Bình Dương

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
(đổi hướng từ Tỉnh Bình Dương)
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm
Bình Dương
Tỉnh
Logobinhduong.PNG
Biểu trưng
Cổng Thanh Vân.jpg
Cổng Thanh Vân ở khu du lịch Lạc cảnh Đại Nam
Địa lý
Tọa độ: 11°09′44″B 106°37′30″Đ / 11,162235°B 106,625061°Đ / 11.162235; 106.625061Tọa độ: 11°09′44″B 106°37′30″Đ / 11,162235°B 106,625061°Đ / 11.162235; 106.625061
Diện tích 2.694,7 km²
Dân số (2017)  
 Tổng cộng 2.071.000 người[1]
 Mật độ 768,5 người/km²
Dân tộc Việt, Hoa, Khmer, Tày
 Vị trí Bình Dương trên bản đồ Việt Nam
Binh Duong in Vietnam.svg
Tỉnh Bình Dương
Hành chính
Quốc gia Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam Việt Nam
Vùng

Đông Nam Bộ (địa lý)

Vùng đô thị Thành phố Hồ Chí Minh (đô thị)
Tỉnh lỵ Thành phố Thủ Dầu Một
Thành lập 1/1/1997 (Tái lập)
Chính quyền  
 Chủ tịch UBND Trần Thanh Liêm
 Chủ tịch HĐND Phạm Văn Cành
 Chánh án TAND Trần Thanh Hoàng
 Viện trưởng VKSND Mai Văn Dũng
 Bí thư Tỉnh ủy Trần Văn Nam
 Trụ sở UBND Tầng 16, (tháp A, B), Tòa nhà Trung tâm hành chính tỉnh Bình Dương, đường Lê Lợi, phường Hòa Phú, thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương
Đại biểu quốc hội 9
Phân chia hành chính 1 thành phố, 4 thị xã, 4 huyện
Mã hành chính VN-57
Mã bưu chính 82xxxx
Mã điện thoại 0274
Biển số xe 61
Website [1]

Bình Dương là tỉnh thuộc vùng Đông Nam Bộ, Việt Nam. Tỉnh lỵ của Bình Dương hiện nay là thành phố Thủ Dầu Một, cách trung tâm Thành phố Hồ Chí Minh 30 km theo đường Quốc lộ 13. Đây là tỉnh có dân số đông thứ 7 trong 63 tỉnh thành.

Bình Dương là vùng đất chiến trường năm xưa với những địa danh đã đi vào lịch sử như Phú Lợi, Bàu Bàng, Bến Súc, Lai Khê, Nhà Đỏ và đặc biệt là chiến khu Đ với trung tâm là huyện Tân Uyên (nay là huyện Bắc Tân Uyên và thị xã Tân Uyên), vùng Tam giác sắt trong đó có ba làng An. Ngoài ra còn có khu du lịch Đại Nam là khu du lịch lớn nhất Đông Nam Á.

Điều kiện kinh tế[sửa | sửa mã nguồn]

Bình Dương thuộc miền Đông Nam Bộ, nằm trong vùng kinh tế trọng điểm phía Nam[2], với diện tích 2694,4 km2, xếp thứ 4 trong vùng Đông Nam Bộ[3]. Có tọa độ địa lý là 10o51'46"B – 11o30'B, 106o20' Đ – 106o58'Đ.

Địa hình Bình Dương tương đối bằng phẳng, hệ thống sông ngòi và tài nguyên thiên nhiên phong phú. Khí hậu mang đặc điểm nhiệt đới gió mùa, nóng ẩm với 2 mùa rõ rệt, mùa mưa bắt đầu từ tháng 5 đến tháng 11, mùa khô từ khoảng tháng 12 năm trước đến tháng 4 năm sau, lượng mưa trung bình hàng năm 1.800 mm đến 2.000 mm. Nhiệt độ trung bình hằng năm là 26,5oC.

Bình Dương là cửa ngõ giao thương với Thành phố Hồ Chí Minh, trung tâm kinh tế – văn hóa của cả nước, có các trục lộ giao thông huyết mạch của quốc gia chạy qua như quốc lộ 13, quốc lộ 14, đường Hồ Chí Minh, đường Xuyên Á … cách sân bay quốc tế Tân Sơn Nhất và các cảng biển chỉ từ 10 km – 15 km… thuận lợi cho phát triển kinh tếxã hội toàn diện. Trong những năm gần đây, tốc độ tăng trưởng kinh tế luôn ở mức cao, GDP tăng bình quân khoảng 14,5%/năm. Cơ cấu kinh tế chuyển biến tích cực, công nghiệp, dịch vụ tăng trưởng nhanh và chiếm tỷ trọng cao, năm 2010, tỷ lệ công nghiệp – xây dựng 63%, dịch vụ 32,6% và nông lâm nghiệp 4,4%. Hiện nay, Bình Dương có 28 khu công nghiệp và cụm công nghiệp tập trung có tổng diện tích hơn 8.700 ha với hơn 1.200 doanh nghiệp trong và ngoài nước đang hoạt động có tổng vốn đăng ký hơn 13 tỷ đôla Mỹ[3].

Hành chính[sửa | sửa mã nguồn]

Tỉnh Bình Dương có 9 đơn vị hành chính cấp huyện bao gồm 1 thành phố, 4 thị xã và 4 huyện. Được phân chia thành 91 đơn vị hành chính cấp xã: gồm 41 phường, 4 thị trấn và 46 xã.

