Linh dương đầu bò đen

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
(đổi hướng từ Connochaetes gnou)
Bước tới: menu, tìm kiếm
Black wildebeest
Gnou Thoiry 19803.jpg
Tình trạng bảo tồn
Phân loại khoa học
Giới (regnum) Animalia
Ngành (phylum) Chordata
Lớp (class) Mammalia
Bộ (ordo) Artiodactyla
Họ (familia) Bovidae
Phân họ (subfamilia) Alcelaphinae
Chi (genus) Connochaetes
Loài (species) C. gnou
Danh pháp hai phần
Connochaetes gnou
(Zimmermann, 1780)
Phạm vi phân bố của loài
Phạm vi phân bố của loài
Danh pháp đồng nghĩa[2]
  • Bos gnou (Zimmermann, 1777)
  • Antilope capensis (Gatterer, 1780)
  • Antilope gnou (Zimmermann, 1780)
  • Antilope gnu (Gmelin, 1788)
  • Catoblepas operculatus (Brookes, 1828)
  • Bos connochaetes (Forster, 1844)

Linh dương đầu bò đen (trong tiếng Anh có tên là :black wildebeest hoặc white-tailed gnu (linh dương đầu bò đuôi trắng)) (danh pháp hai phần: Connochaetes gnou) là một trong hai loài linh dương đầu bò (wildebeest) có liên quan chặt chẽ. Là một thành viên của chi (sinh học) Connochaeteshọ Bovidae. Lần đầu được mô tả năm 1780 bởi Eberhard August Wilhelm von Zimmermann. Linh dương đầu bò đen có chiều dài từ đầu đến hết thân thường giữa 170–220 cm (67–87 in), và cân nặng trung bình khoảng 110–180 kg (240–400 lb). Con đực khi đứng, bờ vai cao xấp xỉ 111–121 cm (44–48 in), trong khi chiều cao của con cái khoảng 106–116 cm (42–46 in). Linh dương đầu bò đen đặc trưng bởi đuôi trắng, dài giống như loài ngựa. Lông thân có màu nâu sẫm đến màu đen và lông sẫm màu dài giữa hai chân trước và dưới bụng.

Linh dương đầu bò đen là loài ăn cỏ, và gần như toàn bộ chế độ ăn uống gồm cỏ các loại. Nước là một nhu cầu thiết yếu. Có ba nhóm bầy đàn khác biệt: đàn con cái, đàn con đực đơn thân và đàn con đực chiếm lãnh địa. Chúng chạy nhanh, và giao tiếp bằng cách sử dụng một loạt thông báo thị giác và âm thanh. Mùa sinh sản chính của linh dương đầu bò đen từ tháng Hai đến tháng Tư. Một con non duy nhất thường được sinh ra sau một thai kỳ khoảng tám tháng rưỡi. Con non vẫn còn ở với mẹ cho đến khi con non tiếp theo của linh dương mẹ được sinh ra một năm sau đó. Linh dương đầu bò đen sống tại đồng bằng rộng, đồng cỏ và vùng cây bụi ở Karoo.

Quần thể tự nhiên của linh dương đầu bò đen, loài đặc hữu của khu vực phía nam châu Phi, gần như hoàn toàn bị tiêu diệt trong thế kỷ 19, do danh tiếng loài cũng như dịch bệnh và giá trị của da và thịt linh dương. Tuy nhiên, loài này được tái nhập rộng rãi từ những mẫu vật sống được nuôi nhốt, cả ở khu bảo tồn thiên nhiên lẫn khu tư nhân trong suốt Lesotho, Swaziland, và Nam Phi. Chúng cũng được du nhập bên ngoài phạm vi tự nhiên ở NamibiaKenya.

Phân loại và tiến hóa[sửa | sửa mã nguồn]

Gnou Thoiry 19801.jpg

Danh pháp hai phần của linh dương đầu bò đen là Connochaetes gnou. Loài được đặt trong chi Connochaetes và họ Bovidae và được mô tả lần đầu bởi nhà động vật học người Đức, Eberhard August Wilhelm von Zimmermann năm 1780.[3] Ông mô tả dựa trên một bài báo được viết bởi nhà triết học tự nhiên Jean-Nicolas-Sébastien Allamand năm 1776.[2] Tên chi Connochaetes xuất phát từ tiếng Hy Lạp κόννος, kónnos, "beard" (râu), và χαίτη, khaítē, "flowing hair" (mái tóc), "mane" (bờm).[4] Tên cụ thể "gnou" bắt nguồn từ tên tiếng Khoikhoi của nhiều loài động vật, gnou.[5] Tên chung "gnu" cũng được cho là có nguồn gốc từ tên tiếng Hottentot T'gnu, trong đó đề cập đến tiếng kêu lặp đi lặp lại "ge-nu" của con đực trong mùa giao phối.[2] Linh dương đầu bò đen lần đầu tiên được phát hiện ở miền phía Bắc của Nam Phi trong những năm 1800.[6]

