vì vi phạm đặc biệt nghiêm trọng về tự do tôn giáo.[115]

Truyền thông quốc tế[sửa | sửa mã nguồn]

BBC cho rằng "Việt Nam sẽ phải đương đầu với một làn sóng chỉ trích mới từ phía các nước châu Âu" nếu các cáo buộc về vi phạm được chứng thực.[58] Đài Á Châu Tự Do nhận định người Thượng đã chiến đấu bên cạnh Lực lượng đặc nhiệm Hoa Kỳ trong Chiến tranh Việt Nam và "hàng trăm người đã vượt biên sang Campuchia trong những năm gần đây" do chính phủ Việt Nam đàn áp tôn giáo người thiểu số chủ yếu theo Cơ Đốc giáo – chiếm đoạt đất đai của họ.[77] Al Jazeera bình luận "ngoài các vấn đề về tôn giáo và đất đai, liên minh cũ giữa người Thượng và Hoa Kỳ trong Chiến tranh Việt Nam tiếp tục làm trầm trọng thêm nghi ngờ của chính quyền cộng sản khi cho rằng họ [người Thượng] đại diện cho mối đe dọa ngoại bang đối với sự thống nhất quốc gia".[74] The New York Times cho rằng "tuyên bố đức tin Kitô giáo và lòng trung thành chiến đấu sát cánh cùng Hoa Kỳ trong Chiến tranh Việt Nam (đến khi kết thúc vào năm 1975) khiến họ [người Thượng] bị chính quyền ở Hà Nội khinh miệt".[28] The Guardian nêu quan điểm "các nhóm nhân quyền và các phái đoàn ngoại giao tại Việt Nam nghi ngờ phản ứng công khai quá mức của chính phủ, cũng như việc các bộ trưởng cấp cao được phái đến khu vực này trong vài ngày và báo chí bị kiểm soát chặt chẽ đã đưa ra vấn đề bao quát bất thường– có nghĩa là những gì xảy ra nghiêm trọng hơn nhiều so với thừa nhận".[42] The New Humanitarian bình luận "người Thượng đã trải qua một lịch sử bị lạm dụng ở Việt Nam—nơi họ không chỉ phải đối mặt với sự phân biệt đối xử dựa trên sắc tộc—mà còn bị đàn áp trên cơ sở tôn giáo". Báo cáo viên đặc biệt của Liên Hiệp Quốc về tự do tôn giáo Heiner Bielefeldt xác nhận "nhiều nhà thờ dân tộc thiểu số ở miền Trung Việt Nam bị buộc phải đóng cửa, các mục sư của họ bị bắt và bỏ tù. Rất nhiều người trong số họ buộc phải chạy trốn hoặc ẩn náu sau các cuộc biểu tình lớn kêu gọi quyền đất đai và tự do tôn giáo. Một số người cũng bị buộc phải từ chối đức tin hoặc rời khỏi làng của họ".[116]

The Cambodia Daily nhận định "người Thượng Việt Nam, còn được gọi là Đêga, từ lâu đã bị bức hại vì ủng hộ lực lượng Hoa Kỳ và Pháp trong Chiến tranh Đông Dương lần thứ nhất và thứ hai. Hầu hết người Thượng đều thực hành theo nghi thức Tin Lành mà chính quyền Việt Nam đã đặt ra ngoài vòng pháp luật, dẫn đến một cuộc đàn áp dữ dội đối với các nhà thờ của người Thượng từ năm 2001 đến 2011".[109] The Irish Times phân tích "các bộ lạc người Thượng đã chiến đấu bên cạnh chính quyền thực dân Pháp chống lại Việt Minh cộng sản của Hồ Chí Minh trong thập niên 1940 và 1950... Khi Hoa Kỳ tham chiến ở Việt Nam vào thập niên 1960, người Thượng được Lực lượng đặc nhiệm Hoa Kỳ săn đón đào tạo về chiến tranh rừng rậm ở Tây Nguyên chiến lược, nơi hình thành vùng đệm giữa miền bắc và miền nam Việt Nam".[75] The Washington Post nhận định "truyền thông nhà nước đưa tin rất ít về tình trạng bất ổn ở Tây Nguyên, ngoại lệ thỉnh thoảng có câu chuyện về việc bắt giữ du kích hoặc người dân phá vỡ 'đoàn kết dân tộc'".[76] Asia Times phân tích "thời Pháp thuộc, người Thượng được hưởng quyền tự trị đáng kể. Người Pháp bổ nhiệm người Thượng vào các vị trí chính thức từ cấp tỉnh xuống cấp thôn, họ không thể có được vị trí cao hơn trong hệ thống của Pháp. Người Thượng từ lâu đã bị mắc kẹt giữa những tình huống khó khăn. Trong cuộc chiến xảy ra ở Việt Nam khoảng thời gian 30 năm từ năm 1945 đến năm 1975, người Thượng đã được tuyển chọn bởi tất cả các bên và chịu tổn thất nặng nề. Vào cuối cuộc chiến, nhiều người Thượng cảm thấy bị bỏ rơi bởi mọi phía... Khi hàng nghìn người Thượng biểu tình phản đối đàn áp tôn giáo và tịch thu đất đai tổ tiên của họ vào năm 2001 và 2004, quân đội và cảnh sát đã đàn áp mạnh mẽ".[117] VOA nhận xét "chính phủ cộng sản tại Việt Nam chỉ thừa nhận một số tôn giáo được nhà nước bảo trợ và đã nhiều lần xung đột với các tín đồ Phật giáo và công giáo. Các tổ chức nhân quyền quốc tế nói rằng một số người sắc tộc thiểu số đã bị ngược đãi vì tôn giáo của họ và bị buộc phải từ bỏ tín ngưỡng".[107]

Học giả quốc tế[sửa | sửa mã nguồn]

Giáo sư danh dự Carlyle Alan Thayer tại Học viện Quốc phòng Úc nói "Việt Nam sẽ không hài lòng nếu người dân tộc thiểu số vùng cao [tìm kiếm] tị nạn ở Campuchia được cấp quy chế tị nạn. Điều này sẽ tác động đến vị thế quốc tế của Việt Nam cũng như kích thích các dân tộc thiểu số khác chạy trốn khỏi Việt Nam".[118] Theo tác giả người Mỹ gốc Việt Hoàng Dung, "Binh đoàn 16 thành lập tại Đắk Lắk đã khai hoang 584.032 mẫu rừng để trồng cà phê–hạt tiêu–cao su cùng với sự di dân từ các vùng khác và nạn tham nhũng của công chức hành chính địa phương.[...] Ngoài những túng quẫn về vật chất, họ còn bị chính quyền tìm cách trói buộc về nhiều phương diện sinh hoạt, nhất là bóp nghẹt quyền tự do tín ngưỡng của họ, đặc biệt với những người theo Công Giáo hay Tin Lành".[119]

Tổ chức phi chính phủ[sửa | sửa mã nguồn]

Tổ chức Theo dõi Nhân quyền nhận định "chính quyền đã tuyên bố những người thiểu số theo các nhà thờ tại gia độc lập hoặc không đăng ký là “Tin Lành Đêga”, [chính quyền] khẳng định rằng đó không phải là một tôn giáo hợp pháp mà là vỏ bọc cho một phong trào ly khai của người Thượng. Báo chí ở Việt Nam bị kiểm soát chặt chẽ, giới ký giả ngoại quốc bị ngăn cấm tự do đi tới những khu vực nhạy cảm ngoài Hà Nội, các tổ chức nhân quyền quốc tế độc lập bị từ chối không được đến thăm, rất khó có được những thông tin chi tiết có thể kiểm chứng về hiện tình ở Tây Nguyên".[26] Năm 2011, phó giám đốc châu Á của Tổ chức Theo dõi Nhân quyền Phil Monton cho biết "người Thượng phải đối mặt với sự đàn áp khốc liệt ở Việt Nam, đặc biệt là những người thờ phượng trong các nhà thờ độc lập bởi vì chính quyền không dung thứ cho hoạt động tôn giáo ngoài tầm nhìn hoặc kiểm soát của họ. Chính phủ Việt Nam đã liên tục siết chặt các nhóm tôn giáo người Thượng độc lập, cho rằng họ đang sử dụng tôn giáo để kích động tình trạng bất ổn".[11] AsiaNews cho rằng "người Thượng là đồng minh của Hoa Kỳ trong Chiến tranh Việt Nam và nhiều người đã tái định cư tại Hoa Kỳ. Sau cuộc biểu tình lớn vào tháng tư nhằm chống lại sự đàn áp tôn giáo và tịch thu đất đai, nhiều người Thượng đã chạy trốn khỏi Tây Nguyên".[120] Hội Địa lý Quốc gia bình luận "quan hệ giữa chính quyền Hà Nội và các dân tộc thiểu số rất nhạy cảm. Vào năm 2001 và 2004, các cuộc biểu tình nhân quyền lớn của những bộ lạc vùng cao đã dẫn đến nhiều cái chết và tống giam hàng loạt. Một thời gian sau đó, Tây Nguyên bị phong tỏa với người nước ngoài. Các cuộc biểu tình và bạo loạn lác đác ở quy mô nhỏ hơn vẫn xảy ra, chính phủ bị cáo buộc vi phạm nhân quyền phổ biến ở các khu vực thiểu số".[121]

Hệ quả[sửa | sửa mã nguồn]

Người Thượng tại Tây Nguyên[sửa | sửa mã nguồn]

Tính đến tháng 1 năm 2005, Tổ chức Theo dõi Nhân quyền thống kê khoảng 770 người Thượng xin tị nạn tại Phnôm Pênh thuộc Campuchia (296 người được công nhận, 126 người bị từ chối, còn lại đang chờ quyết định), nhiều người Thượng được công nhận tị nạn nhưng từ chối tái định cư sang nước thứ ba và muốn ở lại Campuchia.[33] Tính đến năm 2006, 561 người Thượng tái định cư sang nước thứ ba (Hoa Kỳ, Canada), 163 người Thượng bị trục xuất về Việt Nam, 26 người ở lại Campuchia.[122] Theo báo cáo về tình hình nhân quyền năm 2009 của Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ, hơn 100 người Thượng tham gia biểu tình năm 2001 và năm 2004 tại Tây Nguyên được thả tự do trong năm 2009, trong đó có 11 người Thượng được thả vào đợt ân xá nhân dịp Ngày Quốc Khánh.[123] Đài Á Châu Tự Do cho biết khoảng 200 người Thượng tại Tây Nguyên vẫn bị giam giữ đến năm 2018 vì tham gia biểu tình trong thập niên 2000 và đa số đều không có người thăm.[73] Theo tiến sĩ Nguyễn Thị Hoài Phương tại Học viện Hành chính, tỷ lệ người dân tộc thiểu số bản địa Tây Nguyên có xu hướng giảm do tỷ lệ tăng dân số tự nhiên khá cao và tỷ lệ di dân tự phát từ nơi khác đến rất cao, dẫn đến nạn phá rừng và mua bán đất đai cùng nhiều vấn đề môi trường, di cư tự phát đến Tây Nguyên khiến quy hoạch phát triển kinh tế vùng bị phá vỡ.[10] Năm 2018, Tạp chí Nghiên cứu Dân tộc đề xuất chính phủ Việt Nam đầu tư hỗ trợ các tỉnh vùng trung du và miền núi phía Bắc nhằm giảm di dân tự phát đến Tây Nguyên, vùng dân cư khó khăn nên tái định cư theo quyết định193/2006/QĐ-TTg, quy hoạch lại di dân cư trú tại Tây Nguyên theo Quyết định 193.[17]

