Lịch sử hành chính Thanh Hóa

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
(đổi hướng từ Lịch sử Thanh Hóa)
Jump to navigation Jump to search

Lịch sử hành chính Thanh Hóa phản ánh quá trình thay đổi địa danh và địa giới hành chính của tỉnh Thanh Hóa từ thời kỳ dựng nước cho tới hiện đại.

Thời kỳ dựng nước[sửa | sửa mã nguồn]

Địa phận Thanh Hóa vào thời Văn Lang gồm bộ Quân Ninh và phần lớn bộ Cửu Chân. Bộ Quân Ninh chính là khu vực các huyện Cẩm Thủy, Thạch Thành, Hà Trung, Bỉm Sơn của Thanh Hóa và gần toàn bộ tỉnh Ninh Bình ngày nay (trừ huyện Kim Sơn), còn bộ Cửu Chân gồm phía nam Thanh Hóa và bắc Nghệ An[1].

Thời Bắc thuộc[sửa | sửa mã nguồn]

Nhà Hán[sửa | sửa mã nguồn]

Thời kì thuộc nhà Hán, Thanh Hóa thuộc quận Cửu Chân. Quận Cửu Chân vào đầu thời kì thuộc Hán gồm có bảy huyện là Tư Phố, Cư Phong, Đô Lung, Dư Phát, Hàm Hoan, Vô Thiết, Vô Biên[2]. Thời Hậu Hán, quận Cửu Chân gồm năm huyện là Tư Phố, Cư Phong, Hàm Hoan, Vô Công (Vô Thiết), Vô Biên[3]. Trong đó, huyện Hàm Hoan tương ứng với Nghệ AnHà Tĩnh ngày nay[4] còn huyện Vô Công hay Vô Thiết tương ứng với các huyện Gia Viễn[5], Nho Quan[5][6], Yên Khánh[6], nói cách khác là gần như toàn bộ tỉnh Ninh Bình ngày nay (trừ huyện Kim Sơn).

Quận trị của quận Cửu Chân là thành Tư Phố, thuộc huyện Tư Phố ở hữu ngạn sông Mã, nay là khu vực làng Ràng[7], xã Thiệu Dương, thành phố Thanh Hóa.

Huyện Dư Phát nằm ở khu vực Lạch Trường[8], thời đó là cửa chính của sông Mã, ở về phía tả ngạn, nay là các huyện Hậu LộcNga Sơn[9].

Huyện Vô Biên nay là các huyện Vĩnh Lộc[9][10], Thạch Thành[9][10]Bỉm Sơn, Hà Trung[9], trị sở nằm ở khu vực thành nhà Hồ[11].

Huyện Đô Lung nằm ở thượng lưu sông Mã[4], nay là khu vực từ huyện Cẩm Thủy ngược lên phía tây bắc[9].

Huyện Tư Phố nằm ở tả ngạn sông Bồn Giang (sông Nhà Lê), nay thuộc các huyện Yên Định, Thiệu Hóa, Hoằng Hóa và phía bắc huyện Đông Sơn, phía bắc huyện Quảng Xương[9], phần lớn thành phố Thanh Hóathị xã Sầm Sơn.

Huyện Cư Phong nằm ở hữu ngạn sông nhà Lê, nay thuộc huyện Thọ Xuân, Triệu Sơn, Nông Cống, phần lớn các huyện Đông Sơn và Quảng Xương[9][ct 1]. Huyện trị Cư Phong có thể ở khu vực Bất Căng Trung Vực thuộc huyện Thọ Xuân ngày nay[7].

Thời Tam quốc và Lưỡng Tấn[sửa | sửa mã nguồn]

Thời Tam quốc, nhà Đông Ngô trực tiếp cai trị, tách quận Cửu Chân thành hai quận: Cửu ChânCửu Đức. Quận Cửu Chân lúc này gồm đất Thanh Hóa ngày nay và một phần phía nam Ninh Bình. Cửu Chân được chia làm 6 huyện: Tư Phố, Di Phong, Trạm Ngô, Kiến Sơ, Phù Lạc (hay Phú Lạc[12]), Thường Lạc. Sang thời nhà Tấn, lập thêm huyện Tùng Nguyên, nâng lên tổng số 7 huyện[13].

Huyện Tư Phố vẫn giữ như thời Hán[12].

Huyện Di Phong là huyện Cư Phong đời Hán[12].

Huyện Kiến Sơ và huyện Phú Lạc ngày nay có thể là khu vực Thạch Thành, Vĩnh Lộc, Hà Trung[12], Bỉm Sơn, tức là tương ứng với huyện Vô Biên thời Hán.

Huyện Thường Lạc ngày nay là khu vực huyện Tĩnh Gia[12], có thể bao gồm cả khu vực phía nam huyện Nông Cống ngày nay, vốn được chuyển về từ huyện Tĩnh Gia vào năm 1964.

Huyện Tùng Nguyên được tách ra từ huyện Kiến Sơ vào thời nhà Tấn, ngày nay có thể là khu vực Nông Cống, Như Xuân, Như Thanh.[12][ct 2]

Huyện Trạm Ngô chưa rõ vị trí.[ct 3]

Thời Nam Bắc triều[sửa | sửa mã nguồn]

Thời nhà Tống, đất Thanh Hóa cùng với phía nam Ninh Bình vẫn là quận Cửu Chân, gồm các huyện cũ thời Tấn (Tư Phố, Di Phong, Trạm Ngô, Kiến Sơ, Phù Lạc, Thường Lạc, Tùng Nguyên) và thêm các huyện: Cao An, Quân An, Vũ Ninh, Ninh Di, trong đó huyện Cao An được tách ra từ huyện Thường Lạc[14]

Thời nhà Tề, huyện Ninh Di bị giải thể, huyện Đô Lung (có từ thời Hán) đổi làm huyện Cát Lung[15].

Thời nhà Lương, các quận được đổi hoặc chia thành các châu, quận Cửu Chân được Lương Võ đế đổi thành Ái Châu[15].

Thời kì Lý BônTriệu Quang Phục[sửa | sửa mã nguồn]

Nhà Tùy[sửa | sửa mã nguồn]

Thời nhà Tùy, Ái Châu được đổi lại là quận Cửu Chân, gồm các huyện: Tư Phố, Long An, Quân An, An Thuận và Nhật Nam.

Huyện Tư Phố vẫn là huyện cũ từ thời nhà Hán, Tam quốc, Lưỡng Tấn và Nam Bắc triều[16].

Huyện Nhật Nam ở phía đông bắc quận Cửu Chân, như vậy không chỉ bao gồm khu vực Vĩnh Lộc, Thạch Thành, Hà Trung như Đào Duy Anh nhận định[17], mà còn gồm cả các huyện Hậu Lộc, Nga Sơn và thị xã Bỉm Sơn (Thanh Hóa) và phía nam Ninh Bình.

Huyện Quân An: ngày nay là khu vực Yên Định, Thiệu Hóa[17].

Huyện Long An: có thể ở khu vực Hoằng Hóa, Quảng Xương[17] (và cả thị xã Sầm Sơn, một phần thành phố Thanh Hóa) ngày nay.[ct 4]

Huyện An Thuận: vốn là huyện Thường Lạc thời Tấn, nay là khu vực huyện Tĩnh Gia[17] và có thể cả phía nam Nông Cống.

Nhà Đường[sửa | sửa mã nguồn]

Năm Vũ Đức thứ 5 (622), nhà Đường đổi quận Cửu Chân thành Ái Châu Cửu Chân quận[18], thường gọi là Ái Châu, thuộc Giao Châu đại tổng quản phủ[19].

Nhà Đường tách phần đất của Cửu Chân thuộc Ninh Bình ngày nay để lập Trường Châu Văn Dương quận, năm 758 đổi thành Trường Châu[18]

Ái Châu gồm bốn huyện là Cửu Chân, Tùng Nguyên, Dương Sơn, An Thuận, tại biên giới của Ái Châu lại đặt 7 châu: Tích, Thuận, Vĩnh, Tư, Tiền, Chân và Sơn[18]. Sau đó đổi Vĩnh Châu làm Đô Châu, Tích Châu thành châu Nam Lăng, rồi lại gộp Đô Châu vào Tiền Châu, gộp Chân Châu và Tư Châu vào châu Nam Lăng, tiếp đó đổi An Châu thành huyện Long An, đổi Sơn Châu thành huyện Kiến Sơ[18].

Năm Thiên Bảo thứ 1 (742), đổi Ái Châu Thành quận Cửu Chân như cũ, năm Càn Nguyên thứ 1 (758) lại đổi về Ái Châu[18].

Huyện Cửu Chân có thể tương ứng với huyện Tư Phố của các đời trước.