Linh dương đầu bò đen hiện bao gồm trong cùng chi với linh dương đầu bò lam (Connochaetes taurinus). Điều này không phải luôn như vậy và một thời gian sau này được đặt dưới một chi riêng biệt do loài làm chủ, Gorgon.[7] Dòng dõi linh dương đầu bò đen dường như đã tách ra từ linh dương đầu bò lam vào thời điểm từ giữa đến cuối thế Pleistocene, và trở thành một loài riêng biệt khoảng một triệu năm về trước.[8] Sự tiến hóa này khá gần trên một niên đại địa chất.[9]

Điểm nổi bật cần thiết cho việc bảo vệ lãnh địa như sừng và hộp sọ rộng của linh dương đầu bò đen hiện đại, được tìm thấy trong hóa thạch tổ tiên của loài.[8] Hóa thạch được biết đến sớm nhất là đá trầm tích ở Cornelia tại Orange Free State có niên đại khoảng tám trăm ngàn năm.[10] Hóa thạch cũng tìm được từ trầm tích sông Vaal, mặc dù không rõ ràng, dù có hoặc không, hóa thạch cổ xưa như phát hiện tại Cornelia. Sừng của linh dương đầu bò đen được tìm ra trong những đụn cát gần HermanusNam Phi. Đây là phạm vi vượt xa ghi nhận được của loài và đề xuất rằng số động vật có thể di cư đến khu vực này từ Karoo.[2]

Phép lai[sửa | sửa mã nguồn]

Linh dương đầu bò đen được cho lai giống với họ hàng phân loại gần, linh dương đầu bò lam. Linh dương đầu bò đen đực được cho giao phối với linh dương đầu bò lam cái và ngược lại.[11] Sự khác biệt trong hành vi xã hội và môi trường sống trong lịch sử đã ngăn cản lai ghép giữa 2 loài, tuy nhiên lai có thể xảy ra khi cả hai đều bị giới hạn phạm vi cùng một khu vực. Kết quả con lai thường tốt giống. Một nghiên cứu về động vật lai tại khu bảo tồn Thiên nhiên Spioenkop Dam ở Nam Phi cho thấy rằng có nhiều bất lợi dị thường liên quan đến răng, sừng và xương khớp nối trong trong hộp sọ.[12] Một nghiên cứu khác báo cáo sự gia tăng kích thước của con lai so với một trong hai bố mẹ nó. Ở vài con vật khoang thính giác bị biến dạng cao và số khác xương quayxương trụ được hợp nhất.[13]

Mô tả[sửa | sửa mã nguồn]

Linh dương đầu bò đen có cặp sừng cong ngược về sau

Linh dương đầu bò đen là loài lưỡng hình giới tính, với con cái có kích thước nhỏ hơn và mảnh mai hơn con đực.[2][14][15] Chiều dài từ đầu đến hết thân thường giữa 170 và 220 cm (67 và 87 in).[16] Con đực có bờ vai cao xấp xỉ 111 đến 121 cm (44 đến 48 in), trong khi con cái khoảng 106 đến 116 cm (42 đến 46 in).[17] Con đực thường nặng 140 đến 157 kg (309 đến 346 lb) và con cái 110 đến 122 kg (243 đến 269 lb).[17] Một điểm đặc trưng phân biệt có ở cả hai giới là đuôi dài và tương tự như đuôi ngựa.[17] Màu sáng trắng của đuôi mang lại cho loài này tên theo tiếng địa phương là "white-tailed gnu" (linh dương đuôi trắng), và cũng phân biệt với linh dương đầu bò lam, vốn có đuôi màu đen.[15] Chiều dài của đuôi khoảng từ 80 đến 100 cm (31 đến 39 in).[16]

Linh dương đầu bò đen có lông ngoài màu nâu hoặc đen, hơi nhạt màu hơn trong mùa hè và thô hơn và dày hơn vào mùa đông. Con non mới sinh có lông xù xì, vàng nhạt.[15] Con đực sẫm màu hơn so với con cái.[17] Linh dương có bờm rậm và ngọn đen, cũng như linh dương đầu bò lam, đính lên từ phía sau cổ. Lông kết hợp này có màu trắng hoặc màu kem với ngọn sẫm tối. Trên mõm và phía dưới cằm, có râu cứng đen. Cũng có lông dài màu tối giữa hai chân trước và dưới bụng. Đặc điểm thể chất khác gồm một cổ dày, một lưng phẳng, và đôi mắt khá nhỏ và tròn sáng.[14]

Cả hai giới đều có cặp sừng khỏe, cong về phía trước, giống như lưỡi câu và dài lên đến 78 cm (31 in). Cặp sừng rộng lớn ở con đực trưởng thành, và được làm phẳng để tạo thành một lá chắn bảo vệ. Ở con cái, sừng đều ngắn hơn và hẹp hơn.[14][15] Chúng phát triển đầy đủ ở con cái trong năm thứ ba, trong khi sừng không phát triển đầy đủ trước tuổi thứ 4 hoặc 5 ở con đực.[2] Linh dương đầu bò đen thường có 13 đốt sống ngực, mặc dù mẫu vật có 14 được báo cáo, và loài này cho thấy một xu hướng rằng vùng ngực trở nên thon dài.[2]tuyến mùi tiết ra một chất dính phía trước đôi mắt, dưới búi lông và trên bàn chân trước. Con cái có hai núm vú.[2][17] Ngoài sự khác biệt tại đuôi, hai loài linh dương đầu bò cũng khác nhau về kích thước và màu sắc, với loài đen nhỏ hơn và sẫm màu hơn so với loài xanh.[18]