Danh sách các đơn vị hành chính trực thuộc tỉnh Bình Dương
Tên Diện tích (km²) Dân số (người)2018 Mật độ (người/km²) Hành chính
Thành phố (1)
Thủ Dầu Một 118,67 385.000 4.254 14 phường
Thị xã (4)
Bến Cát 234,422 224.346 868 5 phường, 3 xã
Dĩ An 60,1 415.350 6.911 7 phường
Tân Uyên 192,5 204.488 990 6 phường, 6 xã
Thuận An 83,69 520.140 6.214 9 phường, 1 xã
Tên Diện tích (km²) Dân số (người)2018 Mật độ (người/km²) Hành chính
Huyện (4)
Bắc Tân Uyên 400,08 62.481 146 1 thị trấn, 9 xã
Bàu Bàng 339,15 85.653 253 1 thị trấn, 6 xã
Dầu Tiếng 719.84 119.308 160 1 thị trấn, 11 xã
Phú Giáo 543 95.109 256 1 thị trấn, 10 xã

Điều kiện tự nhiên[sửa | sửa mã nguồn]

Bản đồ hành chính tỉnh Bình Dương
Quang cảnh Hồ Dầu Tiếng
Chợ Thủ Dầu Một
Nhà cổ Đốc phủ Đẩu

Bình Dương là một tỉnh nằm ở vị trí chuyển tiếp giữa sườn phía nam của dãy Trường Sơn, nối nam Trường Sơn với các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long, là tỉnh bình nguyên có địa hình lượn sóng từ cao xuống thấp dần từ 10m đến 15m so với mặt biển. Địa hình tương đối bằng phẳng, thấp dần từ bắc xuống nam. Nhìn tổng quát, Bình Dương có nhiều vùng địa hình khác nhau như vùng địa hình núi thấp có lượn sóng yếu, vùng có địa hình bằng phẳng, vùng thung lũng bãi bồi...

Đất đai Bình Dương rất đa dạng và phong phú về chủng loại. Các loại đất như đất xám trên phù sa cổ, có diện tích 200.000 ha phân bố trên các huyện Dầu Tiếng, thị xã Bến Cát, Thuận An, Thủ Dầu Một. Đất nâu vàng trên phù sa cổ, có khoảng 35.206 ha nằm trên các vùng đồi thấp thoải xuống, thuộc các thị xã Tân Uyên, huyện Phú Giáo, khu vực Thủ Dầu Một, Thuận An và một ít chạy dọc quốc lộ 13. Đất phù sa Glây (đất dốc tụ), chủ yếu là đất dốc tụ trên phù sa cổ, nằm ở phía bắc huyện Tân Uyên, Phú Giáo, Bến Cát, Dầu Tiếng, Thuận An, thị xã Dĩ An, đất thấp mùn Glây có khoảng 7.900 ha nằm rải rác tại những vùng trũng ven sông rạch, suối.

Khí hậu ở Bình Dương cũng như chế độ khí hậu của khu vực miền Đông Nam Bộ, nắng nóng và mưa nhiều, độ ẩm khá cao. Vào những tháng đầu mùa mưa, thường xuất hiện những cơn mưa rào lớn, rồi sau đó dứt hẳn. Những tháng 7,8,9, thường là những tháng mưa dầm. Có những trận mưa dầm kéo dài 1–2 ngày đêm liên tục. Đặc biệt ở Bình Dương hầu như không có bão, mà chỉ bị ảnh hương những cơn bão gần. Nhiệt độ trung bình hàng năm ở Bình Dương từ 26 °C–27 °C. Nhiệt độ cao nhất có lúc lên tới 39,3 °C và thấp nhất từ 16 °C–17 °C (ban đêm) và 18 °C vào sáng sớm. Vào mùa khô, độ ẩm trung bình hàng năm từ 76%–80%, cao nhất là 86% (vào tháng 9) và thấp nhất là 66% (vào tháng 2). Lượng mùa mưa trung bình hàng năm từ 1.800–2.000 mm.

Chế độ thủy văn của các con sông chảy qua tỉnh và trong tỉnh Bình Dương thay đổi theo mùa: mùa mưa nước lớn từ tháng 5 đến tháng 11 (dương lịch) và mùa khô (mùa kiệt) từ tháng 11 đến tháng 5 năm sau, tương ứng với 2 mùa mưa nắng. Bình Dương có ba con sông lớn, nhiều rạch ở các địa bàn ven sông và nhiều suối nhỏ khác. Về hệ thống giao thông đường thủy, Bình Dương nằm giữa ba con sông lớn, nhất là sông Sài Gòn. Bình Dương có thể nối với các cảng lớn ở phía nam và giao lưu hàng hóa với các tỉnh Đồng bằng sông Cửu Long.

Tài nguyên rừng[sửa | sửa mã nguồn]

Do đặc điểm khí hậu nhiệt đới ẩm và đất đai màu mỡ, nên rừng ở Bình Dương xưa rất đa dạng và phong phú về nhiều chủng loài. Có những khu rừng liền khoảnh, bạt ngàn. Rừng trong tỉnh có nhiều loại gỗ quý như căm xe, sao, trắc, gõ đỏ, cẩm lai, giáng hương... Rừng Bình Dương còn cung cấp nhiều loại dược liệu làm thuốc chữa bệnh, cây thực phẩm và nhiều loài động vật, trong đó có những loài động vật quý hiếm.

Khoáng sản[sửa | sửa mã nguồn]

Cùng với những giá trị quý giá về tài nguyên rừng, Bình Dương còn là một vùng đất được thiên nhiên ưu đãi chứa đựng nhiều loại khoáng sản phong phú tiềm ẩn dưới lòng đất. Đó chính là cái nôi để các ngành nghề truyền thống ở Bình Dương sớm hình thành như gốm sứ, điêu khắc, mộc, sơn mài... Bình Dương có nhiều đất cao lanh, đất sét trắng, đất sét màu, sạn trắng, đá xanh, đá ong nằm rải rác ở nhiều nơi, nhưng tập trung nhất là ở các huyện như Dĩ An, thị xã Tân Uyên, Thuận An, thành phố Thủ Dầu Một.