Huyện An Thuận vốn có từ đời Tùy, năm 622 đặt là Thuận Chân, gồm cả các huyện Đông Hà, Kiến Xương, Biên Hà, năm 627 gộp lại thành An Thuận, ngày nay là khu vực huyện Tĩnh Gia[20].

Huyện Sùng Bình vốn là huyện Long An đời Tùy, năm 622 chia thành An Châu và Sơn Châu, năm 627 đổi tương ứng thành Long An và Kiến Sơ. Năm 712, đổi Long An thành Sùng An và năm 757 lại đổi thành Sùng Bình, ngày nay là khu vực huyện Quảng Xương (và thị xã Sầm Sơn)[20].

Huyện Quân Ninh vốn là huyện Quân An đời Tùy, năm 622 đặt thêm huyện Vĩnh Châu, năm 624 đổi Vĩnh Châu thành Đô Châu, năm 627 nhập vào châu Nam Lăng. Phần còn lại của huyện Quân An được đổi thành Quân Ninh vào năm 757, nay là khu vực huyện Yên Định[20].

Huyện Nhật Nam giữ như thời Tùy[20].

Huyện Trường Lâm vốn là khu vực huyện Vô Biên đời Hán[20].

Thời Đinh, Tiền Lê, Lý[sửa | sửa mã nguồn]

  • Nhà ĐinhTiền Lê gọi là đạo Ái Châu.
  • Nhà Lý thời kỳ đầu gọi là trại Ái Châu[21]. Lý Công Uẩn chia cả nước thành 24 lộ, trong đó có Thanh Hóa lộ[22], (Thanh: trong sạch; Hoá: biến hoá). Tên gọi Thanh Hoá bắt đầu có từ đây. Năm 1029, nhà Lý đổi làm phủ Thanh Hoá[21], dời lỵ sở từ Ðông Phố đến Duy Tinh (vùng đất các xã Văn Lộc, Mỹ Lộc, Thuần Lộc huyện Hậu Lộc ngày nay)[cần dẫn nguồn]. Ruộng đất Thanh Hoá bắt đầu bị nhà vua lấy ban cho các đại thần dưới dạng phong ấp. Ðó chính là chế độ phong kiến hình thành ở nước ta.

Thời Trần, Hồ[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 1242, vua Trần Thái Tông đổi 24 lộ đời Lý thành 12 lộ, trong đó có Thanh Hóa phủ lộ[23].

Năm 1397 (năm Quang Thái thứ 10, đời vua Trần Thuận Tông), Lê Quý Ly làm phụ chính thái sư, cho đổi Thanh Hóa phủ lộ làm trấn Thanh Ðô[23]. Trấn Thanh Ðô lúc này gồm 7 huyện và 3 châu (mỗi châu có 4 huyện)[24]:

Trong đó, 7 huyện là:

  1. Huyện Cổ Ðằng: ngày nay là một phần đất huyện Hoằng Hóa[25].
  2. Huyện Cổ Hoằng: ngày nay là một phần đất huyện Hoằng Hóa[26].
  3. Huyện Ðông Sơn: ngày nay là huyện Ðông Sơn[26], phần lớn thành phố Thanh Hóa (trừ các xã có tiền tố "Quảng" và các xã, phường bờ bắc sông Mã) và phía nam, đông nam của huyện Thiệu Hóa (8 xã thuộc hữu ngạn sông Chu, từ xã Thiệu Viên đến xã Thiệu Giao). Tên huyện Đông Sơn bắt đầu có từ đây[26].
  4. Huyện Cổ Lôi: ngày nay là huyện Thọ Xuân, một phần đất huyện Thường Xuân, phía bắc cùng với phía tây của huyện Triệu Sơn (trước năm 1964 thuộc về huyện Thọ Xuân)[26] và 5 xã phía tây nam huyện Thiệu Hóa (từ xã Thiệu Tâm đến Thiệu Toán).
  5. Huyện Vĩnh Ninh: ngày nay là huyện Vĩnh Lộc[26].
  6. Huyện Yên Ðịnh: ngày nay vẫn là huyện Yên Ðịnh[26].
  7. Huyện Lương Giang: ngày nay là phía bắc huyện Thiệu Hóa (tả ngạn sông Chu)[26] cùng một phần đất của huyện Thọ Xuân thuộc tả ngạn sông Chu.[ct 5]

Ba châu bao gồm:

  1. Châu Thanh Hóa gồm: huyện Nga Lạc (là huyện Ngọc Lặc và một phần đất huyện Thọ Xuân ngày nay)[26]; huyện Tế Giang (là vùng đất phía Tây huyện Thạch Thành ngày nay)[27]; huyện Yên Lạc (là phía Ðông huyện Thạch Thành ngày nay)[27]; huyện Lỗi Giang (là huyện Cẩm Thủy[27] và Bá Thước ngày nay).
  2. Châu Ái gồm[27]: huyện Hà Trung (phần lớn huyện Hà Trung và phía Tây thị xã Bỉm Sơn ngày nay); huyện Thống Bình (tương đương với huyện Hậu Lộc ngày nay); huyện Tống Giang (tương đương phía Bắc huyện Nga Sơn, Ðông Bắc huyện Hà Trung và phía Ðông thị xã Bỉm Sơn ngày nay); huyện Chi Nga (tương đương phía Nam huyện Nga Sơn ngày nay).
  3. Châu Cửu Chân gồm[28]: huyện Cổ Chiến (tương đương huyện Tĩnh Gia ngày nay, ngoại trừ phía bắc huyện, và một số xã phía nam huyện Nông Cống được sáp nhập từ huyện Tĩnh Gia năm 1964); huyện Kết Thuế (tương đương phía Bắc huyện Tĩnh Gia và phía Nam huyện Quảng Xương ngày nay); huyện Duyên Giác (tương đương phía Bắc huyện Quảng Xương ngày nay và các xã, phường có tiền tố "Quảng" của thành phố Thanh Hóa); huyện Nông Cống (bao gồm các huyện Nông Cống, Như Thanh, Như Xuân và một phần huyện Triệu Sơn ngày nay).

Năm 1430, Hồ Hán Thương đổi phủ Thanh Hóa thành phủ Thiên Xương. Sách Đại Nam nhất thống chí chép: "Phủ này (tức phủ Thiên Xương) cùng Cửu Chân và Ái Châu làm "tam phủ" gọi là "Tây Ðô"[29].

Thuộc Minh[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 1407, nhà Minh đổi phủ Thiên Xương trở lại làm phủ Thanh Hóa[30] như cũ, đặt thêm hai huyện: Lôi Dương, Thụy Nguyên. Về địa giới vẫn không đổi. Sách "Ðại Nam nhất thống chí" cũng ghi: "Thời thuộc Minh lại làm phủ Thanh Hóa, lãnh 4 châu là Cửu Chân, ái Châu, Thanh Hóa, Quỳ Châu và 11 huyện". Trong đó, 11 huyện là Yên Ðịnh, Nông Cống, Vĩnh Ninh, Tống Giang, Cổ Ðằng, Nga Lạc, Lương Giang, Lỗi Giang, Ðông Sơn, Yên Lạc, Cổ Lôi[29].

Cùng với việc đổi tên phủ vào năm 1407, một số huyện cũng được đổi tên: huyện Cổ Chiến đổi làm huyện Cổ Bình, huyện Thống Bình đổi làm huyện Thống Ninh[30].

Năm 1415, nhà Minh sáp nhập huyện Cổ Hoằng vào huyện Cổ Đằng, sáp nhập huyện Hà Trung với huyện Thống Ninh của châu Ái, huyện Duyên Giác với huyện Kết Duyệt (sửa lại là Kết Thuế) của châu Cửu Chân[31].

Năm 1417, sáp nhập châu Quy của phủ Diễn Châu (mới giải thể năm 1415) vào phủ Thanh Hóa[31].

Năm 1419, sáp nhập huyện Yên Định vào huyện Vĩnh Ninh, huyện Lương Giang vào huyện Cổ Lôi, huyện Đông Sơn vào huyện Cổ Đằng, sáp nhập huyện Yên Lạc của châu Thanh Hóa vào bản châu (trực thuộc châu này), sáp nhập huyện Lỗi Giang của châu Thanh Hóa vào huyện Nga Lạc cùng thuộc châu này, sáp nhập huyện Tống Giang của châu Ái vào bản châu, sáp nhập huyện Nông Cống của châu Cửu Chân vào bản châu[32].

Thời Hậu Lê[sửa | sửa mã nguồn]

Năm Thuận Thiên thứ nhất (năm 1428), Lê Thái Tổ chia cả nước làm 5 đạo, Thanh Hóa thuộc Hải Tây đạo[21][33].