Linh dương đầu bò đen có thể duy trì nhiệt độ cơ thể trong phạm vi nhỏ bất chấp những biến động lớn của nhiệt độ bên ngoài.[19] Cho thấy phát triển tốt hành vi định hướng bức xạ Mặt Trời giúp loài phát triển mạnh trong cái nóng và môi trường sống không có bóng râm.[20] Hồng cầu đếm được khi sinh cao và tăng khi đến 2-3 tháng tuổi, trong khi ngược lại, bạch cầu đếm được lúc sinh thấp và giảm trong suốt cuộc đời. Bạch cầu hạt trung tính đếm được cao ở tất cả lứa tuổi. Lượng hematocrithemoglobin giảm khi được 20-30 ngày tuổi sau khi sinh. Cao điểm trong hàm lượng của tất cả thông số hemolobin khi được 2-3 tháng tuổi, sau đó giảm dần, đạt giá trị thấp nhất của cá thể lớn tuổi nhất.[21] Sự hiện diện của sợi co giật nhanh và khả năng cơ bắp sử dụng một lượng lớn oxy hỗ trợ giải thích cho tốc độ chạy nhanh của linh dương đầu bò đen và sức đề kháng cao cho đến mệt mỏi.[22] Loài này có thể sống được chừng 20 năm.[14][15]

Bệnh tật và ký sinh trùng[sửa | sửa mã nguồn]

Tác phẩm họa hình linh dương đầu bò đen

Linh dương đầu bò đen đặc biệt nhạy cảm với bệnh than, dịch hiếm, phân tán rộng rãi được ghi nhận và có khả năng tử vong cao.[23] Mất điều hòa liên quan đến bệnh lý tủy và nồng độ đồng thấp trong gan cũng được phát hiện ờ loài này.[24] Heartwater (Ehrlichia ruminantium) là 1 chứng bệnh ký sinh thuộc nhóm vi khuẩn rickettsia gây ra có ảnh hưởng đến các linh dương đầu bò đen, cũng như linh dương đầu bò lam bị ảnh hưởng chí tử bởi dịch tả trâu bòlở mồm long móng, người ta tin rằng linh dương đầu bò đen cũng có khả năng mẫn cảm với các loại bệnh trên. Sốt viêm ác tính trâu bò là một căn bệnh gây tử vong cho bò nhà, gây ra bởi vi rút gammaherpesvirus. Dường như, giống với linh dương đầu bò lam, linh dương đầu bò đen tích chứa virus và giống tất cả động vật mang mầm bệnh, liên tục bị nhiễm bệnh nhưng không có triệu chứng thể hiện. Vi rút lây truyền từ mẹ sang con trong thai kỳ hoặc ngay sau khi sinh.[25]

Linh dương đầu bò đen hoạt động như vật chủ của số lượng ký sinh trùng bên ngoài và bên trong. Một nghiên cứu tại Karroid Mountainveld (Đông Cape, Nam Phi) cho thấy sự hiện diện của tất cả giai đoạn ấu trùng ruồi dưới mũi Oestrus variolosusGedoelstia hässleri. Giai đoạn giữa hai lần thay lông đầu tiên của ấu trùng G  hässleri phát hiện với số lượng lớn trên màng cứng ở linh dương non, đặc biệt từ tháng 6 đến tháng 8, sau đó di chuyển đến các đoạn mũi.[26] dịch bệnh ghẻ lở lặp đi lặp lại dẫn đến sự tuyệt chủng quy mô lớn.[2] Nghiên cứu đầu tiên về động vật nguyên sinh trong linh dương đầu bò lam và đen cho thấy sự hiện diện của 23 loài sinh vật đơn bào trong dạ cỏ, có cả Diplodinium bubalidisOstracodinium damaliscus phổ biến trong tất cả con vật.[27]

Sinh thái và hành vi[sửa | sửa mã nguồn]

Linh dương đầu bò đen có tốc độ lên đến 80 km/h (50 mph).

Linh dương đầu bò đen hoạt động chủ yếu vào sáng sớm và chiều tối, ưa thích nghỉ ngơi trong thời gian nóng nhất của ngày.[28] Linh dương có thể chạy với tốc độ 80 km/h (50 mph).[28] Khi một người cận một đàn trong vài trăm mét, linh dương thở phì và chạy một khoảng ngắn trước khi dừng và nhìn lại, lặp đi lặp lại hành vi này nếu tiếp tục tiếp cận. Chúng giao tiếp với nhau bằng cách sử dụng pheromone phát hiện bởi flehmen và một số hình thức truyền thông phát âm. Một trong số đó là một tiếng thở lách cách như kim loại hoặc tiếng vọng "hick",[16] có thể nghe cách đó đến 1500 mét (1 dặm).[29] Động vật săn loài này làm mồi có sư tử, linh cẩu đốm, chó hoang châu Phi, báo hoa, báo Gêpa và cá sấu. Trong đó con non là mục tiêu chính của linh cẩu, trong khi sư tử tấn công con trưởng thành.[2][16]