Dân cư[sửa | sửa mã nguồn]

Lịch sử phát triển
dân số
Năm Dân số
1995 639.000
1996 658.500
1997 679.000
1998 700.100
1999 720.800
2000 779.400
2001 845.500
2002 910.000
2003 973.100
2004 1.037.100
2005 1.109.300
2006 1.203.700
2007 1.307.000
2008 1.402.700
2009 1.512.500
2010 1.619.900
2011 1.691.400
2012 1.748.000
2013 1.802.500
Nguồn:[5]

Tính đến năm 2011, toàn tỉnh có 1.691.400 người, mật độ dân số 628 người/km²[6]. Trong đó dân số nam đạt 813.600[7] dân số nữ đạt 877.800 người[8]. Tỷ lệ tăng tự nhiên dân số phân theo địa phương tăng 14,2 ‰[9]. Trong đó dân số sống tại thành thị đạt gần 1.084.200 người, chiếm 80,5% dân số toàn tỉnh[10], dân số sống tại nông thôn đạt 607.200 người, chiếm 19,5% dân số[11]. Trên địa bàn Bình Dương có khoảng 15 dân tộc, nhưng đông nhất là người Kinh và sau đó là người Hoa, người Khmer...

Lịch sử hình thành[sửa | sửa mã nguồn]

Dân số tỉnh Bình Dương 1967[12]
Quận Dân số

(người)

Bến Cát 23.469
Châu Thành 95.705
Lái Thiêu 45.992
Phú Hòa 48.913
Phú Giáo 13.397
Trị Tâm (Dầu Tiếng) 22.946
Tổng số 250.422

Bình Dương là một phần của tỉnh Thủ Dầu Một xưa kia. Tỉnh Thủ Dầu Một được thành lập tháng 12 năm 1899 từ Sở Tham biện Thủ Dầu Một, tách từ tỉnh Biên Hòa. Tháng mười năm 1956 chính quyền Việt Nam Cộng hòa giải thể tỉnh Thủ Dầu Một để thành lập các tỉnh Bình Dương, Bình LongPhước Long. Như vậy Bình Dương là một trong 22 tỉnh của Nam Phần được chính quyền Việt Nam Cộng Hòa thiết lập theo Sắc lệnh 143-NV ngày 22 tháng 10 năm 1956. Tỉnh lị là thị xã Phú Cường. Tỉnh Bình Dương bao gồm 5 quận, 10 tổng, 60 xã:

  • Quận Châu Thành, có 3 tổng là Bình Điền, Bình Phú, Bình Thiện; quận lỵ: Phú Cường.
  • Quận Lái Thiêu, có 1 tổng là Bình Chánh; quận lị: Tân Thới.
  • Quận Bến Cát, có 2 tổng là Bình An, Bình Hưng; quận lỵ: Mỹ Phước.
  • Quận Trị Tâm (Dầu Tiếng), có 1 tổng là Bình Thạnh Thượng; quận lỵ: Định Thành.
  • Quận Củ Chi, có 3 tổng là Long Tuy Hạ, Long Tuy Trung, Long Tuy Thượng; quận lỵ: Tân An Hội. Quận Củ Chi là một phần quận Hóc Môn, tỉnh Gia Định, đến năm 1963 chuyển sang tỉnh Hậu Nghĩa mới thành lập.

Năm 1959, cắt một phần đất, cùng với phần đất của các tỉnh Biên Hòa, Long Khánh, Phước Long, để lập tỉnh Phước Thành. Tỉnh này tồn tại đến năm 1965 thì giải thể.

Ngày 18 tháng 12 năm 1963, tách một phần quận Củ Chi về tỉnh Hậu Nghĩa mới thành lập. Phần còn lại của quận Củ Chi lập thành quận Phú Hòa, quận lị đặt tại Bến Cỏ, xã Phú Hòa Đông, sau dời về xã Tân Hòa. Sau năm 1975, quận Phú Hòa lại nhập với quận Củ Chi, tỉnh Hậu Nghĩa thành huyện Củ Chi thuộc Thành phố Hồ Chí Minh.

Năm 1965, quận Phú Giáo của tỉnh Phước Thành vừa giải thể được nhập vào tỉnh Bình Dương.

Năm 1976, chính quyền mới hợp nhất tỉnh Bình Dương và tỉnh Bình Phước (gồm hai tỉnh Bình Longtỉnh Phước Long cũ) thành tỉnh Sông Bé, đến ngày 1 tháng 1 năm 1997 lại tách ra thành hai tỉnh như cũ.

Khi tách ra, tỉnh Bình Dương có diện tích 2.718,5 km², dân số 646.317 người, gồm thị xã Thủ Dầu Một và 3 huyện Bến Cát, Tân Uyên, Thuận An.

Ngày 28 tháng 5 năm 1997, Chính phủ ra Nghị định 54-CP thành lập một số phường, thị trấn thuộc thị xã Thủ Dầu Một và huyện Tân Uyên[13]

Đến ngày 23 tháng 7 năm 1999, huyện Thuận An được chia tách thành 2 huyện Thuận AnDĩ An, huyện Bến Cát được chia tách thành 2 huyện Bến CátDầu Tiếng, huyện Tân Uyên được chia tách thành 2 huyện Tân UyênPhú Giáo. Như vậy, từ tháng 8 năm 1999[14], Bình Dương có tất cả bảy đơn vị hành chính cấp huyện. Cùng năm này, thành lập xã An Bình thuộc huyện Dĩ An và xã Định An thuộc huyện Dầu Tiếng.

Ngày 10 tháng 12 năm 2003, Chính phủ ra Nghị định 156/2003/NĐ-CP về việc điều chỉnh địa giới hành chính, thành lập phường, xã thuộc thị xã Thủ Dầu Một và các huyện Dầu Tiếng, Phú Giáo, Dĩ An, tỉnh Bình Dương[15].

Ngày 17 tháng 11 năm 2004, Chính phủ ra Nghị định 190/2004/NĐ-CP về việc điều chỉnh địa giới hành chính, thành lập xã thuộc các huyện Tân Uyên, Dầu Tiếng, Phú Giáo, tỉnh Bình Dương[16].