Chính phủ Việt Nam[sửa | sửa mã nguồn]

Tháng 7 năm 2004, Cục An ninh Tây Nguyên (thuộc Tổng cục An ninh II–Bộ Công an) được thành lập, mục tiêu nhằm chống âm mưu diễn biến hoà bình và bạo loạn lật đổ.[124][125] Thủ tướng Phan Văn Khải ban hành Quyết định 134, cam kết cung cấp cho mỗi hộ gia đình dân tộc thiểu số thu nhập thấp ở Tây Nguyên từ 0,15 đến 0,5 ha đất nông nghiệp hoặc ít nhất 200 mét vuông đất ở. Tiếp theo, chính phủ Việt Nam tuyên bố sẽ tạm đình chỉ di cư người dân miền xuôi đến Tây Nguyên và đồng thời làm chậm tốc độ di cư "tự phát" đến khu vực. Đầu năm 2005, 1.200 nhà thờ Tin Lành của người dân tộc thiểu số đã được phê duyệt để đăng ký chính thức và mở lại.[72][117] Tháng 5 năm 2005, Hoa Kỳ và Việt Nam đã ký kết một thỏa thuận, nội dung đưa ra một số cam kết phát triển và bảo vệ tự do tôn giáo tại Việt Nam.[115] Tính đến tháng 7 năm 2005 tại Đắk Lắk, vận động được 210 người hoạt động FULRO ra tự thú và vô hiệu hóa 613 người.[1] Lực lượng an ninh phát hiện 824 cơ sở ngầm của FULRO vào năm 2003 (349 cơ sở tại Đắk Lắk, 363 cơ sở tại Gia Lai, 65 cơ sở tại Kon Tum, 47 cơ sở tại Lâm Đồng), bắt giữ 2.800 người từ năm 2001 đến năm 2005, chính quyền địa phương đã đưa 1.000 người dân tộc thiểu số vượt biên trái phép trở về.[29] Thực hiện Chỉ thị 16/2004/CT-TTg do Thủ tướng Việt Nam ban hành vào ngày 1 tháng 5 năm 2004, hơn 10.700 người được cảm hóa và hơn 20.000 người dân từ bỏ Tin lành Đêga.[126] Tháng 3 năm 2009, Ủy viên Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng Đảng Cộng sản Việt Nam Lê Hồng Anh thông cáo tham nhũng tại Tây Nguyên bị phát giác phần lớn nhờ quá trình thanh tra và tố cáo của nhân dân cùng với phản ánh từ báo chí. Báo cáo năm 2008 thống kê Gia Lai xử lý 41 công chức sai phạm với thiệt hại hơn 7,6 tỷ đồng, Kon Tum xử lý 6 công chức sai phạm với thiệt hại hơn 4,8 tỷ đồng.[127] Theo tổng điều tra dân số năm 2009, vùng Đông Nam Bộ chính thức vượt qua Tây Nguyên về số lượng di dân nhập cư, nguyên nhân do Đông Nam Bộ có nhiều khu công nghiệp và thu hút số lượng lớn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI).[18] Ngày 15 tháng 5 năm 2012, xét xử vụ án tham nhũng về khai thác gỗ khu vực Tây Nguyên trong giai đoạn 1998–2006 với thiệt hại hơn 12.530 tỷ đồng tại doanh nghiệp nhà nước Công ty cổ phần Công nghiệp rừng Tây Nguyên, Tổng Công ty Lâm sản Việt Nam (cơ quan quản lý công ty) nhận kiểm điểm buông lỏng quản lý, tám công chức bị khởi tố.[128] Cùng năm 2012, Ủy ban Kiểm tra Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam thi hành kỷ luật Tỉnh ủy Đắk Lắk nhiệm kỳ 2004–2011 vì buông lỏng quản lý, đồng thời cách chức cựu Ủy viên Ban Thường vụ Tỉnh ủy Phạm Dũng vì chiếm đoạt đất đai trái phép.[129] Theo báo cáo năm 2014 của Ủy ban nhân dân tỉnh Đắk Lắk về người dân tộc thiểu số thuộc tỉnh, mỗi hộ gia đình được cấp 400m², 40% số hộ được sử dụng nước hợp vệ sinh, 100% hộ nghèo được chăm lo khám chữa bệnh miễn phí, trẻ em trong độ tuổi đều được đến trường.[17] Tại phiên họp Quốc hội Việt Nam tháng 7 năm 2016, đại biểu quốc hội Nguyễn Duy Hữu phản ánh thực trạng phá rừng lấy gỗ, khu rừng cuối cùng tại Vườn quốc gia Yok Đôn đang bị dự trù khai thác nhằm xây thủy điện; đồng thời cảm thán "cứu lấy mảnh rừng cuối cùng của Tây Nguyên, giữ lại những giá trị của Tây Nguyên hùng vĩ".[130] Ngày 17 tháng 7 năm 2020, cựu chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Đắk Lắk Nguyễn Văn Lạng cho rằng "không buông lỏng quản lý nhưng nếu quá chặt chẽ thì không ai đến đầu tư" và đề xuất chính sách quản lý theo hướng thành phố thông minh. Phó Ban Kinh tế Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam Trần Sỹ Thanh cho rằng khu vực "khoác lên mình chiếc áo giáp khá dày", trong khi Phó Tổng tham mưu trưởng Quân đội nhân dân Việt Nam Nguyễn Trọng Bình cho biết khu vực bị "nhà đầu tư trong nước không mặn mà nhưng nhà đầu tư nước ngoài sẵn sàng bỏ tiền vào" và quyết định từ chối vì "những điểm trọng yếu liên quan đến quốc phòng an ninh".[88]

Chính phủ Campuchia[sửa | sửa mã nguồn]

Ngày 16 tháng 2 năm 2010, chính phủ Campuchia chính thức đóng cửa trại tị nạn người Thượng tại Phnôm Pênh, chính phủ Việt Nam tiếp nhận 10 người dân tộc thiểu số Tây Nguyên theo thỏa thuận ba bên Campuchia–Việt Nam–Cao ủy Liên Hiệp Quốc về người tị nạn (UNHCR) ký kết ngày 25 tháng 1 năm 2005 trước đó.[131][132][133] Người phát ngôn Bộ Ngoại giao Việt Nam Nguyễn Phương Nga thông cáo chính thức "nhà nước Việt Nam luôn ưu tiên thúc đẩy phát triển kinh tế–xã hội ở các vùng sâu, vùng xa nhằm nâng cao đời sống mọi mặt của đồng bào dân tộc thiểu số, trong đó có đồng bào dân tộc sinh sống ở Tây Nguyên. Chính phủ Việt Nam đánh giá cao chính phủ Campuchia đã phối hợp chặt chẽ với Việt Nam và UNHCR trong thời gian qua để tích cực giải quyết số người trong trại tạm cư trên cơ sở MOU 3 bên ký ngày 25 tháng 1 năm 2005, đóng cửa trại tạm cư đúng thời hạn mà Campuchia đã tuyên bố".[133][134] Phó giám đốc Tổ chức Theo dõi Nhân quyền khu vực châu Á Phil Robertson nói "điều bắt buộc là chính phủ Campuchia phải tuân thủ các thỏa thuận quốc tế và không đưa những người xin tị nạn đến nơi mà cuộc sống và tự do của họ sẽ gặp nguy hiểm", trong khi hiệp hội Cứu trợ Tị nạn Dòng Tên (Jesuit Refugee Service, JRS) ủng hộ việc đóng cửa trại tị nạn tại Campuchia vì cho rằng nó giống một trung tâm giam giữ–nơi những người tị nạn sống giống như tù nhân.[131] BBC cho biết trại tị nạn hiện còn 20 người Thượng tại Tây Nguyên vượt biên sang Campuchia: 10 người trong số đó được tị nạn sang nước thứ ba (Hoa Kỳ, Canada),[131][135] 10 người còn lại bị trục xuất về Việt Nam do không được chấp nhận quy chế tị nạn.[135][136] BBC dẫn lời nhà báo tự do Lý Định Phát nói "đối với xã hội [Campuchia] thì người ta cũng cảm thấy khó chịu khi mà có một số lượng người Việt, kể cả người Thượng chạy qua bên này xin tị nạn và kiếm sống, như vậy nó cũng gây xáo trộn một phần nào đó trong đời sống bình thường hàng ngày của người dân tại đây. Bây giờ nó kết thúc thì xã hội ở đây họ cũng cảm thấy đã qua một vấn đề".[136]

Ảnh hưởng[sửa | sửa mã nguồn]

Từ ngày 12 đến ngày 24 tháng 12 năm 2004, cảnh sát tỉnh Gia Lai bắt giữ 129 người Thượng.[137] Ngày 14 tháng 4 năm 2008, hàng trăm người Thượng tại Chư Sê thuộc Gia Lai tham gia biểu tình, mục sư Nguyễn Công Chính thuộc Hội thánh Tin lành Menonite ở Gia Lai nói "ngày hôm qua tại xã Iatô thuộc huyện Chư Sê có nhiều người dân tộc biểu tình: thứ nhất đòi đất đai, hai là đòi trả hơn 300 người sắc tộc đang bị ở tù từ năm 2001 đến năm 2004, thứ ba là quyền thờ tự của họ. Còn bức xúc về đất đai, việc anh em của họ bị bỏ tù, cũng như quyền thờ tự là việc cá nhân của họ. Tình hình an ninh tại Cao Nguyên hiện nay rất căng thẳng, họ canh gác rất cẩn thận", trong khi một cảnh sát huyện Chư Sê nói "vì vừa qua có một số người ở Hoa Kỳ gọi điện về chỉ đạo một số người đi kích động biểu tình. Nó kích động đồng bào đấu tranh thành lập nước Đêga độc lập, đất Tây nguyên là đất của người dân tộc. Người ta trình độ thấp nên nghe theo".[138] Báo Phú Yên cho biết có biểu tình tại xã Ea Lâm thuộc Phú Yên vào ngày 31 tháng 8 năm 2006 và ngày 13 tháng 4 năm 2008, cáo buộc Tin Lành Đê ga và FULRO lôi kéo người dân tộc thiểu số chống chính quyền, công an Phú Yên bắt giữ 11 người và tống đạt hình sự 2 người tính đến tháng 8 năm 2009.[139]