Trong niên hiệu Thuận Thiên, Thanh Hóa gồm các huyện: Ứng Thụy[21], Bình Giang[34]...

Năm Thiệu Bình thứ 2 (năm 1435), đất Thanh Hóa gồm 6 phủ là Thiệu Thiên, Hà Trung, Tĩnh Gia, Thanh Đô, Trường Yên, Thiên Quan[21].

Trong đó phủ Hà Trung kiêm lý huyện Thuần Hựu và thống hạt 3 huyện là Tống Giang, Nga Sơn và Hoằng Hóa[35].

Năm Quang Thuận thứ 7 (năm 1466), Lê Thánh Tông chia cả nước làm 12 đạo Thừa tuyên, trong đó có Thừa tuyên Thanh Hóa, đổi lộ làm phủ, đổi trấn làm châu[33]. Cùng năm, trích 2 phủ Trường Yên và Thiên Quan sáp nhập vào Sơn Nam[21]. Thừa tuyên Thanh Hóa lúc này gồm 4 phủ, 16 huyện và 4 châu[36], trong đó có phủ Tĩnh Ninh[35].

Năm Quang Thuận thứ 10 (năm 1469) đổi làm Thừa Tuyên Thanh Hoa[21] (Hoa: tinh hoa), tên gọi Thanh Hoa có từ đây. Thanh Hoa Thừa Tuyên theo "Thiên Nam dư hạ tập" lãnh 4 phủ, 16 huyện và 4 châu. Cùng năm, lập châu Lang Chánh thuộc phủ Thanh Đô[37].

Trong niên hiệu Quang Thuận, thừa tuyên Thanh Hoa có huyện Lương Giang (đổi tên từ huyện Ứng Thụy)[34], châu Quan Gia hay Gia Châu[35]...

Năm Hồng Đức thứ 21 (năm 1490), đổi làm xứ Thanh Hoa[21].

Trong niên hiệu Đoan Khánh (1505-1509) thời Lê Uy Mục, xứ Thanh Hoa gồm các huyện: Thụy Nguyên (đổi tên từ huyện Lương Giang)[34]...

Trong niên hiệu Hồng Thuận (1509-1516), Lê Tương Dực đổi làm trấn Thanh Hoa[21].

Thời Lê trung hưng, đổi làm nội trấn Thanh Hoa, lại lấy 2 phủ Trường Yên và Thiên Quan của trấn Sơn Nam, gọi là ngoại trấn Thanh Hoa[21]. Trong thời gian này, nội trấn Thanh Hoa gồm: phủ Tĩnh Giang (đổi từ phủ Tĩnh Ninh do kị húy Lê Duy Ninh, sau lại đổi làm Tĩnh Gia), huyện Quảng Bình (đời Lê Quang Thuận là huyện Bình Giang)[34], Vĩnh Lộc (đổi từ Vĩnh Ninh do kị húy Lê Duy Ninh)[34], huyện Thuần Lộc (đổi từ huyện Thuần Hựu do kị húy Lê Duy Hựu)[35], huyện Tống Sơn (đổi từ huyện Tống Giang)[35]...

Thời Tây Sơn[sửa | sửa mã nguồn]

Huyện Quảng Bình đổi làm huyện Quảng Bằng, nhà Nguyễn đổi lại là Quảng Bình rồi lại đổi làm Quảng Địa[34].

Châu Lang Chánh đổi thành Lương Chính[37]

Thời Nguyễn[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 1802 (năm Gia Long 1), gọi là trấn Thanh Hoa.

Năm Minh Mệnh thứ 2 (năm 1821), đổi đạo Thanh Bình (đã được đổi từ ngoại trấn Thanh Hoa) làm đạo Ninh Bình, năm Minh Mệnh thứ 10 đổi riêng làm trấn Ninh Bình[21].

Năm Minh Mệnh thứ 12 (năm 1831), đổi trấn Thanh Hoa thành tỉnh Thanh Hoa, trấn Ninh Bình (lúc này không còn lệ thuộc vào Thanh Hoa) cũng đổi thành tỉnh Ninh Bình[21].

Năm Thiệu Trị thứ 1 (năm 1841), đổi tỉnh Thanh Hoa thành tỉnh Thanh Hóa[38] do kị húy hoàng thái hậu Hồ Thị Hoa[ct 6]. Tên Thanh Hóa không đổi từ đó cho tới ngày nay.

Tỉnh Thanh Hóa vào đầu thời Nguyễn gồm các phủ: Thiệu Thiên, Hà Trung, Tĩnh Gia và Thanh Đô (sau đổi là phủ Thọ Xuân). Sau đó lập thêm phủ Quảng Hóa.