Linh dương đầu bò đen là loài động vật xã hội với một cấu trúc xã hội phức tạp bao gồm ba nhóm riêng biệt: thứ nhất, đàn linh dương cái, bao gồm con cái trưởng thành và con non; thứ hai, đàn con đực đơn thân, gồm chỉ con non 1 tuổi và con đực lớn tuổi; thứ ba, con đực chiếm lãnh địa. Số con cái mỗi đàn biến thiên, thường từ 14 đến 32,[14] nhưng là cao nhất trong các quần thể dày đặc[2] và cũng làm tăng mật độ thức ăn.[14] Có một sự gắn bó chặt chẽ giữa các thành viên trong đàn linh dương cái, nhiều con trong số đó có quan hệ chặt chẽ. Đàn lớn thường được chia thành các nhóm nhỏ hơn. Trong khi con non ở lại với mẹ nó, những con lớn tuổi hình thành các nhóm riêng trong đàn.[2] Những bầy đàn có một hệ thống phân cấp xã hội,[2] và con cái khá hung dữ với những con khác cố gắng tham gia nhóm.[16] Con đực thường được đẩy lùi bởi mẹ của nó trước mùa sinh bắt đầu. Tách một con non từ mẹ của nó có thể là một nguyên nhân chính gây tử vong con non. Trong khi một số con đực 1 tuổi ở lại trong đàn con cái, những con khác tham gia một đàn con đực đơn thân. Đây thường là các hiệp hội lỏng lẻo và không giống như các đàn con cái, các cá thể không gắn chặt vào nhau.[2] Một sự khác biệt giữa đàn con cái và con đực đơn thân là sự xâm lược thấp hơn trên một phần của con đực.[16] Những bầy đực đơn thân di chuyển rộng rãi trong sinh cảnh và hoạt động như một nơi trú ẩn cho con đực đã không thành công như những con đực chiếm lãnh địa, và cũng là một khu bảo vệ con đực giống trong tương lai.[2]

Con đực trưởng thành, thường hơn 4 tuổi, thiết lập lãnh thổ riêng thông qua đó đàn con cái thường đi xuyên qua.[16] Lãnh địa này được duy trì trong suốt cả năm,[2] với con vật thường tách biệt nhau một khoảng 100–400 m (330–1.310 ft), nhưng điều này có thể thay đổi tùy theo chất lượng của môi trường sống. Trong điều kiện thuận lợi, khoảng cách này là ít nhất là 9 m (30 ft), nhưng có thể lớn khoảng 1.600 m (5.200 ft) trong môi trường sống nghèo nàn.[28] Mỗi con có một mảng đất ở trung tâm lãnh địa của mình, trong đó nó thường thả phân, và có hành vi thể hiển. Bao gồm tiểu, cào, gãi và lăn trên mặt đất và húc sừng mạnh - tất cả đều chứng tỏ sức mạnh của nó với những con khác.[2][16] Một cuộc gặp gỡ giữa hai con đực liên quan đến việc xây dựng nghi thức. Estes đặt ra thuật ngữ "Challenge Ritual" để mô tả hành vi này của linh dương đầu bò lam, nhưng điều này cũng được áp dụng cả linh dương đầu bò đen, nhờ vào sự tương đồng gần gũi trong các hành vi của cả hai loài.[2] Những con đực tiếp cận mỗi cách khác với con đầu đàn yếu đi , giống như một vị trí có cỏ (đôi khi là đồng cỏ thực sự). Điều này thường được theo sau bởi dạng di chuyển như đứng ở một vị trí ngược-song song, trong đó một con đực tiểu và đối phương ngửi mùi và thực hiện flehmen, sau đó chúng có thể đảo ngược thủ tục. Trong nghi thức này hoặc sau đó, hai con có thể áp sừng vào nhau, khoanh tròn một cách khác, hoặc thậm chí nhìn xa. Kế đến bắt đầu cuộc chiến, có khả năng cường độ thấp (bao gồm lồng sừng vào nhau và đẩy nhau trong tư thế đứng) hoặc cường độ cao (bao gồm húc đầu gối và căng thẳng mạnh mẽ, cố gắng giữ bình tĩnh trong khi trán đang gần chạm mặt đất). Mối đe dọa hiển thị như rung lắc đầu cũng có thể xảy ra.[2]

Khẩu phần[sửa | sửa mã nguồn]

Linh dương đầu bò đen đang gặm cỏ

Linh dương đầu bò đen chủ yếu ăn cỏ, thích cỏ ngắn nhưng cũng ăn các loại thảo mộc và cây bụi khác, đặc biệt là khi cỏ đang khan hiếm. Cây bụi có thể chiếm nhiều đến 37% trong chế độ ăn [17] nhưng cỏ thường chiếm hơn 90%.[15][30] Nước là điều cần thiết,[31] mặc dù chúng có thể tồn tại mà không cần uống nước mỗi ngày.[32] Các đàn gặm cỏ hoặc theo dòng hoặc theo nhóm lỏng lẻo, thường đi bộ theo dãy đơn khi di chuyển. Chùng thường đi kèm với cò ma , cò chọn ra và tiêu thụ côn trùng ẩn trong lông hoặc bị rối loạn do chuyển động.[2]