Khoảng 8 giờ đêm vào ngày 7 tháng 7 năm 2011, Tổ chức Quỹ người Thượng cho biết công an đã dùng gậy đánh đập và giải tán người dân đang cầu kinh theo đạo Tin Lành tại làng Kret Krot thuộc xã Hra (tỉnh Gia Lai), các nhân chứng cho biết 12 đàn ông và 4 phụ nữ bị hành hung–có người bị bắt giam, Chủ tịch Tổ chức Quỹ người Thượng Kok Ksor nói "chúng tôi bị nhà nước Việt Nam xem là thù nghịch, bị trù dập vì cho rằng chúng tôi đeo đuổi mưu toan lật đổ chánh quyền. Điều cáo buộc đó là hoàn tòan không có cơ sở, chính vì thế mà người Thượng chúng tôi cương quyết đứng lên đòi hỏi quyền sống cho mình.[...] Vùng Tây Nguyên hiện giờ có từ 300 đến 1000 đồng bào Thượng còn bị ngồi tù, con số chính xác khó ai nắm biết rõ, nhiều người chết trong hỏa ngục, một số khác được thả về thì cũng không sống được bao lâu do bị tra khảo trong tù mà không biết mình bị tội tình gì", giám đốc Tổ chức Quỹ người Thượng Nay Rong nói "chính quyền liên bang Hoa Kỳ cũng biết Việt Nam vi phạm nhân quyền, vi phạm tự do tôn giáo nhưng Hoa Kỳ cần Việt Nam về an ninh tại biển Đông".[140] Ngày 10 tháng 5 năm 2012, ba người Thượng bị bắt vì 'âm mưu lật đổ chính quyền', luật sư nhân quyền Scott Johnson cho rằng "làm sao một nhóm người dân tộc thiểu số với gươm và cung nỏ có thể lật đổ được chính phủ Việt Nam.[...] Đây chỉ là một kiểu dàn dựng của chính phủ".[69] Ngày 28 tháng 3 năm 2013, tám người Thượng tại Tây Nguyên bị tuyên án 7–11 năm tù vì 'cấu kết với phản động nước ngoài thành lập một nhà nước riêng của người thiểu số'.[141] Khoảng hơn 12.000 người Thượng định cư tại Notrh Carolina tính đến năm 2013, chuyên viên cố vấn về vấn đề thổ dân Key Rebold nói "đa số trình độ học vấn không cao, đi làm với đồng lương ít ỏi, nhưng chính những sinh hoạt đức tin và tôn giáo mang họ về với thực tế của cuộc sống mới", linh mục Trần Công Vang [tại Notrh Carolina] cho biết "người Thượng sống rải rác lẫn lộn với người Mỹngười Tây Ban Nhangười Việt, còn chăng điểm tựa là đời sống tâm linh, nhà thờ là nơi chốn để về, để chia sẻ, để nâng đỡ nhau".[142] Tháng 8 năm 2014, Ủy ban Tự do tôn giáo Quốc tế Hoa Kỳ (USCIRF) cho biết tám người Thượng tại Tây Nguyên thuộc phong trào Công giáo độc lập bị kết án từ 3 năm đến 11 năm tù vì '“gây mất đoàn kết' và 'kích động lòng hận thù sắc tộc và tôn giáo' do biểu tình phản đối di dời ở tỉnh Gia Lai, giám mục tại Kon Tum liên tục bị từ chối đi đến nơi mà những người này cư ngụ.[143] Ngày 1 tháng 12 năm 2014, chính phủ Việt Nam yêu cầu Campuchia bắt giữ và trục xuất 16 người Thượng vượt biên vào Ratanakkiri.[109] Ngày 11 tháng 2 năm 2015, chín người Thượng tại Tây Nguyên vượt biên sang Ratanakiri thuộc Campuchia tị nạn và được báo cáo lên Liên Hiệp Quốc, Bộ trưởng Bộ Nội vụ Campuchia Sar Kheng tuyên bố "sẽ xem xét tất cả các kiến ​​nghị xin tị nạn đối với từng trường hợp, nhưng sẽ gửi người tị nạn sang nước thứ ba và trục xuất người xin tị nạn hồi hương nếu không có tình trạng tị nạn".[144] Ngày 20 tháng 2 năm 2016, công an Gia Lai bắt giữ 4 người với tội danh "phá hoại chính sách đoàn kết dân tộc".[145]

Tháng 4 năm 2017, khoảng 50 người Thượng trốn khỏi Campuchia tới Thái Lan do lo ngại hồi hương về Việt Nam, nâng tổng số người Thượng tại Thái Lan lên 250 người. Y Yony—một người Ê Đê—nói "tôi đã hứa với chính quyền rằng sẽ không trốn khỏi Việt Nam và sẽ xin phép họ bất cứ khi nào tôi muốn đi bất cứ đâu. Đó là lý do tại sao tôi không muốn quay trở lại", Y D'jom —một người Ê Đê khác—nói "tôi không thể trở về Việt Nam vì cảnh sát sẽ bắt tôi ở đó và tra tấn tôi trong tù", Xiu A Nem—một người Gia Rai—nói "tôi đã bị áp bức ở Việt Nam vì tôi là một người phản kháng, họ không tôn trọng tự do tôn giáo. Tôi đã bị tống giam hai năm nhưng tôi đã trốn sang Thái Lan và được Canada chấp nhận tị nạn nhờ sự giúp đỡ từ [các nhóm nhân quyền]".[146] Ngày 31 tháng 8 năm 2018, các nhà hoạt động nhân quyền kêu gọi thả người Thượng—khoảng 38 người đến từ Campuchia và ước tính khoảng 130 người từ Việt Nam—bị bắt tại huyện Bang Yai thuộc tỉnh Nonthaburi, những người này được cho là người tị nạn hoặc xin tị nạn và sẽ gặp nguy hiểm nếu bị trục xuất hồi hương. Người phát ngôn Bộ Ngoại giao Thái Lan Busadee Santipitaks cho biết đang xem xét sự việc. Tổ chức Theo dõi Nhân quyền tuyên bố "chính phủ Thái Lan cần trả tự do ngay lập tức cho 181 người tị nạn dân tộc thiểu số và người xin tị nạn, hầu hết có tình trạng tị nạn của Liên Hiệp Quốc.[147] Ngày 14 tháng 10 năm 2019, phó Bí thư Đảng ủy xã Ia Le (huyện Chư Pưh, tỉnh Gia Lai) Siu H’BHem xác nhận "từ năm 2001 đến nay, có 96 người dân địa phương đã vượt biên trái phép qua CampuchiaThái Lan để được 'đưa đi Hoa Kỳ'".[46] Ngày 17 tháng 6 năm 2020, phái đoàn ngoại giao Hoa Kỳ gặp mặt các tín hữu Tin Lành độc lập khu vực Tây Nguyên (Gia LaiĐăk Lăk) và bị an ninh Việt Nam theo dõi nhật trình. Y Quy Buon Dap—một thành viên thuộc nhóm Người Thượng vì Công lý (Montagnards stand for Justice)—bộc bạch "vẫn còn chịu sự sách nhiễu, đe dọa, đàn áp, bắt bớ từ nhà cầm quyền. Họ canh gác, theo dõi thường xuyên. Nhiều tín đồ và lãnh đạo hội thánh bị áp giải lên đồn công an thẩm vấn.[...] Họ nói chúng tôi lợi dụng tôn giáo để chống phá Đảng và Nhà nước. Họ gán ghép như vậy để xóa bỏ tôn giáo của người Thượng Đêga của chúng tôi", Y Phic cho biết "nhiều mục sư và tín đồ khác hiện tại luôn bị đe doạ, ép bỏ đạo, để theo tôn giáo mà họ trọn quyền kiểm soát, họ tuyệt đối không cho những tín đồ họp lại với nhau, họ kiếm những lý do để mời các tín đồ lên đồn công an hay làm việc một cách vô cớ, họ cho rằng tôn giáo mà các tín đồ đang theo là 'của Hoa Kỳ âm mưu lật đổ chính quyền', nhưng đó chỉ là cái cớ để chính quyền gán mác đàn áp".[148]

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

Ghi chú[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Người dân bản địa thiểu số Tây Nguyên dùng tên gọi "Đêga" đại diện cho chính họ. Trong tài liệu nước ngoài, thuật ngữ này thường được viết là "Degar" hoặc "Dega" (như trong tên gọi tổ chức Montagnard Dega Association–MDA). Ngoài ra, trong một số tài liệu–bài báo dùng cách viết phiên âm như "Đề-ga".