  • Phủ Thiệu Thiên, năm Gia Long thứ 14 (năm 1815) được đổi làm phủ Thiệu Hóa, kiêm lý 4 huyện Thụy Nguyên, Cẩm Thủy, Thạch Thành, Quảng Tế và quản hạt 4 huyện Đông Sơn, Yên Định, Lôi Dương, Vĩnh Lộc[21]. Năm Minh Mệnh thứ 16 (1835), tách các huyện Vĩnh Lộc, Thạch Thành, Cẩm Thủy, Quảng Tế để lập phủ Quảng Hóa[38].
  1. Huyện Thụy Nguyên[34]: vào đầu thời Nguyễn là vùng đất tả ngạn sông Chu mà ngày nay là phía Bắc huyện Thiệu Hóa, phía Bắc huyện Thọ Xuân và gần toàn bộ huyện Ngọc Lặc[ct 7]. Năm Thành Thái thứ 12 (1900), thành lập châu Ngọc Lặc trên cơ sở tổng Ngọc Lặc và các xã Mường của các tổng Yên Trường, Quảng Thi, đồng thời sáp nhập các tổng Vận Quy và Đại Bối của huyện Đông Sơn vào huyện Thụy Nguyên[34]. Như vậy đến năm 1900, huyện Thụy Nguyên gần như tương ứng với huyện Thiệu Hóa ngày nay và có thể gồm cả một phần phía đông huyện Thọ Xuân ở tả ngạn sông Chu.
  2. Huyện Cẩm Thủy: Đầu thời Nguyễn tương ứng với các huyện Cẩm Thủy và Bá Thước. Năm Thành Thái thứ 14 (1902), cắt tổng Cổ Lũng để sáp nhập vào châu Quan Hóa, cắt tổng Thiết Ống sáp nhập vào châu Lang Chánh. Năm Thành Thái thứ 16 (1904), cắt 2 tổng Sa Lung và Điền Lư sáp nhập vào châu Quan Hóa[34]. Như vậy từ năm 1904, địa giới huyện Cẩm Thủy gần như ổn định đến ngày nay. Các phần đất đã cắt đi vào năm 1902 và 1904 nay là huyện Bá Thước.
  3. Huyện Thạch Thành: Đầu thời Nguyễn tương ứng với phần đông nam của huyện Thạch Thành ngày nay. Năm Thành Thái thứ nhất (1889), huyện Thạch Thành kiêm nhiếp huyện Quảng Tế[34], địa giới Thạch Thành gần như ổn định đến ngày nay.
  4. Huyện Quảng Địa: Tương ứng với phần tây bắc của huyện Thạch Thành ngày nay. Đầu thời Nguyễn gọi là Quảng Bình, năm Minh Mệnh thứ 2 (1821) đổi làm Quảng Địa, sau đổi làm Quảng Tế. Năm Minh Mệnh thứ 16 chuyển vào phủ Quảng Hóa[34].
  5. Huyện Đông Sơn: Đầu thời Nguyễn địa giới cơ bản như thời Trần. Năm Thành Thái thứ 11 (1889), tách một phần các tổng Bố Đức và Thọ Hạc để thành lập thị xã Thanh Hóa[cần dẫn nguồn]. Năm 1900, tách các tổng Vận Quy và Đại Bối sáp nhập vào huyện Thụy Nguyên[34]. Vào cuối thời Nguyễn, địa giới huyện Đông Sơn tương ứng với huyện Đông Sơn ngày nay cùng với các xã, phường: Đông Cương, Hàm Rồng, Đông Thọ, Nam Ngạn, Trường Thi, Đông Hương, Đông Hải và Đông Vệ của thành phố Thanh Hóa ngày nay.
  6. Huyện Yên Định: gần như tương ứng với huyện Yên Định ngày nay[34].
  7. Huyện Lôi Dương: Đầu thời Nguyễn tương ứng với phần lớn huyện Thọ Xuân, một phần huyện Triệu Sơn và một phần huyện Thường Xuân ngày nay. Năm Minh Mệnh thứ 7 (1826) chuyển sang phủ Thọ Xuân kiêm lý. Năm Minh Mệnh thứ 18 (1837), cắt tổng Luận Đạm của huyện Lôi Dương cùng với đất Lang Chánh và đất Nông Cống để lập châu Thường Xuân[34].
  8. Huyện Vĩnh Lộc: tương ứng với huyện Vĩnh Lộc ngày nay[34].
  • Phủ Hà Trung: kiêm lý hai huyện Tống Sơn và Nga Sơn, thống hạt các huyện Phong Lộc và Hoằng Hóa[35].
  1. Huyện Phong Lộc: đổi tên từ huyện Thuần Lộc vào đầu thời Nguyễn. Năm Minh Mệnh thứ 2 (1821) đổi làm huyện Hậu Lộc, địa giới cơ bản giữ đến nay[35]. Đến trước tháng 8 năm 1945, huyện Hậu Lộc gồm 5 tổng: Đại Lý, Du Trường, Đăng Trường (sau đổi là Xuân Trường), Chi Nê, Liên Cừ[39].
  2. Huyện Tống Sơn: còn được gọi là Quý huyện, phủ Hà Trung kiêm lý từ năm Minh Mệnh thứ 19 (1838), nay là huyện Hà Trung[35]. Từ năm Minh Mệnh thứ 12 (1831), huyện Tống Sơn gồm 4 tổng: Thượng Bạn, Trung Bạn, Đông Bạn, Nam Bạn, huyện lị đóng ở Bình Lâm (Đò Lèn). Đến trước tháng 8 năm 1945, huyện Tống Sơn có 7 tổng, gồm 4 tổng cũ và tổng Phi Lai chuyển từ huyện Nga Sơn, tổng Thanh Xá, Ngọ Xá chuyển từ huyện Vĩnh Lộc[40].
  3. Huyện Hoằng Hóa: tương ứng với huyện Hoằng Hóa ngày nay[35]. Đến trước tháng 8 năm 1945, huyện Hoằng Hóa gồm các tổng: Ngọc Chuế (nay gồm các xã: Hoằng Trường, Hoằng Hải, Hoằng Yến, Hoằng Tiến, Hoằng Thanh, Hoằng Phụ, Hoằng Ngọc, Hoằng Đông)[41], Bút Sơn (nay gồm các xã: Hoằng Đạt, Hoằng Hà, Hoằng Phúc, Hoằng Đức, Hoằng Đạo và thị trấn Bút Sơn)[42], Bái Trạch (nay gồm các xã: Hoằng Lưu, Hoằng Phong, Hoằng Tân, Hoằng Châu, Hoằng Trạch, Hoằng Thành, Hoằng Đại)[43], Hành Vĩ (nay gồm các xã: Hoằng Lộc, Hoằng Đồng, Hoằng Vinh, Hoằng Thái, Hoằng Thịnh, Hoằng Thắng)[44], Từ Minh (nay gồm các xã: Hoằng Anh, Hoằng Minh, Hoằng Quang, Hoằng Long và một phần thị trấn Tào Xuyên)[45], Dương Thủy (nay gồm các xã: Hoằng Xuyên, Hoằng Khê, Hoằng Cát, Hoằng Lý, Hoằng Quỳ, Hoằng Phú, Hoằng Quý và một phần thị trấn Tào Xuyên)[46], Lỗ Hương (nay gồm các xã: Hoằng Hợp, Hoằng Khánh, Hoằng Xuân, Hoằng Phượng, Hoằng Giang)[47], Dương Sơn (nay gồm các xã: Hoằng Lương, Hoằng Sơn, Hoằng Trinh, Hoằng Trung, Hoằng Kim)[48].
  4. Huyện Nga Sơn: tương ứng với huyện Nga Sơn ngày nay.
  5. Huyện Mỹ Hóa: thành lập năm Minh Mệnh thứ 19 (1838) từ một phần các huyện Hậu Lộc và Hoằng Hóa[38]. Năm Thiệu Trị thứ 3 (1843), huyện Hoằng Hóa kiêm nhiếp huyện Mỹ Hóa[38].
  • Phủ Tĩnh Gia: gồm các huyện Ngọc Sơn, Nông Cống, Quảng Xương.
  1. Huyện Ngọc Sơn: do phủ Tĩnh Gia kiêm lý, nay là huyện Tĩnh Gia[35].
  2. Huyện Nông Cống: tương ứng với các huyện Nông Cống, Như Xuân, Như Thanh và một phần huyện Triệu Sơn (phía đông và phía nam). Năm Thành Thái thứ 5 (1893), tách hai tổng Xuân Du và Lãng Lăng để lập châu Như Xuân[35][49]. Đầu thế kỉ 20, huyện Nông Cống gồm 9 tổng: Đô Xá, Cổ Định, Cao Xá, Vạn Đồn, La Miệt, Đồng Xá, Lai Triều, Như Lăng, Lãng Lăng và 2 phường thủy cơ: phường Ngã Ba Mộc và phường Ngã Ba Xuyết[50]. Đến đời vua Duy Tân, huyện Nông Cống gồm 10 tổng: Văn Xá, Cao Xá, La Miệt, Vạn Đồn, Lạc Thiện (ở phía bắc) và Đô Xá, Cao Xá, Hữu Định, Lai Triều, Vạn Thiện (ở phía nam)[51].
  3. Huyện Quảng Xương: tương ứng với huyện Quảng Xương[35] và các xã, phường có tiền tố "Quảng" của thành phố Thanh Hóa ngày nay.
  • Phủ Thanh Đô: năm Minh Mệnh thứ 2 (1821) đổi làm phủ Thọ Xuân[35].
  1. Huyện Thọ Xuân: tương ứng với phần lớn huyện Thường Xuân ngày nay[35]. Cần phân biệt với huyện Thọ Xuân ngày nay, là một phần huyện Lôi Dương thời Nguyễn.
  2. Châu Lang Chánh: hiện nay là huyện Lang Chánh[35]. Năm Thiệu Trị thứ 3 (1843), phủ Thọ Xuân kiêm nhiếp châu Lang Chánh[38]
  3. Châu Thường Xuân: thành lập năm Minh Mệnh thứ 18 (1837), từ một phần châu Lang Chánh (thuộc phủ Thanh Đô), huyện Lôi Dương (thuộc phủ Thiệu Hóa) và huyện Nông Cống (thuộc phủ Tĩnh Gia)[38]. Năm Thiệu Trị thứ 3 (1843), phủ Thọ Xuân kiêm nhiếp châu Thường Xuân[38].
  4. Châu Quan Gia: Năm Minh Mệnh thứ 16 (1835) gồm châu Quan Gia với Tầm Châu làm châu Quan Hóa[35]. Năm Thiệu Trị thứ 3 (1843), châu Quan Hóa do phủ Quảng Hóa kiêm nhiếp[38]. Năm Thành Thái thứ 14 (1902), sáp nhập tổng Cổ Lũng của huyện Cẩm Thủy vào châu Quan Hóa. Năm Thành Thái thứ 16 (1904), sáp nhập tiếp 2 tổng Sa Lung và Điền Lư của huyện Cẩm Thủy vào châu Quan Hóa[34]. Châu Quan Hóa lúc này tương ứng với các huyện Quan Hóa, Quan Sơn, Mường Lát và phần lớn huyện Bá Thước ngày nay.
  5. Châu Tân Hóa: Năm Khải Định thứ 10 (1925), thành lập châu Tân Hóa từ các tổng Cổ Lũng, Sa Lung, Điền Lư của châu Quan Hóa và tổng Thiết Ống của châu Lang Chánh[52]. Năm 1943, lại tách Điền Lư và Sa Lung nhập vào Cẩm Thủy, còn Cổ Lũng và Thiết Ống nhập thành một bang thuộc châu Quan Hóa[52]. Châu Tân Hóa tương ứng với huyện Bá Thước ngày nay.
  6. Tầm Châu: Có thể là huyện Mường Lát và một phần các huyện Quan Hóa, Quan Sơn ngày nay. Năm Minh Mệnh thứ 16 (1835), sáp nhập Tầm Châu với châu Quan Gia để thành lập châu Quan Hóa[35].
  7. Sầm Châu: Năm Minh Mệnh thứ 8 (1827), tù trưởng đất này xin nội phụ Việt Nam[53]. Sau đó đổi Sầm Châu làm huyện Sầm Nưa và cho thuộc phủ Trấn Biên, tỉnh Nghệ An[54]. Nay là tỉnh Huaphanh của Lào.

Thời kì hiện đại (sau Cách mạng tháng Tám 1945)[sửa | sửa mã nguồn]

Sau Cách mạng tháng Tám, tỉnh Thanh Hóa gồm:

  1. Huyện Tống Sơn: gồm các xã: Phạm Hồng Thái[55], Nguyễn Thái Học[56], Chi Lăng[57], Lê Lai[58], Thái Lý[59], Lam Sơn[60]...