Ngày 9 tháng 6 năm 2008, Chính phủ ra Nghị định 73/2008/NĐ-CP điều chỉnh địa giới hành chính xã, phường; thành lập phường thuộc thị xã Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương[17].

Ngày 11 tháng 8 năm 2009, Chính phủ ra Nghị quyết số 36/NQ-CP về việc điều chỉnh địa giới hành chính huyện Bến Cát, huyện Tân Uyên để mở rộng thị xã Thủ Dầu Một; thành lập phường thuộc thị xã Thủ Dầu Một; thành lập thị trấn Thái Hòa thuộc huyện Tân Uyên, tỉnh Bình Dương[18].

Ngày 13 tháng 1 năm 2011, Chính phủ ra Nghị quyết 04/NQ-CP thành lập 2 thị xã mới là Dĩ AnThuận An, trên cơ sở 2 huyện Dĩ AnThuận An[19].

Ngày 2 tháng 5 năm 2012, Chính phủ ra Nghị quyết thành lập thành phố Thủ Dầu Một trên cơ sở thị xã Thủ Dầu Một[20].

Ngày 29 tháng 12 năm 2013, Chính phủ ra Nghị quyết 136/NQ-CP chia huyện Bến Cát thành thị xã Bến Cát và huyện Bàu Bàng, chia huyện Tân Uyên thành thị xã Tân Uyên và huyện Bắc Tân Uyên; đồng thời thành lập phường thuộc các thị xã Bến Cát, Tân Uyên, Thuận An và thành phố Thủ Dầu Một[21]. Như vậy, từ tháng 1 năm 2014, Bình Dương có 9 đơn vị hành chính cấp huyện.

Ngày 8 tháng 7 năm 2014, Quyết định 1120/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ công nhận thành phố Thủ Dầu Một là đô thị loại II trực thuộc tỉnh Bình Dương[22].

Ngày 27 tháng 4 năm 2017, Bộ xây dựng công nhận thị xã Dĩ AnThuận Anđô thị loại III.

Ngày 6 tháng 12 năm 2017, Thủ tướng Chính phủ công nhận thành phố Thủ Dầu Một là đô thị loại I.

Ngày 11 tháng 7 năm 2018, Uỷ ban thường vụ Quốc hội thông qua nghị quyết thành lập 2 thị trấn thuộc huyện Bắc Tân Uyên và huyện Bàu Bàng.

Chính trị[sửa | sửa mã nguồn]

Cơ quan chính trị cao nhất của tỉnh Bình DươngBan chấp hành Đảng bộ tỉnh Bình Dương, hay Đảng ủy tỉnh Bình Dương, gọi tắt Tỉnh ủy Bình Dương, là cơ quan lãnh đạo cao nhất của Đảng bộ Tỉnh Bình Dương giữa hai kỳ đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh. Đứng đầu Tỉnh ủyBí thư Tỉnh ủy và thường là ủy viên Ban chấp hành Trung ương Đảng. Bí thư Tỉnh ủy Bình Dương hiện nay là Trần Văn Nam.

Lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

Tháng 2 năm 1936 thực hiện nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ nhất đồng thời để đáp ứng nhiệm vụ trong thời kỳ hiện tại Xứ ủy Nam Kỳ đã chỉ định Ban Chấp hành Tỉnh ủy lâm thời Thủ Dầu Một gồm 5 ủy viên. Đến tháng 1 năm 1937, Trung ương Đảng chính thức công nhận Tỉnh ủy lâm thời, với tên gọi chính thức là Ban chấp hành Đảng bộ tỉnh Thủ Dầu Một.

Khi Thế chiến II bùng nổ, chính quyền thực dân Pháp trấn áp các phòng trào đòi độc lập. Tháng 11 năm 1940, Khởi nghĩa Nam Kỳ nổ ra bất thành, chính quyền thực dân Pháp khủng bố ác liệt, nhiều đảng viên phải lẩn tránh nhiều nơi. Tỉnh ủy Thủ Dầu Một bị xóa sổ.

Giữa năm 1942, nhiều đảng viên tập hợp quay trở lại, tháng 3 năm 1943 Tỉnh ủy Thủ Dầu Một được tái lập. Tháng 5 năm 1943, Bí thư các Tỉnh ủy Thủ Dầu Một, Biên Hòa, Gia Định, Chợ Lớn, Tây Ninh họp lại thành lập Liên Tỉnh ủy miền Đông để chỉ đạo chung các phong trào tại địa phương.

Khi Cách mạng tháng 8 nổ ra, Tỉnh ủy chức tổng khởi nghĩa giành chính quyền tại tỉnh và thành lập Ủy ban nhân dân tỉnh. Giữa tháng 9, Ủy ban nhân dân tỉnh đổi tên thành Ủy ban Hành chánh kháng chiến tỉnh.

Cuối tháng 9 năm 1945, Liên quân Anh - Pháp nổ súng quân tái chiếm Nam Bộ. Chính quyền Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tại Nam BỘ quyết định Nam Bộ kháng chiến. Thực hiện chủ trương "giải tán" của Đảng ngày 11/11/1945, Tỉnh ủy cũng tiến hành tự "giải tán", thực chất phát triển phong trào cách mạng dưới tên Việt Minh.

Theo chủ trương tháng 3 năm 1951 của Trung ương Đảng, Tỉnh ủy Thủ Dầu Một và Tỉnh ủy Biên Hòa sát nhập thành Tỉnh ủy Thủ Biên, hoạt động đưới sự chỉ đạo của Phân liên khu ủy miền Đông gồm đặc khu Sài Gòn - Chợ Lớn, và 5 tỉnh Gia Định Ninh, Thủ Biên, Bà Rịa - Chợ Lớn, Mỹ Tho, Long Châu Sa. Đại diện cho Trung ương là cơ quan Xứ ủy Nam Bộ chỉ đạo hoạt động trên toàn miền Nam.