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ a ă â b c d Nguyễn Mậu, Linh (2017). “Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo công tác dân vận ở Tây Nguyên từ năm 2001 đến năm 2010” (PDF). Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh. tr. 53-56. Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 9 tháng 6 năm 2020. Truy cập 2017. 
  2. ^ ANTV (20 tháng 4 năm 2017). “Cảnh giác trước âm mưu phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân”. Công an Nghệ An. Bản gốc lưu trữ ngày 14 tháng 5 năm 2017. Truy cập ngày 20 tháng 4 năm 2017. Đỉnh điểm vào tháng 2/2001 và tháng 4/2004 - các đối tượng Fulro đã tuyên truyền lôi kéo số lượng lớn quần chúng nhân dân tiến hành 2 cuộc bạo loạn chính trị. 
  3. ^ Nguyễn Thế, Trung (19 tháng 6 năm 2019). “Giải quyết và phòng ngừa "điểm nóng" trong tình hình hiện nay”. Hội đồng Lý luận Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam. Bản gốc lưu trữ ngày 18 tháng 10 năm 2019. Truy cập ngày 19 tháng 6 năm 2019. 
  4. ^ a ă Khắc, Dũng (21 tháng 10 năm 2015). “Bao giờ được hóa giải?”. Lao Động. Bản gốc lưu trữ ngày 9 tháng 6 năm 2020. Truy cập ngày 21 tháng 10 năm 2015. Đến khi giải quyết vấn đề Fulro gây bạo loạn ở Tây Nguyên những năm tiếp theo đó (2001, 2004), tôi với tư cách là Phó Tổng cục trưởng rồi Tổng Cục trưởng Tổng cục An ninh mới trực tiếp ra trận 
  5. ^ a ă Mai, Xaigon (1 tháng 3 năm 2007). “Homecoming: Finding My Tribe in Vietnam's Central Highlands” [Về cố hương: Tìm bộ lạc của tôi tại Tây Nguyên của Việt Nam]. Cultural Survival (bằng tiếng Anh). Bản gốc lưu trữ ngày 18 tháng 1 năm 2017. Truy cập ngày 1 tháng 3 năm 2007. The government’s response to both protests was brutal: In 2004, government security forces armed with metal bars, nail-covered clubs, and other weapons killed 10 unarmed Dega tribesmen in what is now referred to as the Easter Massacre 
  6. ^ a ă “Montagnards: Report published on the Easter massacre” [Người Thượng: Xuất bản báo cáo về Thảm sát Phục Sinh]. Tổ chức các Quốc gia và Dân tộc Không có đại diện (Unrepresented Nations and Peoples Organization, UNPO) (bằng tiếng Anh). 18 tháng 5 năm 2004. Bản gốc lưu trữ ngày 3 tháng 9 năm 2010. Truy cập ngày 18 tháng 5 năm 2004. 
  7. ^ a ă Phan, Anh. “Người Việt ở Tây Nguyên: Lược sử hình thành và quan hệ tộc người”. Viện Khoa học Xã hội vùng Nam Bộ. Phát triển Kinh tế - Xã hội Đà Nẵng. tr. 30-31, 36. Bản gốc lưu trữ ngày 30 tháng 6 năm 2020. Truy cập ngày 30 tháng 6 năm 2020. 
  8. ^ a ă Doyle, Kevin; Ten Kate, Daniel (17 tháng 7 năm 2004). “Hiding from Persecution” [Trốn tránh sự bức hại]. The Cambodia Daily (bằng tiếng Anh). Bản gốc lưu trữ ngày 25 tháng 6 năm 2020. Truy cập ngày 17 tháng 7 năm 2004. 
  9. ^ a ă Crossette, Barbara (5 tháng 5 năm 2001). “New Protests In Old Conflict With Vietnam; The Montagnards Bring Their Fight to New York” [Biểu tình mới trong xung đột cũ với Việt Nam, người Thượng mang cuộc chién của họ tới New York]. The New York Times (bằng tiếng Anh). Bản gốc lưu trữ ngày 27 tháng 5 năm 2015. Truy cập ngày 5 tháng 5 năm 2001. 
  10. ^ a ă â Nguyễn Thị Hoài, Phương (21 tháng 6 năm 2013). “Một số lưu ý trong vấn đề dân tộc ở Tây Nguyên hiện nay”. Ủy ban Dân tộc. Bản gốc lưu trữ ngày 10 tháng 12 năm 2017. Truy cập ngày 21 tháng 6 năm 2013. Trong những năm tới, tỷ lệ đồng bào các dân tộc thiểu số tại chỗ còn có xu hướng giảm thêm, nếu không ổn định được qui mô dân số và ngăn chặn việc di cư tự do từ các nơi khác đến. Một trong những vấn đề bức xúc của Tây Nguyên là tỷ lệ tăng dân số tự nhiên còn khá cao và tăng cơ học rất cao do di dân tự do từ nơi khác đến. Hậu quả của vấn đề di cư tự do từ nơi khác đến là nạn phá rừng lấy đất canh tác, mua bán đất đai và nhiều vấn đề bức xúc khác về môi trường. Việc di cư tự do đến Tây Nguyên với số lượng lớn cũng đã phá vỡ các kế hoạch, qui hoạch phát triển kinh tế - xã hội của các tỉnh, nhất là vấn đề ổn định sản xuất và đời sống cho bộ phận dân cư này rất phức tạp. 
  11. ^ a ă â Mydans, Seth (31 tháng 3 năm 2011). “Vietnam Persecutes Christian Minority, Report Says” [Việt Nam đàn áp người thiểu số Cơ Đốc gióa, báo cáo nói]. The New York Times (bằng tiếng Anh). Bản gốc lưu trữ ngày 11 tháng 10 năm 2011. Truy cập ngày 31 tháng 3 năm 2011. 
  12. ^ a ă “Montagnards in N.C. fear for Vietnam kin” [Người Thượng tại North Carolina lo lắng cho người thân Việt Nam]. Star-News (bằng tiếng Anh). 13 tháng 4 năm 2004. Bản gốc lưu trữ ngày 25 tháng 6 năm 2020. Truy cập ngày 13 tháng 4 năm 2004. 
  13. ^ Dunst, Charles (21 tháng 5 năm 2019). “Vietnam War left a painful legacy for indigenous minority that fought alongside U.S.” [Chiến tranh Việt Nam để lại một di sản đau đớn cho người thiểu số bản xứ đã chiến đấu bên cạnh Hoa Kỳ]. Los Angeles Times (bằng tiếng Anh). Bản gốc lưu trữ ngày 21 tháng 5 năm 2019. Truy cập ngày 21 tháng 5 năm 2019. This reporter traveled to the region without authorization and spoke with nearly a dozen Montagnard veterans. Each told a version of the same tale: They were recruited by U.S. Army Special Forces, fought against the North Vietnamese forces, spent years in squalid postwar labor camps, and continue to be persecuted by the government and marginalized by Vietnam’s Kinh majority. 
  14. ^ a ă “Assessment for Montagnards in Vietnam” [Đánh giá về người Thượng tại Việt Nam]. Đại học Maryland, College Park (bằng tiếng Anh). 31 tháng 12 năm 2006. Bản gốc lưu trữ ngày 26 tháng 12 năm 2016. Truy cập ngày 31 tháng 12 năm 2006. 
  15. ^ a ă â “DFAT Country Information Report Vietnam” [Bộ Ngoại giao và Thương mại: Báo cáo thông tin quốc gia Việt Nam] (PDF). Bộ Ngoại giao và Thương mại (bằng tiếng Anh). 31 tháng 12 năm 2019. Degar/Montagnards. Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 1 tháng 7 năm 2020. Truy cập ngày 31 tháng 12 năm 2019. 
  16. ^ a ă â b “IX. The movement for land rights and religious freedom” [IX. Phong trào về quyền sử dụng đất và tự do tôn giáo]. Tổ chức Theo dõi Nhân quyền (bằng tiếng Anh). 2002. Bản gốc lưu trữ ngày 5 tháng 3 năm 2016. Truy cập ngày 29 tháng 6 năm 2020. 
  17. ^ a ă â Võ Thị Mai, Phương; Hoàng Hữu, Bình; Nguyễn Hồng, Vĩ; Hoàng Lệ, Nhật (20 tháng 8 năm 2018). “Thực trạng di cư tự phát của người Mông ở Đắk Lắk và những vấn đề đặt ra”. Tạp chí Ngiên cứu Dân tộc. Bản gốc lưu trữ ngày 19 tháng 7 năm 2020. Truy cập ngày 20 tháng 8 năm 2018. 
  18. ^ a ă “Di cư trong nước: Cơ hội và thách thức đối với sự phát triển kinh tế - xã hội ở Việt Nam” (PDF). Quỹ Dân số Liên Hợp Quốc. 1 tháng 7 năm 2010. tr. 26. Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 19 tháng 7 năm 2020. Truy cập ngày 1 tháng 7 năm 2010. 
  19. ^ Nguyễn Như, Phong (7 tháng 3 năm 2001). “Sự thật về cuộc “gây rối mang màu sắc chính trị” ở Tây Nguyên”. VnExpress. Bản gốc lưu trữ ngày 25 tháng 6 năm 2020. Truy cập ngày 7 tháng 3 năm 2001. 
  20. ^ a ă â b Ngọc, Như (27 tháng 9 năm 2010). ““Tin lành Đê-ga” sự lừa bịp, phản động”. Báo Gia Lai. Bản gốc lưu trữ ngày 16 tháng 4 năm 2016. Truy cập ngày 27 tháng 9 năm 2010. 
  21. ^ a ă â Dubus, Arnaud (11 tháng 4 năm 2001). “La révolte des Montagnards au Viêt-nam.” [Cuộc nổi dậy của người Thượng tại Việt Nam]. Libération (bằng tiếng Pháp). Bản gốc lưu trữ ngày 29 tháng 6 năm 2020. Truy cập ngày 11 tháng 4 năm 2001. 