Châu Tân Hóa được tái lập và đến tháng 11 năm 1945 thì đổi làm châu Bá Thước[52].

Từ tháng 3 năm 1948, các cấp hành chính là phủ, châu, quận được bãi bỏ[61]. Tỉnh Thanh Hóa lúc này gồm thị xã Thanh Hóa và 20 huyện: Nga Sơn, Hà Trung, Hậu Lộc, Hoằng Hóa, Quảng Xương, Tĩnh Gia, Nông Cống, Thọ Xuân, Đông Sơn, Thiệu Hóa, Yên Định, Vĩnh Lộc, Thạch Thành, Cẩm Thủy, Ngọc Lặc, Lang Chánh, Như Xuân, Thường Xuân, Bá Thước và Quan Hóa.

  1. Huyện Hà Trung: đổi tên từ Tống Sơn theo tên phủ Hà Trung, gồm 10 xã: Tân Tiến, Lĩnh Tráng, Ngọc Âu, Lĩnh Toại, Hoạt Giang, Long Khê, Hòa Bình, Yên Sơn, Thái Lai và Tống Giang[40].
  2. Huyện Hậu Lộc: gồm 10 xã: Trường Xuân, Vạn Lộc, Liên Cừ, Long Thịnh, Thuần Lộc, Liên Thịnh, Phú Điền, Đại Lý, Uy Thống và Đông Thành[39].
  3. Huyện Nông Cống: gồm 15 xã: Hợp Tiến, Tứ Dân, Minh Nông, An Nông, Khuyến Nông, Đồng Tiến, Tân Phúc, Tân Minh, Trung Chính, Tế Lợi, Hoàng Sơn, Minh Khôi, Vạn Thiện, Công Chính và Thăng Bình[51].

Trong năm 1948, châu Bá Thước đổi thành huyện Bá Thước, gồm có 7 xã[52].

Năm 1950, sáp nhập xã Thanh Quân thuộc huyện Thường Xuân vào huyện Như Xuân[62].

Năm 1954, chia tách các xã lớn thành các xã nhỏ:

  1. Huyện Hà Trung: chia 10 xã thành 25 xã đều có tên với tiền tố [40].
  2. Huyện Hậu Lộc: chia 10 xã thành 26 xã với hậu tố (hoặc tiền tố) Lộc[39].
  3. Huyện Nông Cống: chia 15 thành 44 xã[51]: Hợp Thành, Hợp Thắng, Hợp Tiến, Hợp Lý (chia từ xã Hợp Tiến), Dân Quyền, Dân Lực, Dân Lý (chia từ xã Tứ Dân), Minh Sơn, Minh Nông, Minh Châu (chia từ xã Minh Nông), An Nông, Vân Sơn, Nông Trường (chia từ xã An Nông), Tiến Nông, Khuyến Nông (chia từ xã Khuyến Nông), Đồng Thắng, Đồng Lợi, Đồng Tiến (chia từ xã Đồng Tiến), Tân Phúc, Tân Thọ, Tân Khang (chia từ xã Tân Phúc), Tân Ninh, Thái Hòa (chia từ xã Tân Ninh), Trung Chính, Trung Thành, Trung Ý (chia từ xã Trung Chính), Tế Nông, Tế Lợi, Tế Thắng, Tế Tân (chia từ xã Tế Lợi), Hoàng Sơn, Hoàng Giang (chia từ xã Hoàng Sơn), Minh Khôi, Minh Thọ, Minh Nghĩa (chia từ xã Minh Khôi), Vạn Hòa, Vạn Thiện, Vạn Thắng (chia từ xã Vạn Thiện), Công Liêm, Công Chính, Công Bình (chia từ xã Công Chính), Thăng Bình, Thăng Thọ và Thăng Long (chia từ xã Thăng Bình).

Năm 1956, xã Lũng Vân thuộc huyện Bá Thước được chuyển về huyện Tân Lạc, tỉnh Hòa Bình[52].

Năm 1963, sáp nhập xóm Núi của xã Hoằng Long, huyện Hoằng Hóa và xã Đông Giang, huyện Đông Sơn vào thị xã Thanh Hóa, đồng thời chia 3 xã Tam Chung, Sơn Thủy và Trung Thành thuộc huyện Quan Hoá thành bảy xã mới[63]. Cùng năm, thành lập thị trấn Sầm Sơn trực thuộc Ủy ban hành chính tỉnh Thanh Hóa[64] và một số xã thuộc các huyện Thường Xuân, Lang Chánh và Ngọc Lặc cũng được chia tách[65].

Năm 1964, chia lại địa giới một số xã thuộc huyện Bá Thước[66], huyện Như Xuân và Ngọc Lặc[67] và huyện Cẩm Thủy[68]. Cùng năm, thành lập huyện Triệu Sơn trên cơ sở 13 xã của huyện Thọ Xuân và 20 xã của huyện Nông Cống, đồng thời sáp nhập 7 xã của huyện Tĩnh Gia vào huyện Nông Cống[69].

Năm 1965, thành lập xã Tân Trường thuộc huyện Tĩnh Gia[70], xã Tân Lập thuộc huyện Bá Thước và thị trấn Thọ Xuân thuộc huyện Thọ Xuân[71].

Năm 1966, thành lập 2 xã thuộc vùng kinh tế mới ven biển của huyện Nga Sơn[72]. Cùng năm, chia tách một số xã thuộc các huyện Lang Chánh, Quan Hóa[73].

Năm 1967, thành lập các thị trấn nông trường thuộc các huyện Hà Trung, Thọ Xuân, Cẩm Thủy, Nông Cống[74], Thạch Thành[75], Ngọc Lặc[76]. Cùng năm, chia tách một số xã thuộc huyện Thạch Thành[77].

Năm 1968, thành lập thị trấn nông trường Sông Âm thuộc huyện Ngọc Lặc[78].

Năm 1969, thành lập thị trấn nông trường Bãi Trành thuộc huyện Như Xuân[79].

Năm 1971, các xã Đông Vệ, Đông Hương, Đông Hải thuộc huyện Đông Sơn và xã Quảng Thắng thuộc huyện Quảng Xương được sáp nhập vào thị xã Thanh Hóa[80].

Năm 1973, điều chỉnh địa giới một số xã thuộc các huyện Đông Sơn, Hà Trung[81] và Nga Sơn[82].

Năm 1977, thành lập thị trấn Bỉm Sơn[83], sáp nhập huyện Hà Trung và huyện Nga Sơn thành huyện Trung Sơn, huyện Vĩnh Lộc và huyện Thạch Thành thành huyện Vĩnh Thạch, huyện Lang Chánh và huyện Ngọc Lặc thành huyện Lương Ngọc, huyện Yên Định với phần tả ngạn sông Chu của huyện Thiệu Hóa thành huyện Thiệu Yên, huyện Đông Sơn với phần hữu ngạn sông Chu của huyện Thiệu Hóa thành huyện Đông Thiệu[84].

Năm 1978, sáp nhập một số xã thuộc các huyện Thiệu Yên và Thọ Xuân, đồng thời chuyển thị trấn nông trường Thống Nhất từ huyện Lương Ngọc về huyện Thiệu Yên[85]

Năm 1979, sáp nhập một số xã thuộc huyện Thiệu Yên[86]

Năm 1980, chia tách một số xã thuộc huyện Như Xuân, Hoằng Hóa, Trung Sơn và Tĩnh Gia[87].

Năm 1981, chia tách một số xã thuộc các huyện Thọ Xuân, Thiệu Yên, Lương Ngọc, Như Xuân[88]. Cùng năm, thành lập 2 thị xã Sầm Sơn và Bỉm Sơn[89].

Năm 1982, tái lập các huyện Hà Trung, Nga Sơn, Vĩnh Lộc, Thạch Thành, Lang Chánh, Ngọc Lặc và đổi tên huyện Đông Thiệu thành huyện Đông Sơn[90].

Năm 1983, thành lập một số phường thuộc thị xã Bỉm Sơn, thị xã Sầm Sơn và một số xã thuộc huyện Thường Xuân[91].

Năm 1984, chia tách một số xã thuộc các huyện Quan Hóa, Như Xuân, Bá Thước, Tĩnh Gia, đồng thời thành lập thị trấn huyện lị Tĩnh Gia[92].

Năm 1987, thành lập thị trấn Quan Hóa thuộc huyện Quan Hóa, thị trấn Nông Cống thuộc huyện Nông Cống, xã Thọ Thắng thuộc huyện Thọ Xuân, xã Triệu Thành thuộc huyện Triệu Sơn và sáp nhập xã Hoằng Ngư thuộc huyện Hoằng Hóa vào xã Hoằng Yến cùng huyện[93]

Năm 1988, chia tách một số xã thuộc các huyện Như Xuân và Quan Hóa[94]. Cùng năm, thành lập các thị trấn huyện lị thuộc các huyện Thường Xuân, Ngọc Lặc, Triệu Sơn, Hà Trung[95] và Nga Sơn[96].