Sau khi Hiệp định Geneve được ký, Tỉnh ủy Thủ Biên chuẩn bị lực lượng thi hành Hiệp định. Theo các thảo thuận về tập kết 2 bên, Xứ ủy Nam Bộ quyết định phân chia lại địa bàn các tỉnh để phù hợp với tình hình mới. Cuối năm 1954 Tỉnh Thủ Biên tách lại 2 tỉnh Thủ Dầu Một và Biên Hòa. Tháng 1/1955 Hội nghị Ban Chấp hành tỉnh Thủ Dầu Một được tổ chức.

Sau khi Ngô Đình Diệm phế truất Bảo Đại làm Tổng thống, thực thực hiện chính sách "tố cộng, diệt cộng". Từ năm 1956, chính quyền Ngô Đình Diệm nhiều cuộc càn quét quy mô lớn khiến cho Tỉnh ủy Thủ Dầu Một tổn thất rất lớn. Đầu năm 1960, phong trào Đồng khởi tại Bến Tre nổ ra. Tỉnh ủy Thủ Dầu Một thành lập Ban chỉ đạo đồng khởi của tỉnh và tiến hành đồng khởi tại tỉnh tháng 2 năm 1960. Tuy nhiên, đồng khởi nhanh chóng bị trấn áp và thất bại.

Để phù hợp tình hình mới, Xứ ủy Nam Bộ sát nhập 2 tỉnh Thủ Dầu Một, Biên Hòa thành tỉnh Thủ Biên. Tháng 9/1960 Ban chấp hành Đảng bộ tỉnh Thủ Biên được chỉ định. Đầu năm 1961 Trung ương Cục miền Nam được thành lập thay thế cho Xứ ủy Nam Bộ. Trung ương Cục quyết định tách ra, tái lập lại 2 tỉnh Biên Hòa, Thủ Dầu Một và thành lập tỉnh Phước Thành để phù hợp với chiến lược "chiến tranh đặc biệt" của Mỹ. Tháng 6/1961 Tỉnh ủy Thủ Dầu Một và Tỉnh ủy Phước Thành được thành lập.

Tháng 10/1967 Bộ Chính trị phê chuẩn Nghị quyết của Trung ương Cục miền Nam và Quân ủy Miền về tiến hành tổng công kích-tổng khởi nghĩa, còn gọi "Nghị quyết Quang Trung". Trung ương Cục quyết định sắp xếp lại các lực lượng để tiến hành Tổng khởi nghĩa. Tổ chức thành 5 phân khu hướng tiến công Sài Gòn-Gia Định và khu vực xung quanh. Căn cứ vào tình hình chiến trường, Trung ương Cục quyết định thành lập Ban Chấp hành các phân khu thay cho các Tỉnh ủy. Tỉnh ủy Thủ Dầu Một được sát nhập vào Ban chấp hành Phân khu ủy Phân khu 5.

Tháng 6/1969 Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam được thành lập. Để đáp ứng nhiệm vụ mới, tháng 5/1971 Trung ương Cục quyết định sát nhập Phân khu 5 và tỉnh Biên Hòa thành Phân khu Thủ Biên, Trung ương Cục chỉ định Ban chấp hành Phân khu ủy Thủ Biên. Đến cuối năm 1972, Trung ương Cục quyết định tổ chức lại chiến trường miền Đông Nam Bộ, giải thể các Phân khu, thành lập lại các tỉnh. Tháng 9/1972 Phân khu Thủ Biên được giải thể, tỉnh Thủ Dầu Một được tái lập. Trung ương cục chỉ định Tỉnh ủy Thủ Dầu Một.

Tháng 12/1975 Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết số 19-NQ/TW về phát triển đất nước sau chiến tranh. Thực hiện Nghị quyết, Chính phủ Cách mạng lâm thời miền Nam Việt Nam đã ban hành các nghị quyết giải thể khu, hợp nhất một số tỉnh ở miền Nam. Tháng 2/1976 tỉnh Thủ Dầu Một và Bình Phước được sát nhập thành tỉnh Sông Bé, đồng thời Trung ương Cục cũng chỉ định Ban Chấp hành lâm thời Đảng bộ tỉnh Sông Bé. Tháng 11/1976, Đại hội Đại biểu Đảng bộ tỉnh Sông Bé lần thứ nhất (vòng 1) diễn ra từ ngày 10-20/11/1976, nhiệm vụ chính là tham gia thảo luận ý kiến chính trị, bầu đại biểu tham dự Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng. Ngày 19/4/1977, Đại hội Đại biểu Đảng bộ tỉnh Sông Bé lần thứ nhất (vòng 2) được khai mạc. Đại hội đã chính thức bầu Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh Sông Bé với nhiệm kỳ 1976-1979. Sau Đại hội, Tỉnh ủy tiến hành đại hội Đảng vòng 2 ở các Đảng bộ trực thuộc tỉnh ủy.

Tại kỳ họp thứ 10 (15/10-12/11/1996) Quốc hội khóa IX ra nghị quyết về việc chia tách tỉnh và điều chỉnh địa giới hành chính, trong đó có tỉnh Sông Bé. Ngày 1/1/1997 tỉnh Bình Dương được tái lập. Trước đó ngày 12/12/1996 Bộ Chính trị ra Nghị quyết 118-QĐNS/TW thành lập Đảng bộ Bình Dương và chỉ định Ban Chấp hành lâm thời Đảng bộ tỉnh Bình Dương.

Thực hiện Chỉ thị 51-CT/TW của Ban Bí thư và Hướng dẫn 06-HD/TC-TW ngày 23/7/1997 của Ban Tổ chức Trung ương về việc chuẩn bị và tiến hành Đại hội Đảng bộ các tỉnh, thành phố mới được chia tách. Tỉnh ủy lâm thời tổ chức Đại hội Đại biểu Đảng bộ tỉnh Bình Dương lần thứ VI từ 17-19/12/1997. Đại hội chính thức bầu Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh Bình Dương khóa VI gồm 47 ủy viên.