  22. ^ “Bài 1: "Nhà nước" Đê Ga”. Dân trí. 27 tháng 6 năm 2005. Bản gốc lưu trữ ngày 9 tháng 6 năm 2020. Truy cập ngày 27 tháng 6 năm 2005. 
  23. ^ a ă Tuệ, Lâm (12 tháng 5 năm 2013). “Thao thức với Tây Nguyên”. Sức khỏe & Đời sống. Bộ Y tế. Bản gốc lưu trữ ngày 23 tháng 6 năm 2020. Truy cập ngày 12 tháng 5 năm 2013. 
  24. ^ Minh, Đạt (12 tháng 11 năm 2014). “Công an Kon Tum triển khai các mặt công tác Công an, giữ vững an ninh trật tự phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa-hiện đại hóa đất nước (2001-2010)”. Công an Kon Tum. Bản gốc lưu trữ ngày 25 tháng 6 năm 2020. Truy cập ngày 12 tháng 11 năm 2014. 
  25. ^ “Người Thượng biểu tình ở Tây Nguyên”. BBC. 10 tháng 4 năm 2004. Bản gốc lưu trữ ngày 25 tháng 6 năm 2020. Truy cập ngày 10 tháng 4 năm 2004. 
  26. ^ a ă â b “Người Thượng Cơ đốc giáo ở Việt Nam”. Tổ chức Theo dõi Nhân quyền. 30 tháng 3 năm 2011. Bản gốc lưu trữ ngày 26 tháng 2 năm 2017. Truy cập ngày 30 tháng 3 năm 2011. 
  27. ^ a ă Thanh, Phương (14 tháng 4 năm 2009). “Kết án tù ba người thiểu số ở Tây Nguyên với tội danh « phá hoại chính sách đại đoàn kết »”. Radio France Internationale. Bản gốc lưu trữ ngày 18 tháng 4 năm 2009. Truy cập ngày 14 tháng 4 năm 2009. 
  28. ^ a ă â b Doyle, Kevin (16 tháng 7 năm 2004). “After flight from Vietnam, the brutal jungle” [Sau cuộc trốn chạy khỏi Việt Nam, rừng rậm bạo tàn]. The New York Times (bằng tiếng Anh). Bản gốc lưu trữ ngày 10 tháng 6 năm 2020. Truy cập ngày 16 tháng 7 năm 2004. 
  29. ^ a ă â b Trương Minh, Dục. “Xây dựng và củng cố khối đoàn kết các dân tộc ở Tây Nguyên trong thời kỳ Đổi Mới (1986 - 2006) - Kết quả và kinh nghiệm”. Viện nghiên cứu phát triển TP.HCM. tr. 9-11. Bản gốc lưu trữ ngày 9 tháng 6 năm 2020. Truy cập ngày 9 tháng 6 năm 2020. 
  30. ^ a ă “U.S. Committee for Refugees World Refugee Survey 2003 - Cambodia” [Ủy ban Người tị nạn Hoa Kỳ, Khảo sát người tị nạn thế giới 2003 – Campuchia]. Cao ủy Liên Hiệp Quốc về người tị nạn (bằng tiếng Anh). 1 tháng 6 năm 2003. Bản gốc lưu trữ ngày 15 tháng 6 năm 2020. Truy cập ngày 1 tháng 6 năm 2003. 
  31. ^ a ă Phạm Ngọc, Đại (2017). “Đảng bộ tỉnh Đắk lắk lãnh đạo thực hiện chính sách dân tộc từ năm 2003 đến năm 2015” (PDF). Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh. tr. 38-39, 66. Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 16 tháng 11 năm 2017. Truy cập ngày 30 tháng 6 năm 2020. 
  32. ^ 'Mỹ không ủng hộ nhà nước Đêga ở Tây Nguyên'. VnExpress. 16 tháng 3 năm 2002. Bản gốc lưu trữ ngày 12 tháng 6 năm 2020. Truy cập ngày 16 tháng 3 năm 2002. 
  33. ^ a ă “New Refugee Flow” [Dòng người tịn nạn mới]. Tổ chức Theo dõi Nhân quyền (bằng tiếng Anh). 1 tháng 1 năm 2005. Bản gốc lưu trữ ngày 17 tháng 1 năm 2009. Truy cập ngày 1 tháng 1 năm 2005. 
  34. ^ a ă â b c d đ Zabriskie, Phil (18 tháng 7 năm 2004). “Vietnam's Tribal Injustice” [Bất công bộ lạc Việt Nam]. Time (bằng tiếng Anh). Bản gốc lưu trữ ngày 13 tháng 1 năm 2005. Truy cập ngày 18 tháng 7 năm 2004. 
  35. ^ a ă Minh, Thúy; Thảo, Phương (24 tháng 3 năm 2005). “Bộ mặt kẻ phản quốc, tên khủng bố có tham vọng chính trị cuồng tín phải vạch trần - Tội ác Ksor Kơk và đồng bọn gây cho đồng bào phải được xét xử”. Tạp chí lý luận của Uỷ ban Dân tộc. Bản gốc lưu trữ ngày 9 tháng 6 năm 2020. Truy cập ngày 24 tháng 3 năm 2005. 
  36. ^ “Chân dung những thuộc hạ của Ksor Kok”. VnExpress. 21 tháng 5 năm 2004. Bản gốc lưu trữ ngày 9 tháng 6 năm 2020. Truy cập ngày 21 tháng 5 năm 2004. 
  37. ^ Đặng Ngọc, Như (28 tháng 4 năm 2015). “40 năm giữ bình yên Tây Nguyên”. Công an nhân dân. Bản gốc lưu trữ ngày 9 tháng 6 năm 2020. Truy cập ngày 28 tháng 4 năm 2015. 
  38. ^ Nguyễn Hoàng, Thu (8 tháng 2 năm 2004). “Gia Lai: Truy tố 11 bị can trong vụ án tham nhũng lớn nhất Tây Nguyên”. Thanh Niên. Bản gốc lưu trữ ngày 24 tháng 7 năm 2020. Truy cập ngày 8 tháng 2 năm 2004. 
  39. ^ a ă â b c d XH (17 tháng 4 năm 2004). “Gây rối quy mô lớn tại Tây Nguyên”. VnExpress. Bản gốc lưu trữ ngày 9 tháng 6 năm 2020. Truy cập ngày 17 tháng 4 năm 2004. 
  40. ^ a ă â b c d Hoàng Hải, Vân (19 tháng 4 năm 2004). “Sự thật về vụ gây rối ở Tây Nguyên”. Đại sứ quán Việt Nam tại Hoa Kỳ. Bản gốc lưu trữ ngày 11 tháng 10 năm 2006. Truy cập ngày 19 tháng 4 năm 2004. 
  41. ^ a ă Duy, Văn; Cam, Ly (16 tháng 4 năm 2004). "Kịch bản Tây Nguyên" và những thông tin bịa đặt”. Tuổi trẻ. Bản gốc lưu trữ ngày 9 tháng 6 năm 2020. Truy cập ngày 16 tháng 4 năm 2004. 
  42. ^ a ă â b c Aglionby, John (22 tháng 4 năm 2004). “A fight for freedom” [Một cuộc đấu tranh tự do]. The Guardian (bằng tiếng Anh). Bản gốc lưu trữ ngày 28 tháng 8 năm 2013. Truy cập ngày 22 tháng 4 năm 2004. 
  43. ^ a ă â b c “Vietnam : Manifestation à Pâques sur les Hauts Plateaux du Centre” [Việt Nam: Biểu tình Phục Sinh tại Tây Nguyên]. Zenit News Agency (bằng tiếng Pháp). 15 tháng 5 năm 2004. Bản gốc lưu trữ ngày 28 tháng 6 năm 2020. Truy cập ngày 15 tháng 5 năm 2004. 
  44. ^ a ă â b c “Cao Nguyên căng thẳng trong lễ Phục Sinh”. BBC. 11 tháng 4 năm 2004. Bản gốc lưu trữ ngày 25 tháng 6 năm 2020. Truy cập ngày 11 tháng 4 năm 2004. 
  45. ^ “Lại có bạo loạn ở Tây Nguyên”. BBC. 10 tháng 4 năm 2004. Bản gốc lưu trữ ngày 25 tháng 6 năm 2020. Truy cập ngày 10 tháng 4 năm 2004. 
  46. ^ a ă â Khắc, Văn; Nam, Viên; Hữu, Phúc; Đông, Nguyên (14 tháng 10 năm 2019). ““Thế trận lòng dân” giữa đại ngàn Tây Nguyên. Bài 1: Những chiêu bài kích động, dụ dỗ”. Sài Gòn Giải Phóng. Bản gốc lưu trữ ngày 25 tháng 6 năm 2020. Truy cập ngày 14 tháng 10 năm 2019. 
  47. ^ a ă “Họp báo về vụ Tây Nguyên”. Đại sứ quán Việt Nam tại Hoa Kỳ. 28 tháng 4 năm 2004. Bản gốc lưu trữ ngày 25 tháng 6 năm 2020. Truy cập ngày 28 tháng 4 năm 2004. 
  48. ^ a ă “Vietnam: Violence against Montagnards During Easter Week Protests” [Việt Nam: Bạo lực chống lại người Thượng trong biểu tình Tuần lễ Phục sinh]. Tổ chức Theo dõi Nhân quyền (bằng tiếng Anh). 14 tháng 4 năm 2004. Bản gốc lưu trữ ngày 16 tháng 8 năm 2016. Truy cập ngày 14 tháng 4 năm 2004. 
  49. ^ a ă â b “Việt Nam công nhận có bất ổn tại vùng Tây Nguyên”. Đài Á Châu Tự Do. 13 tháng 4 năm 2004. Bản gốc lưu trữ ngày 23 tháng 6 năm 2020. Truy cập ngày 13 tháng 4 năm 2004. 
  50. ^ a ă Hoàng Hải, Vân; Võ, Ba; Hoàng, Thu (28 tháng 4 năm 2004). “Đối thoại giữa Chủ tịch tỉnh Đắk Lắk với quan chức ngoại giao Mỹ”. Đại sứ quán Việt Nam tại Hoa Kỳ. Bản gốc lưu trữ ngày 25 tháng 6 năm 2020. Truy cập ngày 28 tháng 4 năm 2004. 
  51. ^ a ă â b Thu, Thành; Bá, Tích (17 tháng 9 năm 2010). “Sự thật ở các "điểm nóng" tại Tây Nguyên”. Nhân Dân. Bản gốc lưu trữ ngày 30 tháng 9 năm 2018. Truy cập ngày 17 tháng 9 năm 2010. 
  52. ^ Khắc, Văn; Nam, Viên; Hữu, Phúc; Đông, Nguyên (15 tháng 10 năm 2019). ““Thế trận lòng dân” giữa đại ngàn Tây Nguyên - Bài 2: Dân vận là then chốt”. Sài Gòn Giải Phóng. Bản gốc lưu trữ ngày 25 tháng 6 năm 2020. Truy cập ngày 15 tháng 10 năm 2019. 
  53. ^ Minh, Tân (14 tháng 4 năm 2020). "Quả đấm thép" trên miền đất đỏ (Bài 1: Sự ra đời của một đơn vị đặc thù)”. Công an Đà Nẵng. Bản gốc lưu trữ ngày 22 tháng 6 năm 2020. Truy cập ngày 14 tháng 4 năm 2020. 