Trước khi người châu Âu xuất hiện trong khu vực, linh dương đầu bò lang thang rộng rãi, có thể liên quan đến sự xuất hiện của mưa và sự sẵn có của thức ăn thô xanh tốt. Chúng không bao giờ thực hiện cuộc di cư lớn như linh dương đầu bò lam nhưng tại một thời điểm, chúng vượt qua dãy núi Drakensberg, di chuyển về phía đông trong mùa thu, tìm kiếm đồng cỏ tốt. Sau đó chúng trở về thảo nguyên cao vào mùa xuân và di chuyển về phía tây, nơi khoai lang và thảm thực vật Karoo phong phú. Chúng cũng chuyển từ Bắc vào Nam, cỏ lên men tìm thấy ở phía bắc sông Vaal, dài lớn và trở nên có mùi khó chịu, linh dương đầu bò chỉ ăn chồi non của cỏ lên men.[2] Ngày nay, hầu như tất cả linh dương đầu bò đen tại khu dự trữ hoặc các trang trại và mức độ chuyển động của loài bị hạn chế.[15]

Trong một nghiên cứu về hoạt động nuôi dưỡng số lượng linh dương đầu bò đen cái sống trong một môi trường không bóng râm, phát hiện rằng chúng ăn chủ yếu vào ban đêm. Quan sát thấy tại khoảng thời gian đều đặn trên thời kỳ một năm và thấy rằng với sự gia tăng nhiệt độ, số lượng linh dương ăn vào ban đêm cũng tăng lên. Trong thời tiết mát mẻ, chúng nằm xuống để nghỉ ngơi nhưng trong điều kiện nóng hơn chúng nghỉ ngơi trong lúc đứng lên.[19]

Sinh sản[sửa | sửa mã nguồn]

Video linh dương cái sinh con

Linh dương đực động dục khi được 3 năm tuổi nhưng có thể trưởng thành ở độ tuổi trẻ trong điều kiện nuôi nhốt. Con cái đầu tiên đến theo mùa và sinh như con non 1 tuổi hoặc như 2 tuổi.[2] Chúng sinh sản chỉ một lần trong một năm.[14]

Một linh dương đầu bò đen đực vượt trôi sẽ có một hậu cung con cái và không cho phép những con đực khác giao phối với chúng. Mùa sinh sản xảy ra vào cuối mùa mưa và kéo dài một vài tuần giữa tháng hai và tháng tư. Khi một con cái của nó đi vào chu kỳ động dục, con đực tập trung vào con cái đó và giao phối với con cái đó nhiều lần. Hành vi giao phối của con đực vào thời điểm này bao gồm việc kéo căng chậm, úp tai xuống, đánh hơi âm hộ, thể hiện nghi thức tiểu tiện và chạm cằm vào mông con cái. Đồng thời, con cái vẩy đuôi lên (đôi khi theo chiều dọc) hoặc hôn dọc theo mặt con đực. Cặp đôi thường tách sau khi giao phối, nhưng đôi khi con cái theo sau bạn đời của nó sau đó, chạm vào mông của nó với cái mõm con đực. Trong mùa sinh sản, con đực mất điều kiện như dành chút thời gian gặm cỏ.[17] Con đực được biết đến còn có thể gắn kết với con đực khác.[33]

Thai kỳ kéo dài khoảng 8 tháng rưỡi, sau đó một con non duy nhất được sinh ra. Con cái đau đẻ không di chuyển ra khỏi đàn con cái, liên tục nằm xuống và đứng lên một lần nữa. Sinh con thường diễn ra tại khu vực cỏ ngắn khi bò ở cùng vị trí. Nó đứng lên ngay sau đó làm dây rốn đứt ra, mạnh mẽ liếm con non và nhai màng bọc hậu sản. Mặc dù khác biệt vùng miền, khoảng 80% số con cái sinh con non trong một khoảng thời gian 2-3 tuần sau khi bắt đầu mùa mưa - từ giữa tháng 11 đến cuối tháng 12.[34] Sinh sản theo mùa cũng được báo cáo trong số linh dương nuôi nhốt tại vườn thú châu Âu. Sinh đôi không có báo cáo.[2]

Con non có bộ lông hung hung, xù xì và nặng khoảng 11 kilôgam (24 lb). Đến cuối tuần thứ 4, bốn răng cửa đã xuất hiện đầy đủ và khoảng thời gian đó, hai cấu trúc nhô lên giống như cục u, sừng non xuất hiện trên đầu. Về sau phát triển thành sừng đạt chiều dài 200–250 mm (8–10 in) vào tháng thứ 5 và phát triển tốt vào tháng thứ 8. Con non có thể đứng và chạy ngay sau khi sinh, một khoảng thời gian rất nguy hiểm cho động vật non trong tự nhiên. Nó được nuôi dưỡng nhờ sữa mẹ khi được 6 đến 8 tháng, bắt đầu gặm cỏ khi được 4 tuần và vẫn còn với mẹ cho đến khi con non tiếp theo của linh dương cái được sinh ra một năm sau đó.[14][15]