Các đời Bí thư Tỉnh ủy[sửa | sửa mã nguồn]

Giai đoạn 1936-1976

Stt Họ và tên Nhiệm kỳ Chức vụ Ghi chú
1
Trương Văn Nhâm
2/1936-12/1936
Xứ ủy viên Xứ ủy Nam Kỳ
Bí thư Tỉnh ủy lâm thời Thủ Dầu Một
Nhận nhiệm vụ khác
2
Hồ Văn Cống
1/1937-2/1943
Bí thư Tỉnh ủy Thủ Dầu Một Bị Pháp bắt
3
Văn Công Khai
3/1943-3/1946
Bí thư Tỉnh ủy Thủ Dầu Một
Trưởng ban Ủy ban khởi nghĩa tỉnh (1945)
4
Nguyễn Văn Tiết
3/1946-4/1948
Bí thư Tỉnh ủy Thủ Dầu Một
Chủ nhiệm Tỉnh bộ Việt Minh
5
Vũ Duy Hanh
4/1948-9/1949
Bí thư Tỉnh ủy Thủ Dầu Một
6
Nguyễn Quang Việt
10/1949-5/1951
5/1951-1/1955
Bí thư Tỉnh ủy Thủ Dầu Một
Bí thư Tỉnh ủy Thủ Biên
7
Lê Đình Nhơn
1/1955-9/1956
Bí thư Tỉnh ủy Thủ Dầu Một Bị chính quyền Ngô Đình Diệm bắt
8
Võ Văn Đợi
10/1956-9/1960
Bí thư Tỉnh ủy Thủ Dầu Một
9
Lê Quang Chữ
9/1960-6/1961
Bí thư Tỉnh ủy Thủ Biên
10
Nguyễn Văn Trung
6/1961-5/1965
Bí thư Tỉnh ủy Thủ Dầu Một
11
Trần Quốc Ân
5/1965-11/1965
Bí thư Tỉnh ủy Thủ Dầu Một
10
Nguyễn Văn Trung
11/1965-10/1967
Bí thư Tỉnh ủy Thủ Dầu Một
11
Hoàng Minh Đạo
10/1967-6/1969
Bí thư Phân khu ủy kiêm Chính ủy lực lượng vũ trang Phân khu 5
12
Nguyễn Văn Trung
6/1969-5/1971
5/1971-9/1972
9/1972-10/1974
Bí thư Phân khu ủy Phân khu 5[23]
Bí thư Phân khu ủy Phân khu Thủ Biên
Bí thư Tỉnh ủy Thủ Dầu Một
13
Nguyễn Văn Luông
10/1974-12/1975
Bí thư Tỉnh ủy Thủ Dầu Một

Kinh tế[sửa | sửa mã nguồn]

Chùa Bà, Bình Dương
Đại học Bình Dương
Sân vận động Gò Đậu
Đường phố ở Tx Dĩ An

Bình Dương là một trong những địa phương năng động trong kinh tế, thu hút đầu tư nước ngoài. Với chủ trương tạo ra một môi trường đầu tư tốt nhất hiện nay tại Việt Nam, tính đến tháng 10/2006, tỉnh đã có 1.285 dự án FDI với tổng số vốn 6 tỷ 507 triệu USD. Năm 2007, tỉnh Bình Dương đặt mục tiêu thu hút trên 900 triệu USD vốn đầu tư nước ngoài (FDI), tăng hơn 2,5 lần so với năm 2006. Theo bảng xếp hạng Chỉ số Năng lực cạnh tranh cấp tỉnh (PCI) năm 2006, tỉnh Bình Dương đứng đầu cả nước với 76,23 điểm, trong khi thủ đô Hà NộiThành phố Hồ Chí Minh, trung tâm kinh tế lớn nhất của cả nước, lần lượt xếp thứ thứ 40 với 50,34 điểm và xếp thứ 7 với 63,39 điểm.

Bình Dương có khoảng 28 khu công nghiệp (KCN) đang hoạt động, traong đó nhiều KCN đã cho thuê gần hết diện tích như KCN Sóng Thần I, KCN Sóng Thần II, KCN Đồng An, KCN Nam Tân Uyên, KCN Tân Đông Hiệp A, KCN Việt Hương, KCN VSIP - Việt Nam Singapore, các KCN Mỹ Phước 1, 2, 3, 4 và 5. Các khu công nghiệp trên địa bàn tỉnh đã thu hút 938 dự án đầu tư, trong đó có 613 dự án đầu tư nước ngoài với tổng vốn 3,483 triệu USD và 225 dự án đầu tư trong nước có số vốn 2.656 tỷ đồng. Nhằm tăng sự thu hút đầu tư, địa phương này đang tập trung hoàn thiện cơ sở hạ tầng kỹ thuật, đẩy nhanh tiến độ thi công các khu công nghiệp mới để phát triển công nghiệp ra các huyện phía bắc của tỉnh.

Tháng 10 năm 2012, Bình Dương tiếp tục thực hiện các giải pháp kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô, tháo gỡ khó khăn của doanh nghiệp đảm bảo an sinh xã hội. Các doanh nghiệp xuất khẩu đã ký đơn hàng và khai thác thị trường mới đối với các mặt hàng và nhóm ngành hàng xuất khẩu chủ lực như sản phẩm gỗ, hàng dệt may, hàng giày dép, mủ cao su,…). So với tháng trước, kim ngạch xuất khẩu ước đạt 1 tỷ 178 triệu đô la Mỹ, tăng 5% và tăng 11,9% so với cùng kỳ; kim ngạch nhập khẩu ước đạt 987 triệu đô la Mỹ, tăng 5,9% và tăng 7,2% so với cùng kỳ[24].