  54. ^ Công, Minh; Nguyên, Minh (5 tháng 3 năm 2018). “Không gì có thể chia rẽ quan hệ đoàn kết, gắn bó giữa quân đội và công an”. Bộ Chỉ huy quân sự tỉnh Hưng Yên. Bản gốc lưu trữ ngày 9 tháng 6 năm 2020. Truy cập ngày 5 tháng 3 năm 2018. Đại tướng Phạm Văn Trà, nguyên Ủy viên Bộ Chính trị, nguyên Bộ trưởng Bộ Quốc phòng-người từng tham gia chỉ đạo trực tiếp giải quyết vụ gây rối ở Tây Nguyên (tháng 4-2004) và Thiếu tướng Lưu Trọng Lư, nguyên Chỉ huy trưởng Bộ CHQS tỉnh Điện Biên-người trực tiếp tham gia chỉ huy giải quyết vụ tụ tập gây rối ở huyện Mường Nhé, tỉnh Điện Biên (tháng 5-2011) 
  55. ^ “Amnesty International nói về di sản ông Trần Đại Quang”. BBC. 24 tháng 9 năm 2018. Bản gốc lưu trữ ngày 25 tháng 6 năm 2020. Truy cập ngày 24 tháng 9 năm 2018. 
  56. ^ a ă “Vụ gây rối ở Tây Nguyên là do âm mưu thâm độc của các thế lực phản động trong và ngoài nước”. Người lao động. 18 tháng 4 năm 2004. Bản gốc lưu trữ ngày 6 tháng 7 năm 2016. Truy cập ngày 18 tháng 4 năm 2004. 
  57. ^ Kim, Quý; Nguyễn, Hằng (10 tháng 12 năm 2014). “Chuyện ghi ở đơn vị “quả đấm thép””. Công an nhân dân. Bản gốc lưu trữ ngày 28 tháng 12 năm 2014. Truy cập ngày 10 tháng 12 năm 2014. Từng tham gia giải quyết gây rối trật tự ở Tây Nguyên năm 2001 và năm 2004. Khi ở Mường Nhé (Điện Biên) xảy ra vụ tụ tập đông người gây rối ANTT (năm 2011), lúc đó anh giữ cương vị Trung đoàn trưởng CSCĐ Tây Bắc. 
  58. ^ a ă â b “Điều tra về vụ người Thượng”. BBC. 13 tháng 4 năm 2004. Bản gốc lưu trữ ngày 4 tháng 1 năm 2016. Truy cập ngày 13 tháng 4 năm 2004. 
  59. ^ a ă “Vietnams Central Highlands in lockdown after protests” [Phong tỏa Tây Nguyên Việt Nam sau biểu tình]. Đài Á Châu Tự Do (bằng tiếng Anh). 12 tháng 4 năm 2004. Bản gốc lưu trữ ngày 3 tháng 2 năm 2010. Truy cập ngày 12 tháng 4 năm 2004. 
  60. ^ a ă “Vietnam curbs highlands travel after ethnic protest” [Việt Nam phong tỏa tuyến bay Tây Nguyên sau biểu tình sắc tộc]. L'Express (bằng tiếng Anh). 12 tháng 4 năm 2004. Truy cập ngày 12 tháng 4 năm 2004. 
  61. ^ a ă â b “Stuck in the middle” [Mắc kẹt ở giữa]. The Phnom Penh Post (bằng tiếng Anh). 14 tháng 1 năm 2005. Bản gốc lưu trữ ngày 23 tháng 4 năm 2014. Truy cập ngày 14 tháng 1 năm 2005. 
  62. ^ “Socialist Republic of Viet Nam Renewed concern for the Montagnard minority” [Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam: Quan tâm mới về dân tộc thiểu số người Thượng] (PDF). Ân xá Quốc tế (bằng tiếng Anh). 10 tháng 4 năm 2014. Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 19 tháng 2 năm 2020. Truy cập ngày 10 tháng 4 năm 2014. 
  63. ^ a ă â “Việt Nam đưa ra phản ứng chính thức về các vụ biểu tình ở Tây Nguyên. - 2004-04-20”. VOA. 14 tháng 1 năm 2010. Bản gốc lưu trữ ngày 9 tháng 6 năm 2020. Truy cập ngày 14 tháng 1 năm 2010. 
  64. ^ a ă â “Police disperse Vietnam protest” [Cảnh sát giải tán biểu tình Việt Nam]. BBC (bằng tiếng Anh). 11 tháng 4 năm 2004. Bản gốc lưu trữ ngày 7 tháng 6 năm 2004. Truy cập ngày 11 tháng 4 năm 2004. 
  65. ^ a ă â “King: Montagnards Fear Cambodian Gov’t” [Vua: Người Thượng sợ hãi chính phủ Campuchia]. The Cambodia Daily (bằng tiếng Anh). 16 tháng 7 năm 2004. Bản gốc lưu trữ ngày 29 tháng 6 năm 2020. Truy cập ngày 16 tháng 7 năm 2004. 
  66. ^ “Việt Nam cho phép người nước ngoài được đến Tây Nguyên trở lại. - 2004-04-16”. VOA. 16 tháng 4 năm 2004. Bản gốc lưu trữ ngày 23 tháng 6 năm 2020. Truy cập ngày 16 tháng 4 năm 2004. 
  67. ^ a ă B.T.T (28 tháng 4 năm 2004). “Bác bỏ sự xuyên tạc về tình hình Tây Nguyên”. Người lao động. Bản gốc lưu trữ ngày 9 tháng 6 năm 2020. Truy cập ngày 28 tháng 4 năm 2004. 
  68. ^ a ă “Chủ tịch tỉnh Gia Lai: Có kẻ đứng sau 'kịch bản Tây Nguyên'. VnExpress. 29 tháng 4 năm 2004. Bản gốc lưu trữ ngày 9 tháng 6 năm 2020. Truy cập ngày 29 tháng 4 năm 2004. 
  69. ^ a ă Việt, Hà (10 tháng 5 năm 2010). “Những người Thượng bị bắt có âm mưu lật đổ chính quyền?”. Đài Á Châu Tự Do. Bản gốc lưu trữ ngày 12 tháng 5 năm 2012. Truy cập ngày 10 tháng 5 năm 2010. Vào khoảng năm 2004 đã có xác định là có khoảng 350 người thượng bị bỏ tù, chúng tôi có hình và chứng cứ nhưng Bộ ngoại giao Mỹ đã tìm cách làm nhẹ vấn đề và không đưa các trường hợp này trong báo cáo của mình 
  70. ^ N.T (12 tháng 5 năm 2004). “Đoàn công tác của Liên Hợp Quốc tới Tây Nguyên”. VnExpress. Bản gốc lưu trữ ngày 9 tháng 6 năm 2020. Truy cập ngày 12 tháng 5 năm 2004. 
  71. ^ “Bốn đại sứ thất vọng với báo Việt Nam”. BBC. 14 tháng 5 năm 2004. Bản gốc lưu trữ ngày 25 tháng 6 năm 2020. Truy cập ngày 14 tháng 5 năm 2004. 
  72. ^ a ă “No Sanctuary: Ongoing Threats to Indigenous Montagnards in Vietnam's Central Highlands” [Không nơi trú ẩn: Những đe dọa đang diễn ra với người Thượng bản xứ tại Tây Nguyên của Việt Nam]. Cao ủy Liên Hiệp Quốc về người tị nạn (bằng tiếng Anh). 14 tháng 6 năm 2006. Bản gốc lưu trữ ngày 16 tháng 9 năm 2013. Truy cập ngày 14 tháng 6 năm 2006. 
  73. ^ a ă “Những tù nhân lương tâm người Thượng Tây Nguyên bị bỏ rơi”. Đài Á Châu Tự Do. 21 tháng 8 năm 2018. Bản gốc lưu trữ ngày 22 tháng 8 năm 2018. Truy cập ngày 21 tháng 8 năm 2018. 
  74. ^ a ă â Tacet, Athena (24 tháng 3 năm 2017). “Montagnards: Escaping Vietnam, stateless in Thailand” [Người Thượng: Trốn thoát khỏi Việt Nam, không tư cách công dân tại Thái Lan]. Al Jazeera (bằng tiếng Anh). Bản gốc lưu trữ ngày 27 tháng 3 năm 2017. Truy cập ngày 24 tháng 3 năm 2017. 
  75. ^ a ă Doyle, Kevin (2 tháng 8 năm 2004). “Years of persecution for their difference” [Nhiều năm bức hại vì sự khác biệt của họ]. The Irish Times (bằng tiếng Anh). Bản gốc lưu trữ ngày 26 tháng 6 năm 2020. Truy cập ngày 2 tháng 8 năm 2004. 
  76. ^ a ă Rappeport, Alan (30 tháng 4 năm 2005). “Repression Follows Vietnamese Tribe” [Kìm nén đeo bám bộ lạc người Việt]. The Washington Post (bằng tiếng Anh). Bản gốc lưu trữ ngày 15 tháng 6 năm 2020. Truy cập ngày 30 tháng 4 năm 2005. 
  77. ^ a ă “Vietnamese Montagnard Ends Prison Term, Goes Home in Failing Health” [Người Thượng Việt mãn hạn tù, về nhà suy nhược sức khỏe]. Đài Á Châu Tự Do (bằng tiếng Anh). 6 tháng 3 năm 2020. Bản gốc lưu trữ ngày 6 tháng 3 năm 2020. Truy cập ngày 6 tháng 3 năm 2020. 
  78. ^ “Tình cảnh khốn khó của một tù nhân tôn giáo người Thượng vừa mãn án”. Đài Á Châu Tự Do. 5 tháng 3 năm 2020. Bản gốc lưu trữ ngày 6 tháng 3 năm 2020. Truy cập ngày 5 tháng 3 năm 2020. 
  79. ^ Nguyễn Hồng, Lam (23 tháng 12 năm 2004). “Ama Thái và chiêu bài Tin lành Đề ga”. Công an nhân dân. Bản gốc lưu trữ ngày 24 tháng 11 năm 2015. Truy cập ngày 23 tháng 12 năm 2004. 
  80. ^ Ngọc, Tấn (23 tháng 10 năm 2013). “Về lại buôn “tổng thống” tự phong”. Dân Việt. Bản gốc lưu trữ ngày 13 tháng 6 năm 2020. Truy cập ngày 23 tháng 10 năm 2013. 
  81. ^ Võ Năng, Nhẫn (18 tháng 4 năm 2014). “Người Tây Nguyên - Đất Tây Nguyên”. Petro Times. Bản gốc lưu trữ ngày 12 tháng 6 năm 2020. Truy cập ngày 18 tháng 4 năm 2014. 
  82. ^ Kiều Bình, Định (22 tháng 4 năm 2004). “Sự thật không thể xuyên tạc”. Đại sứ quán Việt Nam tại Hoa Kỳ. Bản gốc lưu trữ ngày 26 tháng 6 năm 2020. Truy cập ngày 22 tháng 4 năm 2004. 
  83. ^ Nguyễn Phan Uông, Nhật (22 tháng 4 năm 2004). “Các chức sắc tôn giáo ở Tây Nguyên bác bỏ vu cáo, xuyên tạc”. Đại sứ quán Việt Nam tại Hoa Kỳ. Bản gốc lưu trữ ngày 24 tháng 6 năm 2020. Truy cập ngày 22 tháng 4 năm 2004. 