Phân bố và môi trường sống[sửa | sửa mã nguồn]

Linh dương đầu bò đen có nguồn gốc ở miền nam châu Phi. Phạm vi lịch sử bao gồm Nam Phi, Swaziland và Lesotho, nhưng ở hai nước sau đã bị săn bắt đến tuyệt chủng trong thế kỷ 19. Loài được tái nhập và cũng du nhập đến Namibia, nơi trở nên thiết lập tốt.[1]

Linh dương đầu bò đen sống ở vùng đồng bằng rộng, đồng cỏ và cây bụi ở Karoo tại cả hai khu vực miền núi dốc, đồi núi nhấp nhô thấp hơn. Những vùng có độ trong các khu vực khác nhau từ 1.350–2.150 m (4.430–7.050 ft).[1][15] Đàn thường di cư hoặc du mục, nếu không, chúng có thể có các dãy cư trú thường xuyên khoảng 1 km2 (11.000.000 sq ft).[28] Đàn con cái đi lang thang trong dãy dao động quanh kích thước 250 mẫu Anh (100 ha; 0,39 sq mi).[16] Trong quá khứ, linh dương đầu bò đen sinh sống trong đồng cỏ ôn đới tại highveld trong mùa đông khô và khí hậu khô cằn vùng Karoo trong mùa mưa. Tuy nhiên, do kết quả săn bắt lớn để lấy da, linh dương biến mất khỏi phạm vi lịch sử, và hiện nay phần lớn là giới hạn tại nông trại nuôi thú săn và khu bảo vệ dự trữ ở phía nam châu Phi.[32] Trong hầu hết khu dự trữ, linh dương đầu bò đen chia sẻ môi trường sống với blesbokspringbok.[2]

Mối đe dọa và bảo tồn[sửa | sửa mã nguồn]

Nơi loài sống cùng với linh dương đầu bò lam, hai loài này có thể lai giống, điều này được coi là một mối đe dọa tiềm năng cho việc duy trì loài thuần chủng.[1][11] Linh dương đầu bò đen đã từng rất nhiều và có mặt ở miền nam châu Phi với nhiều đàn lớn nhưng đến cuối của thế kỷ XIX, gần như đã bị săn bắt đến tuyệt chủng và ít hơn 600 cá thể còn lại.[17] Một số nhỏ cá thể vẫn còn hiện diện trong khu bảo tồn săn thú và ở các vườn thú và đó là từ những quần thể được cứu sống.[1]

Hiện nay, được cho là có hơn 18.000 cá thể, 7.000 trong số đó ở Namibia, ngoài phạm vi tự nhiên , và nơi mà loài được nuôi. Khoảng 80% linh dương sống trong khu vực tư nhân, trong khi 20% khác được giới hạn trong khu vực bảo vệ. Số lượng hiện nay đang có xu hướng đi lên (đặc biệt trên đất tư nhân) và vì lý do này mà IUCN, trong sách đỏ IUCN, liệt kê linh dương đầu bò đen vào nhóm "loài ít quan tâm ". Được du nhập vào Namibia đã là một thành công và con số này đã tăng đáng kể từ 150 vào năm 1982 lên 7.000 trong năm 1992.[1][14]

Quan hệ với con người[sửa | sửa mã nguồn]

1 chiếc túi làm từ da linh dương

Linh dương đầu bò đen được vẽ trên phù hiệu áo giáp của tỉnh Natal tại Nam Phi. Trong những năm qua các nhà chức trách Nam Phi đã ban hành tem trưng bày động vật và kho bạc Nam Phi đúc 5 đồng tiền rand với hình một con linh dương đầu bò đen đang nhảy dựng lên.[2][35]

Mặc dù chúng không hiện diện trong môi trường tự nhiên với số lượng lớn ngày hôm nay, nhưng linh dương đầu bò đen tại một thời điểm là động vật ăn cỏ chính trong hệ sinh thái và mục tiêu săn mồi chủ yếu của động vật ăn thịt lớn như sư tử. Ngày nay, chúng rất quan trọng về mặt kinh tế đối với con người, là một điểm thu hút du lịch lớn cũng như cung cấp sản phẩm động vật như da và thịt. Da thuộc có chất lượng tốt và thịt thô, khô ráo và bảo quản lâu.[28] Thịt linh dương đầu bò được sấy khô làm thịt muối sấy, một phần quan trọng trong ẩm thực Nam Phi. Thịt linh dương cái mềm hơn so với con đực, và lúc chất lượng nhất trong mùa thu.[36] Linh dương đầu bò có thể cung cấp gấp mười lần thịt linh dương Thomson.[37] Đuôi mượt, mềm rũ được sử dụng làm "fly-whisk" (vật dụng trong tôn giáo hình dạng như cái đập ruồi) hoặc "chowries".[28]