Lũy kế 10 tháng năm 2012, đầu tư trong nước có 1.375 doanh nghiệp đăng ký kinh doanh mới và 418 doanh nghiệp tăng vốn 11.010 tỷ đồng, đầu tư nước ngoài 2 tỷ 589 triệu đô la Mỹ, gồm 96 dự án mới với tổng vốn đầu tư 1 tỷ 568 triệu đô la Mỹ và 107 dự án tăng vốn với tổng số vốn tăng 1 tỷ 021 triệu đô la Mỹ[24]. Giá trị sản xuất công nghiệp đạt 108.941 tỷ đồng, tăng 12,9% so với cùng kỳ, so với tháng trước, tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ ước thực hiện đạt 5.702 tỷ đồng, tăng 1,2%, chỉ số giá tiêu dùng tăng 0,51%, thu ngân sách 19.500 tỷ đồng, đạt 72,2% dự toán hội đồng nhân dân tỉnh giao, trong đó thu nội địa đạt 13.500 tỷ đồng, thu từ lĩnh vực xuất nhập khẩu 6.000 tỷ đồng. Tổng vốn huy động tín dụng ước đạt 71,206 tỷ đồng, tăng 1,19% so với tháng trước, tăng 24,1% so với đầu năm, dư nợ cho vay đạt 52.390 tỷ đồng, tăng 2,6% so với đầu năm, tỷ lệ nợ xấu khoảng 1.368 tỷ đồng, chiếm 2,51%[24].

Văn hóa[sửa | sửa mã nguồn]

Bình Dương có các làng nghề truyền thống, như điêu khắc gỗ, làm đồ gốm và tranh sơn mài. Từ xa xưa các sản phẩm gốm mỹ nghệ, sơn mài và điêu khắc của Bình Dương đã tham gia hội chợ quốc tế, đồng thời cũng đã xuất khẩu sang Pháp và nhiều nước trong khu vực.

  • Làng nghề
-Nghề sơn mài truyền thống tại Bình Dương
-Nghề chạm khắc gỗ trên đất Thủ - Bình Dương
-Làng nghề gốm Bình Dương
  • Lễ hội truyền thống
-Miếu Bà Thiên Hậu
-Lễ hội Chùa Bà, Thủ Dầu Một
-Lễ hội Chùa Ông Bổn
  • Địa điểm tham quan, khu vui chơi
-Lạc Cảnh Đại Nam Văn Hiến
-Công viên nước Bình Dương
-Khu du lịch Phương Nam
-Khu du lịch Dìn Ký
-Sân golf Sông Bé
-Sân golf Phú Mỹ
-Thành phố mới Bình Dương
-Mekong golf Villas
-Công viên du lịch nghỉ dưỡng Mắt Xanh
  • Di tích - danh thắng
-Địa đạo Tam giác sắt Tây Nam Bến Cát
-Chợ Thủ Dầu Một
-Núi Cậu - Lòng Hồ Dầu Tiếng
-Sở chỉ huy tiền phương chiến dịch Hồ Chí Minh
-Chiến khu Đ
-Nhà ông Trần Văn Hổ (Tự Đẩu)
-Nhà cổ Trần Công Vàng
-Chùa Hội Khánh
-Núi Châu Thới
-Nhà tù Phú Lợi
-Di tích Cù Lao Rùa (Cù Lao Thạch Hội)
-Di tích Dốc Chùa
-Di tích Mỹ Lộc (gò Đá, gò Chùa)
-Di tích Phú Chánh
-Nhà máy xe lửa Dĩ An
-Chiến khu Thuận - An - Hòa
-Di tích lịch sử rừng Kiến An
-Di tích Bộ chỉ huy tiền phương chiến dịch Hồ Chí Minh

Giáo dục[sửa | sửa mã nguồn]

Danh sách các trường Cao đẳng, Đại học, Trung học chuyên nghiệp và dạy nghề[sửa | sửa mã nguồn]

  • Cao đẳng nghề Đồng An
  • Cao đẳng nghề kỹ thuật công nghệ
  • Trường Trung cấp nghề tỉnh Bình Dương
  • Trường Trung cấp nghề Thủ Dầu Một
  • Trường Trung cấp Nông Lâm nghiệp
  • Trường Trung cấp Kinh tế Tài chính
  • Trường Trung cấp Bách Khoa
  • Trường Trung cấp nghề Việt - Hàn Bình Dương
  • Trường trung cấp kinh tế và công nghệ Đông Nam
  • Trường Trung cấp Mỹ thuật Văn hóa Bình Dương

Giao thông[sửa | sửa mã nguồn]

Bình Dương là một tỉnh có hệ thống giao thông đường bộ và đường thủy rất quan trọng nối liền giữa các vùng trong và ngoài tỉnh. Trong hệ thống đường bộ, Quốc lộ 13 là con đường chiến lược cực kỳ quan trọng xuất phát từ Thành phố Hồ Chí Minh, chạy suốt chiều dài của tỉnh từ phía nam lên phía bắc, qua tỉnh Bình Phước và nối Vương quốc Campuchia xuyên đến biên giới Thái LanLào. Đây là con đường có ý nghĩa chiến lược cả về quân sự và kinh tế. Đường Quốc lộ 14, từ Tây Ninh qua Dầu Tiếng đi Chơn Thành, Đồng Xoài, Bù Đăng thuộc tỉnh Bình Phước xuyên suốt vùng Tây Nguyên, là con đường chiến lược quan trọng cả trong chiến tranh cũng như trong thời kỳ hòa bình xây dựng đất nước. Ngoài ra còn có Tỉnh lộ 741 từ Thủ Dầu Một đi Phước Long... và hệ thống đường nối thị xã với các thị trấn và điểm dân cư trong tỉnh[25].

Về hệ thống giao thông đường thủy, Bình Dương nằm giữa ba con sông lớn, nhất là sông Sài Gòn. Bình Dương có thể nối với các cảng lớn ở phía nam và giao lưu hàng hóa với các tỉnh Đồng bằng sông Cửu Long[25].