Năm 1989, thành lập thị trấn huyện lị thuộc các huyện Cẩm Thủy, Hoằng Hóa, Thiệu Yên, Như Xuân[97].

Năm 1990, thành lập thị trấn Kim Tân thuộc huyện Thạch Thành[98].

Năm 1991, thành lập phường Bắc Sơn thuộc thị xã Bỉm Sơn[99], thị trấn Lam Sơn thuộc huyện Thọ Xuân[100], thị trấn Quảng Xương thuộc huyện Quảng Xương và thị trấn Lang Chánh thuộc huyện Lang Chánh[101].

Năm 1992, thành lập thị trấn Rừng Thông thuộc huyện Đông Sơn và thị trấn Vĩnh Lộc thuộc huyện Vĩnh Lộc[102].

Năm 1994, thành lập thành phố Thanh Hóa[103]. Cùng năm, thành lập một số phường thuộc thành phố Thanh Hóa[104], thành lập thị trấn Cành Nàng thuộc huyện Bá Thước[105] và xã Bình Sơn thuộc huyện Triệu Sơn[106].

Năm 1995, thành lập phường Trung Sơn thuộc thị xã Sầm Sơn trên cơ sở xã Quảng Tường, sáp nhập xã Đông Cương từ huyện Đông Sơn và các xã Quảng Hưng, Quảng Thành, huyện Quảng Xương về thành phố Thanh Hóa, chuyển một phần diện tích và dân số xã Quảng Thịnh, huyện Quảng Xương về phường Đông Vệ, thành phố Thanh Hóa.[107]

Năm 1996, tái lập các huyện Thiệu Hóa, Yên Định, tách 16 xã thuộc huyện Đông Sơn về huyện Thiệu Hóa mới tái lập, đồng thời thành lập các huyện Mường Lát, Quan Sơn, Như Thanh[108].

Năm 1999, thành lập một số xã, thị trấn thuộc các huyện Quan Sơn, Mường Lát, Như Xuân và Thọ Xuân[109].

Năm 2000, thành lập thị trấn Vạn Hà thuộc huyện Thiệu Hóa[110].

Năm 2002, thành lập phường Tân Sơn thuộc thành phố Thanh Hoá, phường Đông Sơn thuộc thị xã Bỉm Sơn và thị trấn Bến Sung thuộc huyện Như Thanh[111].

Năm 2003, thành lập các thị trấn huyện lị Mường Lát, Quan Sơn và thị trấn Tào Xuyên, huyện Hoằng Hoá[112].

Năm 2004, giải thể các thị trấn nông trường để thành lập xã, thị trấn thuộc các huyện Ngọc Lặc, Thạch Thành, Cẩm Thủy, Như Xuân, Nông Cống[113].

Năm 2006, thành lập thị trấn Nhồi thuộc huyện Đông Sơn[114].

Năm 2008, giải thể các xã Xuân Mỹ, Xuân Liên và Xuân Khao (vùng lòng hồ chứa nước Cửa Đặt) thuộc huyện Thường Xuân[115]. Cùng năm, thành lập xã Nhi Sơn thuộc huyện Mường Lát và xã Trung Tiến thuộc huyện Quan Sơn[116].

Năm 2009, thành lập thị trấn Thống Nhất thuộc huyện Yên Định và mở rộng địa giới hành chính thị trấn Bút Sơn thuộc huyện Hoằng Hoá[117]. Cùng năm, thành lập phường Phú Sơn thuộc thị xã Bỉm Sơn và phường Quảng Tiến thuộc thị xã Sầm Sơn[118].

Năm 2012, thành phố Thanh Hoá được mở rộng thêm 19 xã, thị trấn thuộc huyện Hoằng Hoá (gồm các xã Hoằng Lý, Hoằng Long, Hoằng Anh, Hoằng Quang, Hoằng Đại và thị trấn Tào Xuyên); huyện Đông Sơn (gồm các xã Đông Lĩnh, Đông Tân, Đông Hưng, Đông Vinh và thị trấn Nhồi); huyện Thiệu Hoá (gồm các xã Thiệu Dương, Thiệu Khánh, Thiệu Vân) và huyện Quảng Xương (gồm các xã Quảng Thịnh, Quảng Đông, Quảng Phú, Quảng Tâm, Quảng Cát). Trong đó thị trấn Tào Xuyên đổi thành phường Tào Xuyên, thị trấn Nhồi đổi thành phường An Hoạch[119].

Năm 2013, thành lập các phường: Đông Cương, Đông Hương, Đông Hải, Quảng Hưng, Quảng Thành, Quảng Thắng thuộc thành phố Thanh Hóa trên cơ sở các xã tương ứng.[120]

Năm 2015, sáp nhập 6 xã: Quảng Châu, Quảng Thọ, Quảng Vinh, Quảng Minh, Quảng Hùng, Quảng Đại của huyện Quảng Xương về thị xã Sầm Sơn, sáp nhập toàn bộ diện tích tự nhiên và dân số của xã Minh Thọ của huyện Nông Cống vào thị trấn Nông Cống, sáp nhập xã Đông Xuân của huyện Đông Sơn vào thị trấn Rừng Thông.

Năm 2017, thành lập 4 phường: Quảng Cư, Quảng Châu, Quảng Thọ, Quảng Vinh thuộc thị xã Sầm Sơn trên cơ sở các xã tương ứng và thành lập thành phố Sầm Sơn trên cơ sở thị xã Sầm Sơn.

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  • Đào Duy Anh (2005). Đất nước Việt Nam qua các đời. Hà Nội: Nhà xuất bản Văn hóa Thông tin. 
  • Ban nghiên cứu và biên soạn lịch sử Thanh Hoá (2000). Tên làng xã Thanh Hoá, tập I. Thanh Hoá: Nhà xuất bản Thanh Hoá. 
  • Ban nghiên cứu và biên soạn lịch sử Thanh Hoá (2001). Tên làng xã Thanh Hoá, tập II. Thanh Hoá: Nhà xuất bản Thanh Hoá. 