Tuy nhiên, linh dương đầu bò đen cũng có thể ảnh hưởng tiêu cực đến con người. Cá thể tự nhiên có thể được xem đối thủ cạnh tranh với vật nuôi thương mại, và có thể truyền nhiễm bệnh hiểm nghèo như dịch tả trâu bò và là nguyên nhân gây ra dịch bệnh động vật, đặc biệt là gia súc. Chúng cũng có thể lây lan ve ký sinh vật nuôi, giun ký sinh phổi (lungworms), sán dây (tapeworm), ruồi và sán paramphistomes.[6]

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ a ă â b c d IUCN SSC Antelope Specialist Group (2008). Connochaetes gnou. Sách đỏ IUCN các loài bị đe dọa. Phiên bản 2012.2. Liên minh Bảo tồn Thiên nhiên Quốc tế. Truy cập ngày 28 tháng 8 năm 2010.  Database entry includes a brief justification of why this species is of least concern.
  2. ^ a ă â b c d đ e ê g h i k l m n o ô ơ p q r s t u von Richter, W. (1974). “Connochaetes gnou”. Mammalian Species (The American Society of Mammalogists) (50): 1–6. 
  3. ^ Wilson, D. E.; Reeder, D. M. biên tập (2005). Mammal Species of the World . Baltimore: Nhà in Đại học Johns Hopkins, 2 tập (2.142 trang). tr. 676. ISBN 978-0-8018-8221-0. OCLC 62265494. 
  4. ^ Benirschke, K. “Wildebeest, Gnu”. Comparative Placentation. Truy cập ngày 14 tháng 1 năm 2014. 
  5. ^ “Gnu”. Merriam-Webster. Truy cập ngày 14 tháng 1 năm 2014. 
  6. ^ a ă Talbot, L. M.; Talbot, M. H. (1963). Wildlife Monographs:The Wildebeest in Western Masailand, East Africa. National Academies. tr. 20–31. 
  7. ^ Corbet, S. W.; Robinson, T. J. (November–December 1991). “Genetic divergence in South African Wildebeest: comparative cytogenetics and analysis of mitochondrial DNA”. The Journal of heredity 82 (6): 447–52. PMID 1795096. 
  8. ^ a ă Bassi, J. (2013). Pilot in the Wild: Flights of Conservation and Survival. South Africa: Jacana Media. tr. 116–8. ISBN 978-1-4314-0871-9. 
  9. ^ Hilton-Barber, B.; Berger, L. R. (2004). Field Guide to the Cradle of Humankind : Sterkfontein, Swartkrans, Kromdraai & Environs World Heritage Site (ấn bản 2). Cape Town: Struik. tr. 162–3. ISBN 177-0070-656. 
  10. ^ Cordon, D.; Brink, J. S. (2007). “Trophic ecology of two savanna grazers, blue wildebeest Connochaetes taurinus and black wildebeest Connochaetes gnou”. European Journal of Wildlife Research 53 (2): 90–99. doi:10.1007/s10344-006-0070-2. 
  11. ^ a ă Grobler, J. P.; Rushworth, I.; Brink, J. S.; Bloomer, P.; Kotze, A.; Reilly, B.; Vrahimis, S. (5 tháng 8 năm 2011). “Management of hybridization in an endemic species: decision making in the face of imperfect information in the case of the black wildebeest—Connochaetes gnou”. European Journal of Wildlife Research 57 (5): 997–1006. doi:10.1007/s10344-011-0567-1. ISSN 1439-0574. 
  12. ^ Ackermann, R. R.; Brink, J. S.; Vrahimis, S.; De Klerk, B. (29 tháng 10 năm 2010). “Hybrid wildebeest (Artiodactyla: Bovidae) provide further evidence for shared signatures of admixture in mammalian crania”. South African Journal of Science 106 (11/12): 1–4. doi:10.4102/sajs.v106i11/12.423. 
  13. ^ De Klerk, B. (2008). An osteological documentation of hybrid wildebeest and its bearing on black wildebeest (Connochaetes gnou) evolution (Doctoral dissertation). 
  14. ^ a ă â b c d đ e ê Lundrigan, B.; Bidlingmeyer, J. (2000). Connochaetes gnou: black wildebeest”. Animal Diversity Web. University of Michigan. Truy cập ngày 21 tháng 8 năm 2013. 
  15. ^ a ă â b c d đ e ê “Black wildebeest (Connochaetes gnou)”. ARKive. Wildscreen. Truy cập ngày 21 tháng 8 năm 2013. 
  16. ^ a ă â b c d đ e ê Huffman, B. Connochaetes gnou, White-tailed gnu, Black wildebeest”. Ultimate Ungulate. Truy cập ngày 14 tháng 1 năm 2014. 
  17. ^ a ă â b c d đ e Estes, R. D. (2004). The Behavior Guide to African Mammals : Including Hoofed Mammals, Carnivores, Primates . Berkeley [u.a.]: University of California Press. tr. 156–8. ISBN 0-520-08085-8. 
  18. ^ Stewart, D. (2004). The Zebra's Stripes and Other African Animal Tales. Cape Town: Struik Publishers. tr. 37. ISBN 186-8729-516. 
  19. ^ a ă Maloney, S. K.; Moss, G.; Cartmell, T.; Mitchell, D. (28 tháng 7 năm 2005). “Alteration in diet activity patterns as a thermoregulatory strategy in black wildebeest (Connochaetes gnou)”. Journal of Comparative Physiology A 191 (11): 1055–64. doi:10.1007/s00359-005-0030-4. ISSN 1432-1351. 