Phát triển đô thị[sửa | sửa mã nguồn]

Đại lộ Hùng Vương ở trung tâm thành phố mới Bình Dương
  1. Thành phố Thủ Dầu Một: Đô thị loại I
  2. Thị xã Thuận An: Đô thị loại III. Phấn đấu trở thành đô thị loại II vào năm 2019
  3. Thị xã Dĩ An: Đô thị loại III.Phấn đấu trở thành đô thị loại II vào năm 2019
  4. Thị xã Bến Cát: Đô thị loại III
  5. Thị xã Tân Uyên: Đô thị loại III
  6. Thị trấn Lai Uyên (Bàu Bàng): Đô thị loại V.
  7. Thị trấn Tân Thành (Bắc Tân Uyên): Đô thị loại V.
  8. Thị trấn Dầu Tiếng (Dầu Tiếng): Đô thị loại V
  9. Thị trấn Phước Vĩnh (Phú Giáo): Đô thị loại V

Những người Bình Dương nổi tiếng[sửa | sửa mã nguồn]

Hình ảnh[sửa | sửa mã nguồn]

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ “Diện tích, dân số và mật độ dân số năm 2013 phân theo địa phương”. Tổng cục Thống kê Việt Nam. Truy cập ngày 3 tháng 2 năm 2015. 
  2. ^ Vùng kinh tế gồm 8 tỉnh thành, Thành phố Hồ Chí Minh, Đồng Nai, Bình Dương, Bà Rịa - Vũng Tàu, Bình Phước, Tây Ninh, Long Antỉnh Tiền Giang
  3. ^ a ă “Diện tích, dân số và mật độ dân số năm 2011 phân theo địa phương”. Tổng cục thống kê Việt Nam. 
  4. ^ “Giới thiệu chung”. Trang thông tin Tỉnh Bình Dương. 
  5. ^ “Dân số trung bình phân theo địa phương qua các năm”. Theo Tổng cục thống kê Việt Nam. 
  6. ^ Diện tích, dân số và mật độ dân số năm 2011 phân theo địa phương, Theo tổng cục thống kê.
  7. ^ Dân số nam trung bình phân theo địa phương, Theo Tổng cục thống kê Việt Nam.
  8. ^ Dân số nữ trung bình phân theo địa phương, Theo Tổng cục thống kê Việt Nam.
  9. ^ Tỷ lệ tăng tự nhiên dân số phân theo địa phương, Theo Tổng cục thống kê Việt Nam.
  10. ^ Dân số thành thị trung bình phân theo địa phương, Theo Tổng cục thống kê Việt Nam.
  11. ^ Dân số nông thôn trung bình phân theo địa phương, Theo Tổng cục thống kê Việt Nam.
  12. ^ Việt Nam Cộng hòa bản đồ hành chánh. Đà Lạt: Phân cục Địa dư Quốc gia, 1967.
  13. ^ Nghị định 54-CP năm 1997 về việc thành lập các phường Phú Thọ, Phú Hòa thuộc thị xã Thủ Dầu Một và thị trấn Tân Phước Khánh thuộc huyện Tân Uyên, tỉnh Bình Dương
  14. ^ Nghị định 58/1999/NĐ-CP về việc điều chỉnh địa giới hành chính, tái lập các huyện Dầu Tiếng, Phú Giáo, Dĩ An và thành lập các xã thuộc các huyện Dầu Tiếng và Dĩ An tỉnh Bình Dương
  15. ^ Nghị định 156/2003/NĐ-CP về việc điều chỉnh địa giới hành chính, thành lập phường, xã thuộc thị xã Thủ Dầu Một và các huyện Dầu Tiếng, Phú Giáo, Dĩ An tỉnh Bình Dương
  16. ^ Nghị định 190/2004/NĐ-CP về việc điều chỉnh địa giới hành chính, thành lập xã thuộc các huyện Tân Uyên, Dầu Tiếng, Phú Giáo, tỉnh Bình Dương
  17. ^ Nghị định 73/2008/NĐ-CP điều chỉnh địa giới hành chính xã, phường; thành lập phường thuộc thị xã Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương
  18. ^ Nghị quyết số 36/NQ-CP về việc điều chỉnh địa giới hành chính huyện Bến Cát, huyện Tân Uyên để mở rộng thị xã Thủ Dầu Một; thành lập phường thuộc thị xã Thủ Dầu Một; thành lập thị trấn Thái Hòa thuộc huyện Tân Uyên, tỉnh Bình Dương
  19. ^ Nghị quyết 04/NQ-CP năm 2011 thành lập thị xã Dĩ An, thành lập phường thuộc thị xã Dĩ An và thành lập thị xã Thuận An, thành lập phường thuộc thị xã Thuận An, tỉnh Bình Dương do Chính phủ ban hành
  20. ^ Nghị quyết 11/NQ-CP năm 2012 thành lập thành phố Thủ Dầu Một thuộc tỉnh Bình Dương do Chính phủ ban hành
  21. ^ Nghị quyết 136/NQ-CP năm 2013 điều chỉnh địa giới hành chính huyện Bến Cát để thành lập thị xã Bến Cát; điều chỉnh địa giới hành chính huyện Tân Uyên để thành lập thị xã Tân Uyên và 16 phường thuộc thị xã Bến Cát, thị xã Tân Uyên, thị xã Thuận An và thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương
  22. ^ Quyết định 1120/QĐ-TTg 2014 công nhận thành phố Thủ Dầu Một đô thị loại II trực thuộc tỉnh Bình Dương
  23. ^ Kiêm Chủ tịch Ủy ban Nhân dân Cách mạng Thủ Dầu Một.
  24. ^ a ă â Tình hình kinh tế tỉnh Bình Dương tháng 10/2012, Cổng thông tin điện tử tỉnh Bình Dương.
  25. ^ a ă Giao thông tại tỉnh Bình Dương, Trang thông tin tỉnh Bình Dương.

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]