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Đào Duy Anh, sách đã dẫn, tr 19, dẫn lại theo Việt sử lược, quyển 1.
  2. ^ Đào Duy Anh, sách đã dẫn, tr 48, dẫn lại theo Tiền Hán thư.
  3. ^ Đào Duy Anh, sách đã dẫn, tr 48, dẫn lại theo Hậu Hán thư.
  4. ^ a ă Đào Duy Anh, sách đã dẫn, tr 54.
  5. ^ a ă Đào Duy Anh, sách đã dẫn, tr 51.
  6. ^ a ă Đào Duy Anh, sách đã dẫn, tr 49-50.
  7. ^ a ă Đào Duy Anh, sách đã dẫn, tr 65.
  8. ^ Đào Duy Anh, sách đã dẫn, tr 52.
  9. ^ a ă â b c d đ Đào Duy Anh, sách đã dẫn, tr 56.
  10. ^ a ă Đào Duy Anh, sách đã dẫn, tr 53.
  11. ^ Đào Duy Anh, sách đã dẫn, tr 67.
  12. ^ a ă â b c d Đào Duy Anh, sách đã dẫn, tr 77.
  13. ^ Đào Duy Anh, sách đã dẫn, tr 74.
  14. ^ Đào Duy Anh, sách đã dẫn, tr 80.
  15. ^ a ă Đào Duy Anh, sách đã dẫn, tr 83.
  16. ^ Đào Duy Anh, sách đã dẫn, tr 88.
  17. ^ a ă â b Đào Duy Anh, sách đã dẫn, tr 89.
  18. ^ a ă â b c Đào Duy Anh, sách đã dẫn, tr 99.
  19. ^ Đào Duy Anh, sách đã dẫn, tr 92.
  20. ^ a ă â b c Đào Duy Anh, sách đã dẫn, tr 100.
  21. ^ a ă â b c d đ e ê g h i k Đào Duy Anh, sách đã dẫn, tr 193.
  22. ^ Đào Duy Anh, sách đã dẫn, tr 119.
  23. ^ a ă Đào Duy Anh, sách đã dẫn, tr 126.
  24. ^ Đào Duy Anh, sách đã dẫn, tr 130.
  25. ^ Đào Duy Anh, sách đã dẫn, tr 155.
  26. ^ a ă â b c d đ e Đào Duy Anh, sách đã dẫn, tr 156.
  27. ^ a ă â b Đào Duy Anh, sách đã dẫn, tr 157.
  28. ^ Đào Duy Anh, sách đã dẫn, tr 158.
  29. ^ a ă Lịch sử Thanh Hóa thời Trần - Hồ. Website thanhhoa.gov.vn.
  30. ^ a ă Đào Duy Anh, sách đã dẫn, tr 167.
  31. ^ a ă Đào Duy Anh, sách đã dẫn, tr 169.
  32. ^ Đào Duy Anh, sách đã dẫn, tr 170.
  33. ^ a ă Đào Duy Anh, sách đã dẫn, tr 172.
  34. ^ a ă â b c d đ e ê g h i k l m n Đào Duy Anh, sách đã dẫn, tr 194.
  35. ^ a ă â b c d đ e ê g h i k l m n o Đào Duy Anh, sách đã dẫn, tr 195.
  36. ^ Đào Duy Anh, sách đã dẫn, tr 173.
  37. ^ a ă Ban nghiên cứu và biên soạn lịch sử Thanh Hoá, sách đã dẫn, tập II, tr 57.
  38. ^ a ă â b c d đ e Đào Duy Anh, sách đã dẫn, tr 212.
  39. ^ a ă â Ban nghiên cứu và biên soạn lịch sử Thanh Hoá, sách đã dẫn, tập I, tr 43.
  40. ^ a ă â Ban nghiên cứu và biên soạn lịch sử Thanh Hoá, sách đã dẫn, tập I, tr 18.
  41. ^ Ban nghiên cứu và biên soạn lịch sử Thanh Hoá, sách đã dẫn, tập I, tr 59-64.
  42. ^ Ban nghiên cứu và biên soạn lịch sử Thanh Hoá, sách đã dẫn, tập I, tr 64-67.
  43. ^ Ban nghiên cứu và biên soạn lịch sử Thanh Hoá, sách đã dẫn, tập I, tr 68-72.
  44. ^ Ban nghiên cứu và biên soạn lịch sử Thanh Hoá, sách đã dẫn, tập I, tr 73-76.
  45. ^ Ban nghiên cứu và biên soạn lịch sử Thanh Hoá, sách đã dẫn, tập I, tr 77-79.
  46. ^ Ban nghiên cứu và biên soạn lịch sử Thanh Hoá, sách đã dẫn, tập I, tr 79-84.
  47. ^ Ban nghiên cứu và biên soạn lịch sử Thanh Hoá, sách đã dẫn, tập I, tr 84-87.
  48. ^ Ban nghiên cứu và biên soạn lịch sử Thanh Hoá, sách đã dẫn, tập I, tr 88-91.
  49. ^ Đào Duy Anh, sách đã dẫn, tr 212 ghi là năm Thành Thái thứ 6.
  50. ^ Ban nghiên cứu và biên soạn lịch sử Thanh Hoá, sách đã dẫn, tập I, tr 94.
  51. ^ a ă â Ban nghiên cứu và biên soạn lịch sử Thanh Hoá, sách đã dẫn, tập I, tr 95.
  52. ^ a ă â b c Ban nghiên cứu và biên soạn lịch sử Thanh Hoá, sách đã dẫn, tập II, tr 10.
  53. ^ Đào Duy Anh, sách đã dẫn, tr 196.
  54. ^ Đào Duy Anh, sách đã dẫn, tr 199.
  55. ^ Ban nghiên cứu và biên soạn lịch sử Thanh Hoá, sách đã dẫn, tập I, tr 11.
  56. ^ Ban nghiên cứu và biên soạn lịch sử Thanh Hoá, sách đã dẫn, tập I, tr 22.
  57. ^ Ban nghiên cứu và biên soạn lịch sử Thanh Hoá, sách đã dẫn, tập I, tr 26.
  58. ^ Ban nghiên cứu và biên soạn lịch sử Thanh Hoá, sách đã dẫn, tập I, tr 27.
  59. ^ Ban nghiên cứu và biên soạn lịch sử Thanh Hoá, sách đã dẫn, tập I, tr 28.
  60. ^ Ban nghiên cứu và biên soạn lịch sử Thanh Hoá, sách đã dẫn, tập I, tr 29.
  61. ^ Sắc lệnh số 148/SL ngày 25/03/1948 về việc bãi bỏ danh từ phủ, châu, quận do Chủ tịch Chính phủ Việt nam dân chủ cộng hoà ban hành.
  62. ^ Nghị định số 55-TTg ngày 10/10/1950 của Thủ tướng Chính phủ.
  63. ^ Quyết định 30-CP ngày 06/03/1963 về sát nhập xã Đông Giang và xóm Núi vào thị xã Thanh Hóa và chia ba xã Tam Chung, Sơn Thủy và Trung Thành thuộc huyện Quan Hoá thành bảy xã mới do Hội đồng Chính phủ ban hành.
  64. ^ Quyết định số 50-CP ngày 19/4/1963 của Hội đồng Chính phủ.
  65. ^ Quyết định số 121-NV ngày 25/6/1963 của Bộ trưởng Bộ Nội vụ.
  66. ^ Quyết định số 107-NV ngày 02/4/1964 của Bộ trưởng Bộ Nội vụ.
  67. ^ Quyết định số 232-NV ngày 04/9/1964 của Bộ trưởng Bộ Nội vụ.
  68. ^ Quyết định 237-NV ngày 11/09/1964 về việc điều chỉnh địa giới và chia lại một số xã thuộc huyện Cẩm thủy tỉnh Thanh hóa do Bộ trưởng Bộ Nội vụ ban hành.
  69. ^ Quyết định 177-CP ngày 16/12/1964 về việc điều chỉnh địa giới của một số huyện thuộc các tỉnh Lạng-sơn, Yên-bái và Thanh-hoá do Hội đồng Chính phủ ban hành.
  70. ^ Quyết định số 99-NV ngày 15/3/1965 của Bộ trưởng Bộ Nội vụ.
  71. ^ Quyết định số 34-NV ngày 09/02/1965 của Bộ trưởng Bộ Nội vụ.
  72. ^ Quyết định 73-NV ngày 17/03/1966 phê chuẩn việc thành lập hai xã mới thuộc huyện Nga Sơn, tỉnh Thanh Hóa do Bộ trưởng Bộ Nội vụ ban hành.
  73. ^ Quyết định số 98-NV ngày 13/4/1966 của Bộ trưởng Bộ Nội vụ.
  74. ^ Quyết định 89-NV ngày 08/03/1967 phê chuẩn việc thành lập 4 thị trấn nông trường thuộc tỉnh Thanh Hóa do Bộ trưởng Bộ Nội vụ ban hành.
  75. ^ Quyết định 162-NV ngày 25/04/1967 phê chuẩn việc thành lập thị trấn nông trường Thạch Thành, thuộc huyện Thạch Thành, tỉnh Thanh Hóa do Bộ trưởng Bộ Nội vụ ban hành.
  76. ^ Quyết định 310-NV năm 08/08/1967 về thành lập một thị trấn nông trường thuộc tỉnh Thanh Hóa do Bộ trưởng Bộ Nội vụ ban hành.
  77. ^ Quyết định số 164-NV ngày 24/5/1967.
  78. ^ Quyết định số 96-NV ngày 19 tháng 3 năm 1968 của Bộ Nội vụ.
  79. ^ Quyết định số 128-NV ngày 15 tháng 3 năm 1969 của Bộ Nội vụ về việc thành lập Thị trấn nông trường Bãi Trành trực thuộc huyện Như Xuân tỉnh Thanh Hoá.
  80. ^ Quyết định số 226-TTg ngày 21/8/1971 của Bộ trưởng Phủ Thủ tướng.
  81. ^ Quyết định số 20-HĐBT ngày 15/3/1973.
  82. ^ Quyết định số 72-HĐBT ngày 14/7/1973.
  83. ^ Quyết định 140-BT ngày 29/06/1977 về việc thành lập thị trấn Bỉm Sơn trực thuộc tỉnh Thanh Hóa do Bộ trưởng Phủ Thủ tướng ban hành.
  84. ^ Quyết định 177-CP ngày 05/07/1977 về việc hợp nhất và điều chỉnh địa giới một số huyện thuộc tỉnh Thanh Hóa do Hội đồng Chính phủ ban hành.
  85. ^ Quyết định 267-CP ngày 23/10/1978 điều chỉnh địa giới một số xã và thị trấn thuộc tỉnh Thanh Hóa do Hội đồng Chính phủ ban hành.
  86. ^ Quyết định 51-CP ngày 17/02/1979 về việc hợp nhất xã Định Công và xã Định Thành thuộc huyện Thiệu Yên, tỉnh Thanh Hóa thành một xã do Hội đồng Chính phủ ban hành.
  87. ^ Quyết định số 278/QĐ-CP ngày 29/8/1980.
  88. ^ Quyết định số 102-HĐBT ngày 2-10-1981 của Hội đồng Bộ trưởng về việc phân vạch địa giới của một số xã thuộc tỉnh Thanh Hoá.
  89. ^ Quyết định số 157-HĐBT ngày 18/12/1981 về việc thành lập hai thị xã thuộc tỉnh Thanh Hoá.
  90. ^ Quyết định số 149-HĐBT ngày 30 tháng 8 năm 1982 của Hội đồng Bộ trưởng về việc phân vạch địa giới một số huyện và đổi tên huyện Đông Thiệu thuộc tỉnh Thanh Hoá.
  91. ^ Quyết định số 111-HĐBT ngày 29/9/1983.
  92. ^ Quyết định số 163-HĐBT ngày 14/12/1984 của Hội đồng Bộ trưởng.
  93. ^ Quyết định số 04-HĐBT ngày 05/01/1987.
  94. ^ Quyết định số 19-HĐBT ngày 29/02/1988 của Hội đồng Bộ trưởng.
  95. ^ Quyết định số 99-HĐBT ngày 03/6/1988 của Hội đồng Bộ trưởng.
  96. ^ Quyết định số 138-HĐBT ngày 23/12/1988 của Hội đồng Bộ trưởng.
  97. ^ Quyết định số 124-HĐBT ngày 14/9/1989 của Hội đồng Bộ trưởng.
  98. ^ Qụyết định số 519-HĐBT ngày 23/11/1990 của Hội đồng Bộ trưởng.
  99. ^ Quyết định số 66-TCCP ngày 07/02/1991.
  100. ^ Quyết định số 65-TCCP ngày 07/02/1991.
  101. ^ Quyết định số 185-TCCP ngày 13/4/1991 của Bộ trưởng - Trưởng ban Tổ chức cán bộ Chính phủ.
  102. ^ Quyết định số 49-TCCP ngày 28/01/1992 của Bộ trưởng - Trưởng ban Tổ chức cán bộ Chính phủ.
  103. ^ Nghị định 37-CP ngày 01/05/1994 về việc thành lập thành phố Thanh Hoá thuộc tỉnh Thanh Hóa.
  104. ^ Nghị định số 55-CP ngày 28/6/1994.
  105. ^ Quyết định số 92-CP ngày 23/8/1994 của Chính phủ.
  106. ^ Nghị định số 04-CP ngày 25/11/1994.
  107. ^ Nghị định số 85-CP ngày 06/12/1995.
  108. ^ Nghị định 72-CP ngày 18/11/1996 về việc điều chỉnh địa giới hành chính các huyện Quan Hoá, Như Xuân, Đông Sơn, Thiệu Yên thuộc tỉnh Thành Hoá.
  109. ^ Nghị định 65/1999/NĐ-CP ngày 05/08/1999 về việc điều chỉnh địa giới hành chính để thành lập xã, thị trấn thuộc các huyện Quan Sơn, Mường Lát, Như Xuân và Thọ Xuân, tỉnh Thanh Hóa.
  110. ^ Nghị định 63/2000/NĐ-CP về việc thành lập thị trấn huyện lỵ huyện Thiệu Hoá, tỉnh Thanh Hoá.
  111. ^ Nghị định 44/2002/NĐ-CP về việc thành lập các phường thuộc thành phố Thanh Hoá, thị xã Bỉm Sơn và thị trấn Bến Sung thuộc huyện Như Thanh, tỉnh Thanh Hoá.
  112. ^ Nghị định 131/2003/NĐ-CP về việc thành lập thị trấn thuộc các huyện Mường Lát, Quan Sơn và Hoằng Hoá, tỉnh Thanh Hoá.
  113. ^ Nghị định số 15/2004/NĐ-CP ngày 09 tháng 01 năm 2004 của Chính phủ về việc giải thể thị trấn nông trường để thành lập xã, thị trấn thuộc các huyện Ngọc Lặc, Thạch Thành, Cẩm Thủy, Như Xuân, Nông Cống, tỉnh Thanh Hóa.
  114. ^ Nghị định số 40/2006/NĐ-CP ngày 21 tháng 4 năm 2006 của Chính phủ về việc thành lập thị trấn Nhồi thuộc huyện Đông Sơn, tỉnh Thanh Hoá.
  115. ^ Nghị định số 38/2008/NĐ-CP ngày 03 tháng 4 năm 2008 của Chính phủ về việc giải thể các xã Xuân Mỹ, Xuân Liên và Xuân Khao (vùng lòng hồ chứa nước Cửa Đặt) thuộc huyện Thường Xuân, tỉnh Thanh Hoá và điều chỉnh địa giới hành chính các xã giải thể
  116. ^ Nghị định số 11/NĐ-CP ngày 23 tháng 12 năm 2008 của Chính phủ điều chỉnh địa giới hành chính xã, thành lập thuộc huyện Mường Lát, Quan Sơn, tỉnh Thanh Hoá
  117. ^ Nghị quyết số 52/NQ-CP ngày 15 tháng 10 năm 2009 của Chính phủ về việc giải thể thị trấn nông trường Thống Nhất; điều chỉnh địa giới hành chính xã để thành lập thị trấn Thống Nhất thuộc huyện Yên Định và mở rộng địa giới hành chính thị trấn Bút Sơn thuộc huyện Hoằng Hoá, tỉnh Thanh Hoá.
  118. ^ Nghị quyết số 61/NQ-CP ngày 08 tháng 12 năm 2009 của Chính phủ về việc điều chỉnh địa giới hành chính xã để thành lập phường thuộc thị xã Bỉm Sơn, thành lập phường thuộc thị xã Sầm Sơn, tỉnh Thanh Hoá.
  119. ^ Nghị quyết số 05/NQ-CP của Chính phủ về việc điều chỉnh địa giới hành chính các huyện Hoằng Hóa, Thiệu Hóa, Đông Sơn và Quảng Xương để mở rộng địa giới hành chính thành phố Thanh Hóa và thành lập các phường thuộc thành phố Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa.
  120. ^ Nghị quyết số 99/NQ-CP ngày 19/08/2013 của Chính phủ về việc thành lập các phường: Đông Cương, Đông Hương, Đông Hải, Quảng Hưng, Quảng Thành, Quảng Thắng thuộc thành phố Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa.