  20. ^ Maloney, S. K.; Moss, G.; Mitchell, D. (2 tháng 8 năm 2005). “Orientation to solar radiation in black wildebeest (Connochaetes gnou)”. Journal of Comparative Physiology A 191 (11): 1065–77. doi:10.1007/s00359-005-0031-3. ISSN 1432-1351. 
  21. ^ Vahala, J.; Kase, F. (tháng 12 năm 1993). “Age- and sex-related differences in haematological values of captive white-tailed gnu (Connochaetes gnou)”. Comparative Haematology International 3 (4): 220–224. doi:10.1007/BF02341969. ISSN 1433-2973. 
  22. ^ Kohn, T. A.; Curry, J. W.; Noakes, T. D. (9 tháng 11 năm 2011). “Black wildebeest skeletal muscle exhibits high oxidative capacity and a high proportion of type IIx fibres”. Journal of Experimental Biology 214 (23): 4041–7. doi:10.1242/jeb.061572. PMID 22071196. 
  23. ^ Pienaar, U. de V. (1974). “Habitat-preference in South African antelope species and its significance in natural and artificial distribution patterns”. Koedoe: African Protected Area Conservation and Science 17 (1): 185–95. doi:10.4102/koedoe.v17i1.909. 
  24. ^ Penrith, M. L.; Tustin, R. C.; Thornton, D. J.; Burdett, P. D. (tháng 6 năm 1996). “Swayback in a blesbok (Damaliscus dorcas phillipsi) and a black wildebeest (Connochaetes gnou)”. Journal of the South African Veterinary Association 67 (2): 93–6. PMID 8765071. 
  25. ^ Pretorius, J. A.; Oosthuizen, M. C.; Van Vuuren, M. (29 tháng 5 năm 2008). “Gammaherpesvirus carrier status of black wildebeest (Connochaetes gnou) in South Africa”. Journal of the South African Veterinary Association 79 (3): 136–41. doi:10.4102/jsava.v79i3.260. 
  26. ^ Horak, I. G. (14 tháng 9 năm 2005). “Parasites of domestic and wild animals in South Africa. XLVI. Oestrid fly larvae of sheep, goats, springbok and black wildebeest in the Eastern Cape Province”. Onderstepoort Journal of Veterinary Research 72 (4): 315–20. doi:10.4102/ojvr.v72i4.188. 
  27. ^ Booyse, D. G.; Dehority, B. A. (tháng 11 năm 2012). “Protozoa and digestive tract parameters in Blue wildebeest (Connochaetes taurinus) and Black wildebeest (Connochaetes gnou), with description of Entodinium taurinus n. sp.”. European Journal of Protistology 48 (4): 283–9. doi:10.1016/j.ejop.2012.04.004. 
  28. ^ a ă â b c d Nowak, R. M. (1999). Walker's Mammals of the World (ấn bản 6). Baltimore, Maryland: Johns Hopkins University Press. tr. 1184–6. ISBN 0-8018-5789-9. 
  29. ^ Estes, R. D. (1993). The Safari Companion : A Guide to Watching African Mammals, Including Hoofed Mammals, Carnivores and Primates. Halfway House: Russel Friedman Books. tr. 124–6. ISBN 0-9583223-3-3. 
  30. ^ P., Apps (2000). Wild Ways : Field Guide to the Behaviour of Southern African Mammals (ấn bản 2). Cape Town: Struik. tr. 146. ISBN 186-8724-433. 
  31. ^ Stuart, C.; Stuart, T. (2001). Field guide to mammals of southern Africa (ấn bản 3). Cape Town: Struik. tr. 202. ISBN 186-8725-375. 
  32. ^ a ă Estes, R. D. (2004). The Behavior Guide to African Mammals: Including Hoofed Mammals, Carnivores, Primates . Berkeley [u.a.]: University of California Press. tr. 133. ISBN 052-0080-858. 
  33. ^ Gunda, M. R. (2010). The Bible and Homosexuality in Zimbabwe : A Socio-historical Analysis of the Political, Cultural and Christian Arguments in the Homosexual Public Debate with Special Reference to the Use of the Bible. Bamberg: University of Bamberg Press. tr. 121. ISBN 392-3507-747. 
  34. ^ “Wildebeest”. African Wildlife Foundation. Truy cập ngày 17 tháng 1 năm 2014. 
  35. ^ “Circulation Coins: Five Rand (R5)”. South African Mint Company. 2011. Truy cập ngày 16 tháng 2 năm 2014. 
  36. ^ Hoffman, L. C.; Van Schalkwyk, S.; Muller, N. (tháng 10 năm 2009). “Effect of season and gender on the physical and chemical composition of black wildebeest meat”. South African Journal of Wildlife Research 39 (2): 170–4. doi:10.3957/056.039.0208. 
  37. ^ Schaller, G. B. (1976). The Serengeti Lion : A Study of Predator-prey Relations. Chicago: University of Chicago Press. tr. 217. ISBN 022-6736-601. 

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]

  • Information at ITIS