  84. ^ “Bác bỏ mọi luận điệu xuyên tạc với dụng ý xấu về cái gọi là "đàn áp dân tộc, đàn áp tôn giáo" ở Việt Nam”. Nhân Dân. 17 tháng 9 năm 2010. Bản gốc lưu trữ ngày 9 tháng 6 năm 2020. Truy cập ngày 17 tháng 9 năm 2010. 
  85. ^ “Báo cáo tự do tôn giáo quốc tế 2009” (PDF). Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ. 26 tháng 10 năm 2009. tr. 11. Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 9 tháng 6 năm 2020. Truy cập ngày 26 tháng 10 năm 2009. 
  86. ^ “Phát triển Tây Nguyên xứng đáng với vị trí chiến lược đặc biệt quan trọng”. Báo Ninh Thuận. 10 tháng 7 năm 2012. Bản gốc lưu trữ ngày 10 tháng 6 năm 2020. Truy cập ngày 10 tháng 7 năm 2012. 
  87. ^ “Cuốn sách Thành tựu bảo vệ và phát triển quyền con người”. Bộ Ngoại giao Việt Nam. 17 tháng 6 năm 2020. Truy cập ngày 17 tháng 6 năm 2020. 
  88. ^ a ă â Hoàng, Thùy (17 tháng 7 năm 2020). “Tranh luận về quản lý an ninh chính trị ở Đăk Lăk”. VnExpress. Bản gốc lưu trữ ngày 17 tháng 7 năm 2020. Truy cập ngày 17 tháng 7 năm 2020. 
  89. ^ a ă Lê, Hiệp (17 tháng 7 năm 2020). “Bí thư Tỉnh ủy Đắk Lắk: 'Đồng bào giàu lên sẽ không còn chuyện kích động nữa'. Thanh Niên. Bản gốc lưu trữ ngày 24 tháng 7 năm 2020. Truy cập ngày 17 tháng 7 năm 2020. 
  90. ^ Hoài, Thương; Lê, Cường (25 tháng 5 năm 2004). “Chủ tịch tỉnh Đăk Lăk: Sẽ không có các vụ gây rối mới”. VnExpress. Bản gốc lưu trữ ngày 9 tháng 6 năm 2020. Truy cập ngày 25 tháng 5 năm 2004. 
  91. ^ Huỳnh Đức, Hòa (8 tháng 6 năm 2004). “Chỉ thị của Uỷ ban Nhân dân tỉnh Lâm Đồng”. Cơ sở dữ liệu quốc gia về văn bản pháp luật. Bản gốc lưu trữ ngày 9 tháng 6 năm 2020. Truy cập ngày 8 tháng 6 năm 2004. 
  92. ^ Hà Sơn, Nhin (11 tháng 12 năm 2005). “Báo cáo chính trị của Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh khóa XII trình Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh lần thứ XIII” (PDF). Tỉnh ủy Gia Lai. Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 13 tháng 1 năm 2017. Truy cập ngày 11 tháng 12 năm 2005. 
  93. ^ “Bài 2: Fulro - bóng ma quá khứ”. Sài Gòn Giải phóng. 18 tháng 9 năm 2012. Bản gốc lưu trữ ngày 12 tháng 8 năm 2018. Truy cập ngày 18 tháng 9 năm 2012. 
  94. ^ “Phát triển Tây Nguyên toàn diện, bền vững”. Đài Tiếng nói Việt Nam. 12 tháng 7 năm 2012. Bản gốc lưu trữ ngày 30 tháng 6 năm 2020. Truy cập ngày 12 tháng 7 năm 2012. 
  95. ^ Bắc, Hà (8 tháng 1 năm 2018). “Bảo vệ nhân dân - sứ mệnh của quân đội và công an nhân dân”. Quân đội nhân dân. Bản gốc lưu trữ ngày 14 tháng 1 năm 2018. Truy cập ngày 8 tháng 1 năm 2018. 
  96. ^ Trần, Phương (22 tháng 6 năm 2016). “Sản phẩm của trí tưởng tượng hay một “thực thể” hiện hữu?”. Báo Bình Phước. Bản gốc lưu trữ ngày 12 tháng 6 năm 2020. Truy cập ngày 22 tháng 6 năm 2016. 
  97. ^ Anh, Thư (2020). “Nhìn lại các sự kiện ở Thái Bình và một số tỉnh Tây Nguyên”. Hà Nội Mới. Bản gốc lưu trữ ngày 28 tháng 7 năm 2020. Truy cập ngày 28 tháng 7 năm 2020. 
  98. ^ “Tài liệu tham khảo nghiên cứu, học tập môn giáo dục quốc phòng an ninh (Quốc phòng 2)”. Học viện Nông nghiệp Việt Nam. 31 tháng 3 năm 2020. Bản gốc lưu trữ ngày 12 tháng 6 năm 2020. Truy cập ngày 31 tháng 3 năm 2020. 
  99. ^ Chu Văn, Tuấn (19 tháng 5 năm 2019). “Xung đột xã hội và biểu hiện của nó ở Việt Nam hiện nay”. Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam. Bản gốc lưu trữ ngày 3 tháng 9 năm 2019. Truy cập ngày 19 tháng 5 năm 2019. 
  100. ^ Nguyễn Văn, Minh (29 tháng 9 năm 2018). “Các hiện tượng tôn giáo mới ở vùng dân tộc thiểu số Tây Nguyên hiện nay”. Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam. Bản gốc lưu trữ ngày 29 tháng 10 năm 2018. Truy cập ngày 29 tháng 9 năm 2018. 
  101. ^ Bùi Minh, Đạo (17 tháng 6 năm 2015). “Xây dựng thiết chế tự quản buôn làng dân tộc thiểu số tại chỗ ở Tây Nguyên”. Tạp chí xây dựng Đảng. Bản gốc lưu trữ ngày 12 tháng 6 năm 2020. Truy cập ngày 17 tháng 6 năm 2015. 
  102. ^ Đỗ Quang, Hưng (19 tháng 8 năm 2014). “Từ sự đổi mới nhận thức đến sự đổi mới về Chính sách Tôn giáo”. Ban Tôn giáo Chính phủ Việt Nam. Bản gốc lưu trữ ngày 19 tháng 8 năm 2014. Truy cập ngày 22 tháng 6 năm 2020. 
  103. ^ Nguyễn Yến, Thanh (19 tháng 8 năm 2019). “Mấy vấn đề về củng cố, tăng cường quốc phòng, an ninh trên địa bàn Tây Nguyên trong tình hình hiện nay (1)”. Học viện Chính trị Công an nhân dân. Bản gốc lưu trữ ngày 17 tháng 9 năm 2019. Truy cập ngày 19 tháng 8 năm 2019. 
  104. ^ Phạm Văn, Hồ (26 tháng 10 năm 2012). “Đảng cộng sản Việt Nam lãnh đạo thực hiện chính sách xã hội ở Tây Nguyên từ năm 1996 đến năm 2006”. Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh. tr. 2–3. Truy cập ngày 26 tháng 10 năm 2012 – qua Thư viện Quốc gia Việt Nam. 
  105. ^ Nguyễn Quốc, Sửu (1 tháng 6 năm 2011). “Góc nhìn lịch sử về tính tự trị trong chính sách đối với cộng đồng các dân tộc Tây Nguyên”. Viện Ngiên cứu lập pháp thuộc Uỷ ban Thường vụ Quốc hội. Bản gốc lưu trữ ngày 1 tháng 7 năm 2020. Truy cập ngày 1 tháng 6 năm 2011. 
  106. ^ Chung Van, Hoang (2018). “Evangelizing post-Doi Moi Vietnam. The rise of Protestantism and the state's response” [Phúc âm hóa hậu 'Đổi Mới' Việt Nam: Sự trỗi dậy của đạo Tin Lành và phản ứng của nhà nước]. Viện Á châu học Quốc tế (bằng tiếng Anh). Bản gốc lưu trữ ngày 25 tháng 6 năm 2020. Truy cập ngày 25 tháng 6 năm 2020. 
  107. ^ a ă “Tổ chức Montagnard Foundation lên án chính quyền Việt Nam ngược đãi người sắc tộc thiểu số. - 2004-04-13”. VOA. 13 tháng 4 năm 2004. Bản gốc lưu trữ ngày 24 tháng 6 năm 2020. Truy cập ngày 13 tháng 4 năm 2004. 
  108. ^ Doyle, Kevin (3 tháng 12 năm 2014). “Cambodia under scrutiny over asylum seekers” [Campuchia dưới sự dò dẫm từ những người xin tị nạn]. Al Jazeera (bằng tiếng Anh). Bản gốc lưu trữ ngày 3 tháng 12 năm 2014. Truy cập ngày 3 tháng 12 năm 2014. 
  109. ^ a ă â Pheap, Aun; Mueller, Chris (1 tháng 12 năm 2014). “Vietnam Asks Cambodia to Send Back Montagnards” [Việt Nam yêu cầu Campuchia gửi lại người Thượng]. The Cambodia Daily (bằng tiếng Anh). Bản gốc lưu trữ ngày 15 tháng 6 năm 2020. Truy cập ngày 1 tháng 12 năm 2014. 
  110. ^ “Ý sẽ can thiệp vấn đề Thảm Sát Tây Nguyên”. BBC. 11 tháng 4 năm 2004. Bản gốc lưu trữ ngày 9 tháng 11 năm 2004. Truy cập ngày 11 tháng 4 năm 2004. 
  111. ^ Thet Sambath và Daniel Ten Kate (9 tháng 4 năm 2004). “Gov’t Accuses UNHCR of Being ‘Arrogant’” [Chính phủ cáo buộc UNHCR "kiêu ngạo"]. The Cambodia Daily (bằng tiếng Anh). Bản gốc lưu trữ ngày 14 tháng 6 năm 2020. Truy cập ngày 14 tháng 6 năm 2020. 
  112. ^ David Hollenbach biên tập (2010). Driven from Home: Protecting the Rights of Forced Migrants. Georgetown University Press. tr. 106. 
  113. ^ Thông tấn xã Việt Nam (13 tháng 4 năm 2004). “Campuchia tố cáo UNHCR về vấn đề người Tây Nguyên”. Báo Bình Định. Bản gốc lưu trữ ngày 1 tháng 11 năm 2004. Truy cập ngày 13 tháng 4 năm 2004. 
  114. ^ “ECONOMIC AND SOCIAL COUNCIL ADOPTS TEXTS ON NGO PARTICIPATION, ISRAELI OCCUPATION, PALESTINIAN WOMEN, AS IT SUSPENDS 2004 SESSION”. Hội đồng Kinh tế và Xã hội Liên Hiệp Quốc (bằng tiếng Anh). 23 tháng 7 năm 2004. Bản gốc lưu trữ ngày 1 tháng 7 năm 2020. Truy cập ngày 23 tháng 7 năm 2004. The draft decision on the suspension of the consultative status of the Transnational Radical Party (document E/2004/32) was rejected by a recorded vote of 20 in favour to 22 against, with 11 abstentions, 