Ghi chú[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Huyện Tĩnh Gia ngày nay có thể thuộc huyện Cư Phong hoặc Hàm Hoan thời thuộc Hán.
  2. ^ Đào Duy Anh viết nhầm Như Xuân thành Nghi Xuân. Năm 1996, huyện Như Xuân được chia thành hai huyện Như Xuân và Như Thanh. Nhận định của Đào Duy Anh là tự mâu thuẫn vì ở trên, Đào Duy Anh cho rằng huyện Kiến Sơ và huyện Phú Lạc ngày nay có thể là khu vực Thạch Thành, Vĩnh Lộc, Hà Trung, tức là phía bắc Thanh Hóa, trong khi huyện Tùng Nguyên được tách ra từ huyện Kiến Sơ lại nằm ở phía nam Thanh Hóa (Nông Cống, Như Xuân).
  3. ^ Đào Duy Anh (sách đã dẫn, tr 77) tự mâu thuẫn khi cho rằng huyện Trạm Ngô nằm gần các huyện Tư Phố và Di Phong và tương ứng với một phần huyện Nhật Nam đời Đường. Trong khi đó, các huyện Tư Phố và Di Phong tương ứng với các huyện nam sông Mã từ Yên Định xuống đến Quảng Xương, còn huyện Nhật Nam đời Đường thì tương ứng với Thạch Thành, Vĩnh Lộc, Hà Trung ngày nay.
  4. ^ Đào Duy Anh cho rằng huyện Long An vốn là huyện Cao An đời Tấn, huyện Kiến Sơ đời Ngô (Tam Quốc) nhưng chính ông lại cũng viết rằng huyện Cao An mới lập ra từ thời nhà Tống.
  5. ^ Đào Duy Anh cho rằng huyện Lương Giang bao gồm cả phần hữu ngạn sông Chu thuộc huyện Thiệu Hóa ngày nay, tuy nhiên cũng theo Đào Duy Anh trong sách đã dẫn (tr 194) thì năm 1900, phần đất nói trên mới được tách khỏi huyện Đông Sơn để sáp nhập vào huyện Thiệu Hóa.
  6. ^ Nhiều địa danh cùng thời cũng thay đổi như chợ Đông Hoa đổi thành chợ Đông Ba, cầu Hoa đổi thành Cầu Bông.
  7. ^ Đào Duy Anh (sđd, tr 194) cho rằng huyện Thụy Nguyên tương ứng với các huyện Thiệu Hóa và Ngọc Lặc ngày nay, nhưng trên thực tế giữa 2 huyện này còn có huyện Thọ Xuân.