  115. ^ a ă “International Religious Freedom Report 2005” [Báo cáo tự do tôn giáo quốc tế 2005]. Đại học Minnesota (bằng tiếng Anh). Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ. 2005. Bản gốc lưu trữ ngày 13 tháng 9 năm 2018. Truy cập ngày 10 tháng 6 năm 2020. 
  116. ^ “Vietnamese asylum cases test Cambodia” [Các trường hợp tị nạn người Việt thử thách Campuchia]. The New Humanitarian (bằng tiếng Anh). 30 tháng 12 năm 2014. Bản gốc lưu trữ ngày 15 tháng 6 năm 2020. Truy cập ngày 30 tháng 12 năm 2014. 
  117. ^ a ă “Say a prayer for Vietnam’s forgotten Montagnards” [Nói một lời cầu nguyện cho những người Thượng bị lãng quên ở Việt Nam]. Asia Times (bằng tiếng Anh). 13 tháng 10 năm 2018. Bản gốc lưu trữ ngày 15 tháng 6 năm 2020. Truy cập ngày 13 tháng 10 năm 2018. 
  118. ^ Crane, Brent (8 tháng 9 năm 2015). “Cambodia’s Montagnard Problem” [Vấn đề người Thượng của Campuchia]. The Diplomat (bằng tiếng Anh). Bản gốc lưu trữ ngày 10 tháng 9 năm 2015. Truy cập ngày 8 tháng 9 năm 2015. 
  119. ^ Hoàng, Dung (1 tháng 1 năm 2007). “Sau bức màn đỏ”. Tiếng Quê Hương. tr. 213-215. ISBN 978-1629880020. 
  120. ^ “Fleeing Montagnard fly to safety of city” [Người Thượng chạy trốn bay đến vùng an toàn của thành phố]. AsiaNews (bằng tiếng Anh). 27 tháng 7 năm 2004. Bản gốc lưu trữ ngày 22 tháng 2 năm 2011. Truy cập ngày 27 tháng 7 năm 2004. 
  121. ^ “The Cham: Descendants of Ancient Rulers of South China Sea Watch Maritime Dispute From Sidelines” [Người Chăm: Hậu duệ của những người cai trị cổ xưa ở biển Đông theo dõi tranh chấp hàng hải từ ngoài lề]. Hội Địa lý Quốc gia (bằng tiếng Anh). 18 tháng 6 năm 2014. Bản gốc lưu trữ ngày 23 tháng 3 năm 2020. Truy cập ngày 18 tháng 6 năm 2014. 
  122. ^ “Cambodia, Viet Nam and UNHCR agree on further Montagnard cooperation” [Campuchia, Việt Nam và UNHCR đồng ý sự hợp tác hơn nữa về người Thượng]. Tổ chức Theo dõi Nhân quyền (bằng tiếng Anh). 22 tháng 8 năm 2006. Bản gốc lưu trữ ngày 25 tháng 6 năm 2016. Truy cập ngày 22 tháng 8 năm 2006. 
  123. ^ “Báo cáo của Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ về tình hình nhân quyền năm 2009”. Đại sứ quán Hoa Kỳ tại Việt Nam. 11 tháng 3 năm 2010. Bản gốc lưu trữ ngày 9 tháng 6 năm 2020. Truy cập ngày 11 tháng 3 năm 2010. 
  124. ^ Dương Đình, Tuấn (10 tháng 3 năm 2010). “Phó Chủ tịch Quốc hội Tòng Thị Phóng thăm Cục An ninh Tây Nguyên”. Đài Tiếng nói Việt Nam. Bản gốc lưu trữ ngày 1 tháng 7 năm 2020. Truy cập ngày 10 tháng 3 năm 2010. 
  125. ^ “Cục An ninh Tây Nguyên đón nhận danh hiệu Anh hùng”. Báo Chính phủ. 17 tháng 7 năm 2014. Bản gốc lưu trữ ngày 25 tháng 6 năm 2020. Truy cập ngày 17 tháng 7 năm 2014. 
  126. ^ “Tây Nguyên: Tăng trưởng kinh tế 6 tháng đầu năm đạt 7,34%”. Đại Đoàn Kết. 10 tháng 7 năm 2015. Bản gốc lưu trữ ngày 10 tháng 6 năm 2020. Truy cập ngày 10 tháng 7 năm 2015. 
  127. ^ Ngọc, Như (3 tháng 4 năm 2019). “Công tác phòng, chống tham nhũng ở các tỉnh Tây Nguyên phải đi vào chiều sâu”. Công an nhân dân. Bản gốc lưu trữ ngày 24 tháng 7 năm 2020. Truy cập ngày 3 tháng 4 năm 2019. 
  128. ^ Tạ Văn, Hồ (15 tháng 5 năm 2012). “Vụ án tham nhũng tại Công ty Công nghiệp rừng Tây Nguyên”. Ban Nội chính Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam. Bản gốc lưu trữ ngày 28 tháng 3 năm 2014. Truy cập ngày 15 tháng 5 năm 2012. 
  129. ^ “Ban Bí thư kỷ luật khiển trách Ban cán sự Đảng UBND tỉnh Đắk Lắk”. Đảng Cộng sản Việt Nam. 2 tháng 5 năm 2012. Bản gốc lưu trữ ngày 24 tháng 7 năm 2020. Truy cập ngày 2 tháng 5 năm 2012. 
  130. ^ Chung, Hoàng (27 tháng 6 năm 2016). “Chánh án TAND Đắk Lắk kêu cứu cho rừng Tây Nguyên”. VietNamNet. Bản gốc lưu trữ ngày 24 tháng 7 năm 2020. Truy cập ngày 27 tháng 6 năm 2016. 
  131. ^ a ă â “Phnom Penh closes a UN refugee camp for Vietnamese Montagnards” [Phnom Penh đóng cửa trại tị nạn Liên Hiệp Quốc cho người Thượng Việt Nam]. AsiaNews (bằng tiếng Anh). 15 tháng 2 năm 2011. Truy cập ngày 15 tháng 2 năm 2011. 
  132. ^ “Refugee centre closes” [Trung tâm tị nạn đóng cửa]. The Phnom Penh Post (bằng tiếng Anh). 15 tháng 2 năm 2011. Truy cập ngày 15 tháng 2 năm 2011. 
  133. ^ a ă “Campuchia đóng cửa trại tạm cư tại Phnôm-pênh”. Công an nhân dân. 18 tháng 2 năm 2011. Bản gốc lưu trữ ngày 11 tháng 6 năm 2020. Truy cập ngày 18 tháng 2 năm 2011. 
  134. ^ “Việt Nam không phản đối đóng cửa trại tạm cư tại Phnom Penh”. Tiền Phong. 17 tháng 2 năm 2011. Bản gốc lưu trữ ngày 12 tháng 6 năm 2020. Truy cập ngày 17 tháng 2 năm 2011. 
  135. ^ a ă “Cambodia closes centre for Vietnam Montagnard refugees” [Campuchia đóng cửa trung tâm cho người Thượng Việt Nam tị nạn]. BBC (bằng tiếng Anh). 15 tháng 2 năm 2011. Truy cập ngày 15 tháng 2 năm 2011. 
  136. ^ a ă “Campuchia đóng cửa trại tỵ nạn”. BBC. 15 tháng 2 năm 2011. Bản gốc lưu trữ ngày 12 tháng 6 năm 2020. Truy cập ngày 15 tháng 2 năm 2011. 
  137. ^ “La pression policière ne se relâche pas sur les populations montagnardes des provinces des Hauts Plateaux du Centre-Vietnam” [Áp lực cảnh sát không giảm về dân miền núi tại tỉnh Đắk Lắk của miền Trung Việt Nam]. Hội Thừa sai Paris (bằng tiếng Pháp). 18 tháng 3 năm 2010. Bản gốc lưu trữ ngày 29 tháng 6 năm 2020. Truy cập ngày 18 tháng 3 năm 2010. 
  138. ^ “Người Thượng Tây Nguyên lại biểu tình đòi đất và tự do tôn giáo”. Đài Á Châu Tự Do. 15 tháng 4 năm 2008. Truy cập ngày 15 tháng 4 năm 2008. 
  139. ^ Hồng, Phương (10 tháng 5 năm 2017). “Cảnh giác với thủ đoạn phá hoại khối đại đoàn kết dân tộc qua internet”. Báo Phú Yên. Truy cập ngày 10 tháng 5 năm 2017. 
  140. ^ “Công an hành hung người Thượng ở Tây Nguyên”. Đài Á Châu Tự Do. 29 tháng 8 năm 2011. Truy cập ngày 29 tháng 8 năm 2011. 
  141. ^ “Việt Nam tuyên án tù 8 người ở Tây Nguyên tội "phản động". Đài Á Châu Tự Do. 29 tháng 5 năm 2013. Truy cập ngày 29 tháng 5 năm 2013. 
  142. ^ “Đời sống hiện nay của người Thượng VN tại Mỹ”. Đài Á Châu Tự Do. 8 tháng 11 năm 2013. Truy cập ngày 8 tháng 11 năm 2013. 
  143. ^ “Việt Nam” (PDF). Ủy ban Tự do tôn giáo Quốc tế Hoa Kỳ. 2014. Truy cập ngày 23 tháng 6 năm 2020. 
  144. ^ “Nine More Montagnards From Vietnam Cross Into Cambodia” [Chín người Thượng từ Việt Nam vượt biên vào Campuchia]. Đài Á Châu Tự Do (bằng tiếng Anh). 11 tháng 2 năm 2015. Truy cập ngày 11 tháng 2 năm 2015. 
  145. ^ “Bóc gỡ 2 nhóm FULRO”. Tỉnh ủy Gia Lai. 12 tháng 4 năm 2016. Bản gốc lưu trữ ngày 13 tháng 1 năm 2017. Truy cập ngày 12 tháng 4 năm 2016. 
  146. ^ “Dozens of Montagnards Flee Cambodia For Thailand Amid Fears of Repatriation to Vietnam” [Hàng tá người Thượng trốn khỏi Campuchia tới Thái Lan do lo ngại hồi hương về Việt nam]. Đài Á Châu Tự Do (bằng tiếng Anh). 3 tháng 4 năm 2017. Bản gốc lưu trữ ngày 2 tháng 7 năm 2017. Truy cập ngày 3 tháng 4 năm 2017. 
  147. ^ “Activists want 160 detained Montagnards freed” [Các nhà hoạt động muốn 160 người Thượng bị giam giữ được phóng thích]. Bangkok Post (bằng tiếng Anh). 31 tháng 8 năm 2018. Truy cập ngày 31 tháng 8 năm 2018. 
  148. ^ “Giới chức ngoại giao Hoa Kỳ gặp gỡ người Thượng Tây Nguyên”. VOA. 24 tháng 6 năm 2020. Truy cập ngày 24 tháng 6 năm 2020.